BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
TIỂU LUẬN MÔN:
THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Đề tài : “ Tìm hiểu thị trường cho thuê văn phòng khu vực Quận 1,
TP.Hồ Chí Minh ”
Nhóm SVTH :
1.PHẠM ANH TÚ MSSV:
2.TRƯƠNG QUỐC THỊNH MSSV:
3.NGUYỄN ĐĂNG KHOA MSSV:
TP. Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2011
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
1
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
2
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
TP. HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Q.TB Quận Tân Bình
P.13
TLSX Tư liệu sản xuất
TTBĐS Thị trường Bất động sản
BĐS Bất động sản
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
ĐH
CĐ
KTX
SVĐ Sân vận động
KCN Khu công nghiệp
AN-TT An ninh trật tự
- Khảo sát thị trường thực tế, chính xác, khách quan
- Số liệu thu thập chính xác, phản ánh đ_ng thực tế
- Phân tích đánh giá thông tin khoa học, logic
3. Nội dung – phương pháp
3.1 Nội dung
- Thu thập, đánh giá, phân tích các thông tin cao ốc văn phòng tại khu vực Quận
1, TP. Hồ Chí Minh
- Phân tích khả năng, tiềm năng cung cấp cao ốc văn phòng tại khu vực Quận 1,
TP. Hồ Chí Minh
- Phân tích đánh giá nhu cầu cao ốc văn phòng tại khu vực Quận 1, TP. Hồ Chí
Minh
- Phân tích đánh giá thị trường cao ốc văn phòng khu vực Quận 1, TP. Hồ Chí
Minh
- Xu hướng phát triển của thị trường cao ốc văn phòng khu vực Quận 1, TP. Hồ
Chí Minh
3.2 Phương pháp
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thống kê
PHẦN I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1.Tổng quan
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Bất động sản và Thị trường bất động sản
a) Khái niệm Bất động sản
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
4
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi BĐS gồm đất
đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi
nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí
phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm BĐS và động
sản”.
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
5
Như vậy, khái niệm BĐS rất rộng, đa dạng và cần được quy định cụ thể bằng
pháp luật của mỗi nước và có những tài sản có quốc gia cho là BĐS, trong khi
quốc gia khác lại liệt kê vào danh mục BĐS. Hơn nữa, các quy định về BĐS
trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở mà cho đến nay chưa có các quy
định cụ thể danh mục các tài sản này.
b) Khái niệm Thị trường Bất động sản
Các chuyên gia kinh tế cũng như các nhà nghiên cứu về BĐS trong nước cũng
như quốc tế đã đưa ra một số khái niệm sau đây về TTBĐS:
- Khái niệm 1: TTBĐS là nơi hình thành các quyết định về việc ai tiếp cận được
BĐS và BĐS đó được sử dụng như thế nào và vì mục đích gì.
- Khái niệm 2: TTBĐS là đầu mối thực hiện và chuyển dịch giá trị của hàng hoá
BĐS.
- Khái niệm 3: TTBĐS là “nơi” diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng,
cho thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan như môi giới, tư vấn… giữa các
chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước đối với TTBĐS có tác
động quyết định đến sự th_c đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt động kinh doanh
đối với TTBĐS.
- Khái niệm 4: TTBĐS là "nơi" tiến hành các giao dịch về BĐS gồm chuyển
nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ hỗ trợ như môi giới, tư vấn
Như vậy, hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về TTBĐS, dưới góc độ của
một đề tài khoa học, sau khi tổng hợp các kết quả nghiên cứu, ch_ng tôi đề xuất
một số khái niệm về TTBĐS như sau:
TTBĐS là quá trình giao dịch hàng hoá BĐS giữa các bên có liên quan. Là
“nơi” diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các
dịch vụ có liên quan như trung gian, môi giới, tư vấn liên quan đến BĐS như
trung gian, môi giới, tư vấn giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò
quản lý nhà nước có tác động quyết định đến sự th_c đẩy phát triển hay kìm hãm
hoạt động kinh doanh trên TTBĐS.
thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa” được mấy lần tuổi thọ kinh tế. Thực tế, các
nước trên thế giới đã chứng minh tuổi thọ kinh tế của BĐS có liên quan đến tính
chất sử dụng của BĐS đó. Nói chung, tuổi thọ kinh tế của nhà ở, khách sạn, nhà
hát là trên 40 năm; của tuổi thọ kinh tế nhà xưởng công nghiệp, nhà ở phổ thông
là trên 45 năm v.v Chính vì tính chất lâu bền của hàng hoá BĐS là do đất đai
không bị mất đi, không bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng
vào nhiều mục đích khác nhau, nên hàng hoá BĐS rất phong ph_ và đa dạng,
không bao giờ cạn.
- Tính chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau:
BĐS chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể bị tác
động của BĐS khác. Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cáo giá trị sử dụng của
BĐS trong khu vực đó. Trong thực tế, việc xây dựng BĐS này làm tôn thêm vẻ
đẹp và sự hấp dẫn của BĐS khác là hiện tượng khá phổ biến.
- Các tính chất khác:
+ Tính thích ứng:
Lợi ích của BĐS được sinh ra trong quá trình sử dụng. BĐS trong quá trình sử
dụng có thể điều chỉnh công năng mà vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó,
đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong việc thoả mãn
nhu cầu sinh hoạt, sản xuất-kinh doanh và các hoạt động khác.
+ Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý:
Hàng hoá BĐS đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng
hoá thông thường khác. Việc đầu tư xây dựng BĐS rất phức tạp, chi phí lớn, thời
gian dài. Do đó, BĐS đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng.
+ Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội:
Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá
thông thường khác. Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là
rất khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó.
Yếu tố tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh v.v
chi phối nhu cầu và hình thức BĐS.
tuần tự trải qua từng nấc, từng cung bậc như trên. Cũng không nhất thiết các cấp
độ phát triển thị trường phải có giai đoạn như nhau về thời gian. Cũng không
nhất thiết, các cấp độ phát triển của thị trường phải là kết th_c giai đoạn này rồi
mới chuyển sang giai đoạn khác. Các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đã phát
triển qua cả 4 cấp độ từ rất lâu. Chẳng hạn như Úc và New Zealand, các tài sản
BĐS đã được chứng khoán hoá với tỷ lệ rất cao. Các nước có nền kinh tế chuyển
đổi đều áp dụng chủ yếu là liệu pháp “sốc”, tức là áp dụng đồng loạt tất cả các cơ
chế, chính sách theo chuẩn của các nền kinh tế thị trường nên hiện nay, TTBĐS
cũng đã ở cấp độ tài chính hoá. Trung Quốc cũng đang chuẩn bị chuyển qua giai
đoạn tài chính hoá TTBĐS.
-Trong mỗi cấp độ phát triển của TTBĐS, quá trình vận động của thị trường đều
có chu kỳ dao động tương tự như nhiều thị trường khác.
Chu kỳ dao động của TTBĐS gồm có 4 giai đoạn: phồn vinh (sôi động), suy
thoái (có dấu hiệu chững lại), tiêu điều (đóng băng) và phục hồi (nóng dần lên có
thể gây “sốt”). Chẳng hạn như TTBĐS nước Mỹ trong khoảng 1 thế kỷ (1870-
1973) trải qua 6 chu kỳ dao động, bình quân mỗi chu kỳ khoảng 18 năm; TTBĐS
nước Nhật từ năm 1956 đến nay trải qua 4 chu kỳ, mỗi chu kỳ khoảng 10 năm;
thị trường BĐS Hồng Kông từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã có 8 chu
kỳ dao động, chu kỳ ngắn hạn là từ 6-7 năm, dài là 9-10 năm, trung bình là 8-9
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
8
năm. TTBĐS Trung Quốc tuy hình thành chưa lâu nhưng từ năm 1978 đến nay
cũng đã có 4 chu kỳ dao động, trong đó đáng ch_ ý có chu kỳ cực ngắn (1992-
1994), tăng trưởng “phi mã” trong 2 năm 1992- 1993 rồi suy sụp rất nhanh trong
năm 1994.
- TTBĐS mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc và không tập trung, trải rộng trên
khắp các vùng miền của đất nước.
BĐS là một loại hàng hoá cố định và không thể di dời về mặt vị trí và nó chịu
ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu. Trong khi đó, tâm lý, tập
quán, thị hiếu của mỗi vùng, mỗi địa phương lại khác nhau. Chính vì vậy, hoạt
triển chung. BĐS có tính dị biệt, tin tức thị trường hạn chế, đất đai trên thị trường
sơ cấp phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước nên TTBĐS là thị trường cạnh
tranh không hoàn hảo.
Mặt khác, TTBĐS không hoàn hảo còn do tính chất không tái tạo được của
đất, nên thị trường BĐS mang tính độc quyền, đầu cơ nhiều hơn các thị trường
hàng hoá khác.
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
9
-TTBĐS có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính. Động thái phát
triển của thị trường này tác động tới nhiều loại thị trường trong nền kinh tế.
BĐS là tài sản đầu tư trên đất bao gồm cả giá trị đất đai sau khi đã được đầu
tư. Mà đầu tư tạo lập BĐS thường sử dụng một lượng vốn lớn với thời gian hình
thành BĐS cũng như thu hồi nguồn vốn dài. Khi BĐS tham gia lưu thông trên thị
trường BĐS, các giá trị cũng như các quyền về BĐS được đem ra trao đổi, mua
bán, kinh doanh v.v giải quyết vấn đề lưu thông tiền tệ, thu hồi vốn đầu tư và
mang lại lợi nhuận cho các bên giao dịch. Điều này chứng tỏ thị trường BĐS là
đầu ra quan trọng của thị trường vốn.
Ngược lại, TTBĐS hoạt động tốt là cơ sở để huy động được nguồn tài chính
lớn cho phát triển kinh tế thông qua thế chấp và giải ngân (Theo thống kê, ở các
nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng BĐS chiếm 80%
trong tổng lượng vốn cho vay).
Ngoài ra, TTBĐS còn có quan hệ trực tiếp với thị trường xây dựng và qua đó
mà bắc cầu tới các thị trường vật liệu xây dựng và đồ nội thất, thị trường lao
động v.v dao động của thị trường này có ảnh hưởng lan toả tới sự phát triển ổn
định của nền kinh tế quốc dân.
1.1.3 Phân loại Bất động sản và Thị trường Bất động sản
a) Phân loại Bất động sản
Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, bất động sản
có thể phân thành ba loại: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS đầu tư xây dựng và
+ TTBĐS tư liệu tiêu dùng: gồm TTBĐS nhà ở, BĐS thương mại, văn phòng,
các cửa hàng bán lẻ v.v
+ Vừa là TTBĐS TLSX vừa là TTBĐS tư liệu tiêu dùng như: đường sá, cầu cống
v.v
- Căn cứ vào khu vực có BĐS:
+ Khu vực đô thị: thị trường đất ở đô thị, thị trường nhà ở đô thị, thị trường BĐS
nhà xưởng công nghiệp, thị trường BĐS thương mại, thị trường BĐS công cộng
v.v
+ Khu vực nông thôn: thị trường đất ở nông thôn, thị trường đất nông nghiệp, thị
trường đất lâm nghiệp, thị trường nhà ở nông thôn, thị trường đất phi nông
nghiệp (đất xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc, cửa hàng kinh doanh v.v ), thị
trường BĐS nhà xưởng sản xuất nông nghiệp, thị trường BĐS công cộng v.v
+ Khu vực giáp ranh: thị trường đất ở, nhà ở; thị trường đất nông nghiệp; thị
trường BĐS nhà xưởng công nghiệp, sản xuất nông nghiệp; thị trường BĐS công
cộng v.v
- Căn cứ theo công dụng của BĐS:
+Thị trường Đất đai (nông nghiệp và phi nông nghiệp)
+ Thị trường công trình thương nghiệp (trụ sở, văn phòng, khách sạn, trung tâm
thương mại, cửa hàng ) và công trình công cộng (giao thông, thuỷ lợi, y tế, văn
hoá )
+ Thị trường công trình công nghiệp (nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, KCN,
KCX )
+ Thị trường Nhà ở (đô thị và nông thôn)
+ Thị trường công trình di tích lịch sử, v.v
-Căn cứ theo hoạt động trên thị trường BĐS (tính chất kinh doanh):
+ Thị trường mua bán chuyển nhượng BĐS
+ Thị trường đấu giá quyền sử dụng đất
+ Thị trường cho thuê BĐS
+ Thị trường thế chấp và bảo hiểm BĐS
+ Thị trường dịch vụ BĐS: bao gồm các hoạt động dịch vụ môi giới BĐS, tư vấn
nhất trong thời gian qua.
Thị trường cho thuê cao ốc văn phòng tại Quận 1, TP. Hồ Chí Minh tăng
mạnh về nguồn cung, khách thuê có nhiều sự lựa chọn khiến giá cho thuê, công
suất thuê ở phân kh_c này giảm. Tổng nguồn cung trong quý I/2011 tăng 7% so
với quý 4/2010, đạt 1.1 triệu m2 sàn. Trong đó văn phòng hạng B dẫn đầu nguồn
cung, chiếm tới 46% thị phần, tăng 5% so với quý trước.
Theo ông Trương An Dương, Trưởng Bộ phận Nghiên cứu của Savills tại TP.
Hồ Chí Minh, việc hạn chế tín dụng của nhà nước vào BĐS sẽ ảnh hưởng đến
các dự án cao ốc văn phòng cho thuê, có thể làm giãn tiến độ, thậm chí ngưng thi
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
12
công đối với một số dự án đang triển khai. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nguồn
cung trong thời gian tới.
Hiện nay, cao ốc văn phòng cho thuê tại Quận 1, TP. Hồ Chí Minh phát triển
mạnh. Trong khi đó thị trường bán lẻ ở thành phố lại phát triển ổn định. Trong
quý I năm nay, nguồn cung của phân kh_c này tăng 1% (khoảng 630,000 m2 sàn)
so với quý IV/2010. Công suất cho thuê vẫn giữ ở mức khá cao, 90% (giảm 3%
so với quý cuối năm ngoái). Giá thuê trung bình đạt 60USD/m2/tháng.
Hình3. Văn phòng cho thuê
Dự báo trong 3-4 năm tới, sẽ có khoảng 1 triệu m2 sàn tham gia vào thị
trường ở phân kh_c này. Mặt bằng bán lẻ tại Quận 1, TP. Hồ Chí Minh phát triển
mạnh.
Cũng trong báo cáo của Savills về TTBĐS quý I/2011, phân kh_c khách sạn
có giá thuê cũng như công suất cho thuê cao. Một số khách sạn mới ra đời góp
phần làm tăng nguồn cung (tăng 7% so với quý trước và 16% so với cùng kỳ
năm ngoái). Trong thời gian tới, do chính sách hỗ trợ tài chính từ các ngân hàng
bị thu hẹp, nhiều dự án khách sạn có thể sẽ bị giãn tiến độ, hoặc thay đổi mục
đích phát triển.
Ở phân kh_c căn hộ để bán, nguồn cung tăng mạnh với gần 100 dự án, cung
cấp cho thị trường sơ cấp khoảng 18,500 căn hộ, tăng 9% so với quý trước, gấp
trạng mất cân đối, nhu cầu thuê văn phòng tăng cao trong khi nguồn cung có tăng
nhưng rất hạn chế. Theo kết quả khảo sát của công ty BĐS Sơn Hà, trong quý I/
2011, tổng nguồn cung văn phòng hiện tại đạt gần 480.000m2 mặt sàn văn
phòng, trong đó loại A chiếm 16,8%, loại B chiếm 43,56% và loại C là 39,64%.
Tỷ suất lấp đầy của các cao ốc đạt trên 95%. Mức giá thuê văn phòng tiếp tục
tăng, giá thuê trung bình loại A là 60-80USD/m2/tháng, loại B là 35-
60USD/m2/tháng, loại C 20-35USD/m2/tháng (giá này đã bao gồm thuế VAT và
phí dịch vụ).
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
14
Trước tình hình nguồn cung văn phòng rất khan hiếm, nhà đầu tư đã nhanh
chóng triển khai xây dựng các cao ốc văn phòng với quy mô khác nhau từ vài
trăm m2 đến vài trục ngàn m2. Hiện có trên 100 cao ốc văn phòng đang được
triển khai xây dựng, con số này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Theo kết quả
khảo sát của công ty BĐS Sơn Hà, nguồn cung văn phòng trong thời gian tới như
sau:
-Năm 2011-2012 sẽ có nhiều cao ốc văn phòng đi vào hoạt động có quy mô vừa
và nhỏ đạt chuẩn loại B, C và một lượng nhỏ văn phòng loại A. Vì vậy, thị
trường văn phòng loại B, C sẽ giảm được áp lực về nguồn cung ước đạt khoảng
311.632m2 gần bằng với nguồn cung văn phòng hiện tại của phân kh_c này.
Theo đánh giá thị trường hiện nay của công ty BĐS Sơn Hà, nguồn cung của
phân kh_c thị trường này tới thời điểm trên có thể tăng cao hơn ước tính hiện tại
do sẽ có một số dự án sẽ được triển khai xây dựng trong thời gian sắp tới.
-Theo kết quả khảo sát của công ty BĐS Sơn Hà, nguồn cung văn phòng loại A
sẽ tăng mạnh trong năm 2011-2012 do sẽ có nhiều dự án với quy mô lớn đạt
chuẩn loại A đi vào hoạt động, ước đạt gần 250.000m2 mặt sàn văn phòng. Do
vậy, thị trường loại A vẫn còn đang rất sôi động từ nay đến cuối năm 2011.
Nguồn cung văn phòng loại A:
Thị trường văn phòng cho thuê hiện có các cao ốc văn phòng đạt chuẩn loại A.
Cụ thể:
17
Hình9. Tòa nhà Sài Gòn Tower
Trước tình hình nguồn cung không tăng trong khi nhu cầu tăng mạnh dẫn đến
tình trạng giá thuê tăng cao qua các năm, giá thuê văn phòng trung bình hiện nay
của các cao ốc loại A đạt 65USD/m2/tháng (bao gồm VAT và phí dịch vụ). Công
suất cho thuê đạt 100%.
Bảng báo giá:
Gói thuê Phần thuê Diện tích Mô tả Giá thuê/tháng
Gói VP1
Toàn bộ tòa
nhà
280 m2
Gồm 1 trệt, 1 lửng, 3 lầu, 1 sân
thượng (4 phòng khách, phòng
bếp, 5 toilet, 1 chỗ để xe hơi)
1800 $
Gói VP2
Tầng trệt +
Lửng
100 m2
Gồm 1 trệt + 1lửng (1 phòng
khách + 1 Phòng bếp + chỗ để
xe hơi+ 1 Toilet
80 m2
Gồm 2 Toilet + Phòng Giám
Đốc + Phòng làm việc + Sân
Thựơng
600$
Nguồn cung văn phòng loại B:
Hình10. Cao ốc văn phòng loại B
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
19
-Tổng nguồn cung văn phòng hiện hữu của cao ốc văn phòng loại B đạt
206.977m2 mặt sàn văn phòng. Hiện công suất cho thuê các cao ốc văn phòng
này đạt 98%, giá thuê trung bình đạt 32USD/m2/tháng (bao gồm thuế VAT và
phí dịch vụ), tăng thêm 2 – 5 USD/m2/tháng so với năm 2009.
-Theo kết quả khảo sát của công ty BĐS Sơn Hà, phân kh_c thị trường văn
phòng loại B vẫn đang rơi vào tình trạng cung cầu mất cân đối. Tuy nhiên, văn
phòng loại B không chịu áp lực lớn về nguồn cung so với văn phòng loại A do
hầu hết mỗi năm nguồn cung văn phòng loại B cũng được tăng thêm. Tuy mức
tăng không lớn nhưng cũng góp phần làm giảm áp lực lớn về nguồn cung văn
phòng đang khan hiếm hiện nay. Cụ thể, năm 2009 nguồn cung tăng thêm
89.923m2 mặt sàn, tăn 58%. Năm 2010, tăng thêm 128.816m2 mặt sàn, tăng
53% góp phần làm tổng nguồn cung văn phòng loại B tính tới thời điểm năm
2010 đạt 372.993m2.
Nguồn cung văn phòng loại C:
Hình11. Cao ốc văn phòng loại C
-Tổng nguồn cung văn phòng loại C đạt 172.454m2. Giá thuê trung bình loại C
đạt 25USD/m2/tháng (bao gồm thuế VAT và phí dịch vụ), tăng 1 – 3
USD/m2/tháng so với năm 2009. Công suất thuê phòng đạt 95%.
đạt công suất 100% trên tổng toàn bộ các tòa nhà vì các cao ốc mới đưa vào thị
trường cần cho một thời gian nhất định để phủ kín khách thuê chỉ có những cao
ốc có vị trí trắc địa mới có thể cho thuê ngay cả khi tòa nhà chưa đi vào hoạt
động. Nhưng điều này cũng không thể phủ định thị trường văn phòng loại B và C
không sôi động vì hầu hết các cao ốc hiện hữu loại này cũng đạt công suất 100%,
còn tính trên tổng thị trường 2 loại văn phòng này thì công suất cho thuê cũng đạt
trên 95%.
Sau đây là một số lý do khiến nhu cầu thuê văn phòng tăng mạnh:
•
Các công ty nước ngoài: các công ty nước ngoài là đối tượng khách hàng
chính thuê văn phòng trong các cao ốc. Do vậy, trước tình hình đầu tư
nước ngoài ngày càng tăng, văn phòng đại diện của các công ty nước
ngoài cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Thể hiện nhu cầu thuê văn phòng
của các đối tượng này sẽ tăng lên. Điều này góp phần làm tăng tổng nhu
cầu cho thị trường văn phòng.
•
Các công ty mới thành lập: ngày càng có nhiều các công ty mới thành lập
thuê văn phòng trong các cao ốc nhằm xây dựng hình ảnh tốt trong giao
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
21
dịch với khách hang cũng như tận dụng uy tín của tòa nhà làm tăng sự tin
tưởng của đối tác với công ty. Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập WTO, vấn
đề này càng được các công ty quan tâm hơn bao giờ hết. Theo thống kê,
số lượng các công ty mới thành lập tăng mạnh qua các năm. Do vậy,
nguồn cầu văn phòng dành cho các công ty mới thành lập chắc chắn sẽ
tăng cao trong thời gian tới.
Chuyển văn phòng từ Villa, nhà mặt phố sang các cao ốc văn phòng cho thuê:
đối với các công ty hiện hữu đang thuê nhà mặt phố, biệt thự làm văn phòng
cũng bắt đầu hình thành nhu cầu thuê cao ốc làm văn phòng để có thể tận dụng
các tiện ích của các cao ốc mang lại, cũng như gia tăng uy tín của công ty trước
cao ốc hoặc thuê nguyên một mặt sàn. Do vậy, một số cao ốc có vị trí đẹp tuy
chưa chính thức đi vào hoạt động nhưng đã có khách thuê trọn tòa nhà hoặc có
nhiều khách đăng kí đặt chỗ trước.
Qua số liệu thu thập được cho thấy, nhu cầu thuê văn phòng của các công ty
rất lớn. Nhìn chung, các công ty đều có xu hướng thuê văn phòng với diện tích
lớn hơn so với diện tích văn phòng hiện tại do quy mô của các công ty sẽ lớn
mạnh trong những năm tiếp theo đó. Tuy nhiên, trong ngắn hạn sự thay đổi này
không lớn. Bằng chứng, nhu cầu thuê văn phòng của các công ty có thay đổi theo
chiều hướng tăng lên nhưng không đáng kể. Cụ thể, diện tích từ 81 – 110m2 vẫn
chiếm đa số đạt 27%, từ 110 – 140m2 chiếm 12,5%, từ 141 – 170m2 chiếm
11,5%, từ 171 – 230m2 chiếm 22%.
PHẦN 2: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
2.1 Kết luận
Trong những năm gần đây thị trường cao ốc văn phòng cho thuê đã không
ngừng phát triển và tăng trưởng mạnh, để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư
kinh doanh vào TTBĐS ngày càng trở thành một đóng góp rất quan trọng đối với
đất nước. Phù hợp với chính sách phát triển của nhà nước về phân bổ nguồn đất
đai cũng như các quyền và nghĩa vụ người sử dụng đất và đầu tư kinh doanh
TTBĐS.
Ngoài việc đầu tư thu về lợi nhuận cho mình mà còn tạo được điều kiện
thuận lợi cho người có nhu cầu kinh doanh. Qua thực tế thu thập thông tin ta thấy
được khả năng phát triển của thị trường cho thuê cao ốc văn phòng là rất phù hợp
với xu hướng thời đại ngày nay. Con người có bước phát triển mới ngoài việc cải
tạo đất trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thì còn biết đầu tư tạo lập cơ sở hạ
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
23
tầng, công trình xây dựng trên đất để nâng cao giá trị của đất. Mặt khác còn th_c
đẩy sự phát triển của của nền kinh tế trong nước.
2.2 Kiến nghị
Trước tình hình khan hiếm nguồn cung cao ốc văn phòng, các nhà đầu tư
còn phục vụ cho việc học tập và trang bị kiến thức cần thiết cho những bạn
trẻ thích lĩnh vực đầu tư kinh doanh vào TTBĐS. Trong quá trình nghiên cứu
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
24
không thể tránh được thiếu sót mong quý thầy cô đóng góp thêm ý kiến cho
bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Nhóm 14 GVHD: Nguyễn Văn Cương
25