Luận văn tốt nghiệp " Quá trình hòa nhập AFTA của các doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp " phần 2 - Pdf 19


32

thích hợp, đáp ứng thị trường nước ngoài, các yếu tố cần thiết trong đổi mới
cơ cấu phù hợp với vốn, kỹ thuật công nghệ và thị trường.
Theo tinh thần đó, cần xem xét việc gì có thể làm được sớm cần làm
trong thời gian ngắn nhất, như việc chế biến nông sản chẳng hạn, không cần
vốn lớn chỉ cần thị trường chấp nhận và có lợi thấ so sánh, có lãi, nên có thể
làm trước.
Việt Nam đã tham gia AFTA như đã trình bày có tác đọng mạnh mẽ
đến toàn Bộ Thương Mại, đầu tư cơ cấu sản xuất và cả toàn bộ qua trình
phát triển kinh tế của Việt Nam.
Xem xét trên khía cạnh một doanh nghiệp tác động của AFTA là xem
xát về khả năng cạnh tranh ở trong nước, thị trường ASEAN và thị trường
ngoài ASEAN từ những cơ hội và thách thức mà AFTA mở ra. CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY GIẦY THUỴ KHUÊ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
AFTA

I. THỰC TRẠNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Giầy Thụy Khuê.
1.1. Lịch sử hình thành.
Công ty Giầy Thụy Khuê là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở
công nghiệp – Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ là: sản xuất và kinh doanh
mặt hàng giày dép các loại.
Địa chỉ của Công ty Giầy Thụy Khuê được đặt ở 2 nơi:
* Văn phòng giao dịch của công ty: Số 152 phố Thuỵ Khuê Hà Nội.
* Cơ sở sản xuất: Khu A2 xã phù diễn – huyện Từ Liêm – Hà Nội.

để mở rộng sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó Công ty Giầy Thụy Khuê rất
chú trọng tời nguồn nhân lực, công ty đã xác định lao động là yếu tố hàng
đầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu như đảm bảo chất lượng lao động
sẽ mang lại kết quả cao, số lương và chất lượng lao động sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến năng suất hiệu quả máy móc thiết bị của công ty. Do đó những năm
qua công ty không ngừng lớn mạnh cả về số lương và chất lượng. Hiện nay
tổng số lao động của công ty là 2156 người trong đó có 87% lượng lao động
trế khoẻ, có trình độ tiếp thu những công nghề sản xuất tiên tiến. Trong nhũng
năm gần đây công ty đã không ngừng nâng cao và cải thiện điều kiện làm
việc. Đối với các phòng ban và nghiệp vụ nhân viên được làm việc trong điều
kiện khá tốt. Có đày đủ thiết bị văn phòng kể cả hệ thống thông tin liên lạc,
từng phòng có gắn máy điều hoà nhiệt độ. Đối với công nhân sản xuất trực

34

tiếp được làm việc trong môi trường an toàn có đủ hệ thống chiếu sáng, quạt
máy và đủ m,áy móc chuyên dùng thay thế cho những công việc nặng nhọc.
Hiện nay công ty có 6 dây chuyền sản xuất và 20 0000m
2
nhà xưởng.
Về thu nhập của người lao động: đây là một trong những mục tiêu cơ
bản hàng đầu của công ty. Trong những năm gần đây công ty không ngừng
nâng cao và cải tiến đời sống người lao động, lương tháng bình quân năm
1995 là 404.000 đồng, năm 1996 là 460.000 đồng năm 1997 là 535.000 đồng
năm 1998 là 596.000đồng năm 1999 là 600.000 đồng.
Như vậy do chú trọng tới việc đầu tư máu móc thiết bị hiện đại và
không ngừng phát triển nguồn nhân lực của mình, nên từ chỗ công ty chỉ sản
xuất được mặt hàng giày dép cấp thấp chủ yếu têu thụ thị trường nội địa, đến
nay sản phẩm của công ty đa dạng phong phú về màu sắc, chủng loại , chất
lượng sản phẩm được nâng cao, khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm từ

đô Hà Nội và ngành giày dép Việt Nam. Nhiệm vụ của công ty được thể hiện:
- Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở chủ động và tuân
thủ ngiêm chỉnh các quy định của luật pháp.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, kiến nghị và đề
xuất với Sở Công nghiệp Hà Nội giải quyết các vấn đề vướng mắc trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Tuân thủ luật pháp nhà nước về quản lý tài chính, quản lý xuất nhập
khẩu và giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện cam kết trong hợp đồng
mua bán ngoại thương và các hoạt động liên quan đến sản xuất kinh doanh
của công ty.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đồng thời tự tạo nguồn
vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư vào hoạt động đổi mới trang thiết bị tự
bù đắp chi phí, tự cân đối xuất nhập khẩu, đảm bảo thực hiện sản xuất kinh
doanh có lãi và hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước nghiên cứu thực
hiện có hiệu quả nâng cao các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm do
công ty sản xuất ra, kinh doanh làm tăng sức cạnh tranh và mở rộng doanh
thu tiêu thụ.
- Quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên để phù hợp với
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và theo kịp sự đổi mới của đất
nước.
1.3. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Xuất phát từ tình hình, đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu của thị
trường và để phù hợp với sự phát tiển của mình, công ty đã không ngừng
nâng cao, hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý. Đến nay bộ máy tổ chức quản
lýcủa công ty được chia làm 3 cấp : Công ty, Xưởng- Phân xưởng sản xuất.

36

Hệ thống lãnh đạo của Công ty bao gồm Ban giám đốc và các phòng ban
nghiệp vụ giúp việc cho giám đốc trong việc tiến hành chỉ đạo quản lý.

37 2. Kết quả kinh doanh của công ty trong giai đoạn vừa qua.
Trong những năm gần đây công ty đã đạt được nhiều thành công đáng
khích lệ. Công ty đã không ngừng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cả về số

20,42

2.Tổng
doanh
thu
Tr.
đồng
56.097

73.500

85.995

101.904

18,5 17,00

31,02

3. Tổnh
chi phí
Tr.
đồng
50.289

66030

77396

92156,8

84.000

96154,8

14,47

17,00

32,67

6.Nộp
ngân
sách
Tr.
đồng
930

1075

1247

1425,32

14,3 11,6 15,6
7. Lợi
nhuận
Tr.
Dồng
4878



569.000

600.000

700.000

16,06

11,4 16,3
10. Tỷ suất
lợi nhuận
doanh
thu
% 8,96 88,7 8,55 9,56
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm 2000 – 1997 JTK.
Mặc dù hoạt động kinh doanh trong điều kiện hết sức khố khăn, co hẹp
về tài chính, thị trường biến động , cạnh tranh gay gắt nhưng công ty đã
naqưng động trong việc thực hiện đường lối chính sách đúng đắn nên đã đạt
được những thành quả nhất định.

39

Qua biểu trên ta thấy trong 4 năm 97 – 2000 công ty đã phấn đấu thực
hiện chính sách các kết quả sản xuất kinh doanh như sau:
- Về sản lương sản phẩm sản xuất.
Năm 1998 vượt năm 1997 là 35,2% năm 1999 vượt năm 1998 là
20,4% và năm 2000 vượt năm 1999 là 0%. Như vầy, số lượng sản phẩm sản
xuất của công ty tăng nhanh qua các năm. Điều này cghững tỏ sức sản xuất
của công ty càng ngày càng được mở rộng . Có được thành tích này là do

vụ cho sản xuất vùa phục vụ cho tiêu dùng. đối tượng phục vụ của ngành giầy
rất rộng lớn bởi nhu cầu về loại sản phẩm của khách hàng rất đa dạng cho các
mục đích sử dụng sản phẩm giày là sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
của mọi đối tượng khách hàng . Mặt khác sản phẩm giày phụ thuộc nhiều vào
mục đích sử dụng và thời tiết, do đó công ty đã chú trọng sản xuất những sản
phẩm chất lượng và yêu cầu kỹ thuật cao – công nghệ phức tạp giá trị kinh tế
của sản phẩm cao.
Sản phẩm chính của công ty là giày dép các loại dùng cho xuất khẩu và
tiêu dùng nội địa ( % sản xuất làm ra dành cho xuất khẩu ) đây là mặt hàng
dân dụng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết khí hậu và mục đích sử
dụng của khách hàng .
Vì thế để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và thị hiếu của
người tiêu dùng, công ty đã tung ra thị trường những mặt hàng giày dép chủ
yếu sau:
- Giầy vải cao cấp dùng để du lịch và thể thao.
- Giày vải nữ thời trang cao cấp.
- Giày da xuất khẩu cho các loại.
- Dép giả da xuất khẩu các loại.
Do có sự cải tiến về công nghệ sản xuất cũng như làm tốt các công tác
quản lý kỹ thuật nên sản phẩm của công ty có chất lượng tương đương với sản
phẩm
Của những nước đứng đầu châu Á.
Đặc điểm sản phẩm của công ty có ảnh hưởng rất lớn trong hoạt động
nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty. Đặc biệt sản phẩm của công ty
chủ yếu là xuất khẩu, đây là một đặc điểm có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty. Đặc điểm này được thể hiện qua
biểu sau.
Biểu: Kết quả xuất khẩu của Công ty Giầy Thụy Khuê.
42
4. Thực trạng về nhân lực:
Nhân tố con người là yếu tố quyết định trong hoạt động sản xuất kinh
doanh do đó công ty đã xác định: lao động là yếu tố hàng đầu để sản xuất
kinh doanh. Nếu như đảm bảo chất lượng, số lượng lao động sẽ mang lại kết
quả cao vì yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động, đến hiệu quả của

2000 2394 88 82 3,1/6 1783 167

Ngày mới tách ra số cán bộ công nhân viên của công ty chỉ có 650
người do nhận thức được vai trò quan trọng của yếu tố lao động, nhất là đối
với sản xuất giày nên số lương lao động của công ty không ngừng tăng lên.

43

Hiện nay tổng số lao động của công ty là 2394 người trong đó 88% lực lượng
lao động của công ty là những người trẻ khoẻ có kiến thức văn hoá, tiếp thu
tốt công nghệ sản xuất tiến tiến lao động trực tiếp của công ty là 2224 người
chiếm 92,9% tổng số lao động.
Hầu hết các công nhân viên của công ty đã qua lớp đào tạo dài hạn hay
ngắn hạn của ngành. Số công nhân có trình độ tay nghề bậc 6/7 là 126 người
chiếm 5,67%trình độ bậc 5/7 là 138 người chiếm 6,2% trình độ tay nghề 3/7
là 513 người chiếm 23,06%. Số còn lại là lao động thủ công đã qua lớp đào
tạo tay nghề từ 3 – 6 tháng do công ty tổ chức. Số lao động gián tiếp là 170
người chiếm 17,1 % trong đó 88 người đã tôt nghiệp đại học . Bậc thợ bình
quân của công ty qua các năm ngày càng tăng cao chứng tỏ chất lượng lao
động càng được chú ý dào tạo, huấn luyện và nâng cao.
Về nguồn lao động thì chủ yếu thu hut từ các nguồn sau:
- Từ các trường đại học trung học và chuyên nghiệp, về làm cho các
phòng ban tài chính, phụ trách kỹ thuật tai công ty.
- Con em các cán bộ công nhân viên trong ngành tuyển dụng vào làm
tại công ty.
- Tuyển qua các trung tâm giới thiệu việc làm
Về thu nhập của con người lao động trong công ty đã không ngừng
nâng cao và cải thiện đời sống người lao động. Lương thàng trung bình của
người lao động hàng năm 1995 là 403.000 đồng, năm 1996 là 500.000 đồng,
năm 1997 là 535.000 đồng năm 1998 là 596.000 đồng năm 1999 là 600.000

Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giầy của Công ty Giầy Thụy Khuê. Nguyên vật liệu
Cao su tự nhiên Nguyên liệu hoá chất Vải, mus, chỉ, oze
Sơ luyện Hỗn luyện Bồi, vải, mus
Ra hình

Cắt Cắt may
Dán mặt gò
Gò, dán, ép

In

Lưu hoá

1. Về mặt hàng.
Sau thời kỳ Liên Xô và các nước đông âu tan rã, công ty đã gặp rất
nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm trước đây chủ yếu là mũ, giầy
vải giầy bảo hộ.
Đòi hỏi đặt ra đối với công ty trong thời gian đó là rất lớn.
Thứ nhất là về công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất của công ty hết
sức lạc hậu. Mà trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt một
doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải tìm cách nhằm thoả mãn nhu cầu của
khách hàng một cách tối ưu. Muốn cạnh tranh thắng lợi thì chất lượng sản
phẩm phẩi tốt giá không quá cao có nghĩa là phải có giá thành thấp , để thực

46

hiện được điều này thì một điều kiện hết sức quan trọng là phải có công nghệ
tiên tiến . Nhiều giải pháp lớn được đề ra và thực hiện trong đó có giải pháp
về sản xuất kết hợp và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới về sản
xuất là biện pháp hàng đầu. Công ty đã hợp tác với các đối tác P.D.G củaThái
Lan, Arc của Hàn Quốc
Thứ hai, là nguyên vật liệu đầu vào ban đầu hầu hết các nguyên vật liệu
như vải cao su , nhựa, da ni lông , hoá chất được nhập khẩu từ bên ngoài .
đây là một khó khăn lớn cho công ty vì việc nhập các loại nguyên vật liệu từ
nước ngoài thừơng thì giá cao, phải phụ thuộc vào ngân hàng. Dần dần công
ty đã chuyển hướng khai thác nguồn nguyên vật liệu từ trong nước, từ các
công ty như :
- Công ty dệt 8/3.
- Công ty cao su sao vàng.
- Mặt lớp vạn thành

Thứ 3 là vốn sản xuất ban đầu công ty chỉ có 256 triệu đồng vốn cố
định và vốn lưu động có 200 triệu đồng bằng vật tư và bằng bán thành phẩm.

khẳng định được chỗ đứng của mình ngày càng đáp ứng được những đòi hỏi
khắt khe và thoả mãn nhu cầu của khách hàng quốc tế. Biểu một số thị trường chủ yếu của Công ty.
Đơn vị tính 100USD:
Tỷ trọng Nước xuất
khẩu
1997 1998 1999 2000
97 98 99 200
1. Tây âu
4.514,35
5353,23

2628,84

7086,19

95,90

94,58

94,06

93,48

Đức 2.679


Anh 357,2

985,41

887,37

877,81

10,68

6,6

13,4

11,58

Ailen 286,7

516,76

557,59

660,26

7,59

17,41

8,42


5,16

5,62

áo 61,1

61,12

89,4

102,34

5,49

4,96

1,35

1,43

Bồ đào nha 28,2

36,22

41,72

47,76

1,29


0,9

0,81

0,21

0,2348

2. Thị
trường khác

192,7

306,77

393,36

494,24

0,2

0,2

5,94

6,52


2,8

Tổng cộng
4.707,05
5.660

6622,2

7580,43

100

100

100

100

Nguồn báo cáo thực hiện qua các năm của JTK.

Với 15 nước thành viên , EU là một thị trường lớn đối với sản phẩm
giầy mà công ty đang tiếp tục khai thác trong những năm gần đây sản phẩm
giầy của công ty xuất sang thị trường này tăng lên đáng kể và chiếm tỷ trọng
lớn ( trên 90%) doanh thu xuất khẩu luôn đạt được mức tăng trưởng từ 1,4
đén 1,5 lần, trong đó thị trường ở đứ Anh, Pháp là ba thị trường lớn và
thường xuyên của công ty với giá trị khả năng xuất khẩu sang thị trường này
không ngừng tăng và mở rộng đặc biệt là thị trường Đức chiếm 52,10% sang
đến năm 1998 chiếm và tiếp tục tăng trong các năm 99 và 2000.
Hai thị trường Anh và Pháp vẫn là hai thị trường chủ yếu nhưn có xu

(MFN) của mỹ, mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có
doanh nghiệp thuộc gngành giầy da nên trong tương lai thị phần cho công ty ở
khu vực này sẽ tăng lên mạnh mẽ.
- Thị trường khác.
Ngoài ra công ty còn xuất sản phẩm của mình ra các nước Châu á và
Châu úc.
Khu vực Châu á được coi là khu vực năng động nhất thế giới với tốc độ
phát triển cao. Thị trường Châu á với số dân rất lớn nhưng mức tiêu dùng giầy
chưa cao 0,5 – 2 đôi / năm. Với các nước Châu á do điều kiện tự nhiên rất
giống với Việt Nam, mang truyền thống văn hoá á đông không cách xa nhau
lắm nên giảm được chi phí vận chuyển, hàng hoá của công ty xuất sang Châu
á có nhiều thuận lợi hơn. Song thị trường Châu á lại mang tính cạnh tranh
khốc liệt về mặt hàng giâỳ do có nhiều nước cùng sản xuất đặc biệt là Trung
Quốc, Đài loan, Hàn Quốc. úc cũng là một thị trường có quy mô của công ty
Năm 97 thị trường này chiếm 2,3% và năm 2000 chiếm 2,8%.
b. Thị trường trong nước.
Thị trường trong nước của công ty chưa phát triển mạnh vẫn thổi nổi
lượng giầy tiêu thụ của người dân hàng năm không cao, đối tác chủ yếu của
công ty là các công ty tại thành phố Hồ Chí minh. Trong nước hiện nay chưa
có rất nhiều công ty sản xuất giày dép như Thượng Đình, Thăng Long, Bittis
nên sự cạnh tranh khá mạnh trong tương lai công ty cần có chính sách đúng
để chiếm lĩnh thị trường trong nước. 50

III. TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP AFTA ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM VÀ ĐỐI VỚI CÔNG TY GIÀY DÉP THUỴ KHUÊ.
1. Tác động của doanh nghiệp Việt Nam.
1.1. Vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam.


Đối với quan hệ thương mại Việt Nam và giữa các nước ngoài ASEAN
thì lợi ích thu được đối với doanh nghiệp sản xuất là giảm giá thành sản xuất
nhờ mua được vật tư đầu vào vopứi giá hạ hơn từ các nước ASEAN góp phần
tăng cường khối lượng hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên các nước ASEAN cũng
xuất khẩu ra thị trường thế giới những sản phẩm tương tự Việt Nam cho nên
họ cũng tăng sức cạnh tranh khi gia nhập AFTA.
b. Về sản xuất.
Như đã đề cập ở trên, hàng công nghiệp chế tạo xuất khẩu ở Việt Nam
chỉ chiếm trên 18% tổng kim ngạch xuất khẩu, một con số rất khiêm tốn nếu
đem so sánh với các con số tương ứng với các nước ASEAN khác. Các mặt
hàng công nghiệp chế tạo của Việt Nam hầu như chưa có mặt trên thị trường
ASEAN, ngược lại hàng hoá công nghiệp chế tạo ASEAN đã thâm nhập khá
sâu sắc vào trong số 15 nhóm hàng giảm thuế nhanh các doanh nghiệp Việt
Nam trong thời gian tới khó có thể có sản phẩm để xuất khẩu. Hàng hoá do
các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất vẫn chưa có chất lượng được tin cậy, lại
vừa chưa gây được ấn tượng vì hình thức kiểu dáng.
Các doanh nghiệp Việt Nam có thế mạnh ở những ngành sử dụng
nhiều lao động do tiền lương ở Việt Nam tương đối thấp hơn so với các nước
ASEAN khác. Tuy nhiên sản phẩm của các ngành này lại không được tiêu thụ
chủ yếu ở ASEAN mà xuất sang các nước thuộc khu vực khác. Do vậy việc
tham gia AFTA chưa có tác động quan trọng đến các doanh nghiệp sử dụng
người lao động.
1.2. Những cơ hội và thách thức của hội nhập AFTA đối với các
doanh nghiệp Việt Nam.
a. Cơ hội.
- Thứ nhất, tham gia vào AFTA sẽ tạo sức ép được buộc doanh nghiệp
Việt Nam phải tự đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, tích cực áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ và cung cách
làm ăn mới, hơn nữa gia nhập AFTA cũng bắt buộc, khuyến khích các doanh

a. Về nguồn nguyên liệu.
Nguyên vật liệu là một yếu tố quan trọng tạo nên sản phẩm, chất lượng
sản phẩm góp phần vào việc làm hạ giá thành sản phẩm.
Nguyên vật liệu của công ty bao gồm rất nhiều loại như vải, cao su,
nhựa, da , ni lon, hiện nay phần lớn hoạt động sản xuất giày dép cuả công
ty là làm hàng gia công cho nước ngoài nên nhiều loại nguyên liệu hóa chất
đều phải nhập từ nước ngoài vào.

53

Bên cạnh việc nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài vào , Công ty
còn khai thác nguồn nguyên vật liệu ở trong nước thông qua các doanh nghiệp
sản xuất trong nước.
Những năm gần đây dây vải sợi trong nước đã có nhiều tiến bộ về chất
lượng đãb đáp ưngs được phần nào vải sợi có chất lượng cao để phục vụ hàng
xuất khẩu.
Các công ty đã hợp tác chặt chẽ với các công ty như.
+ Công ty dệt 8/3, công ty dệt kim Hà Nội, công ty dệt 19/5.
+ Công ty cao su sao vàng.
+ Mút xốp vạn thành.
+ Đế đức sơn.
+ Tổ hợp dệt tân thành.
Các công ty này tuy đã đáp ứng được yêu cầu về mặt số lượng , chất
lượng, nhưng còn một số điểm tồn tại như đôi khi còn chậm chạp, giá cao,
chưa theo kịp sự thay đổi của mốt giầy.
Ngoài nguồn nguyên vật liệu trong nước. Công ty còn nhập một số
lượng lớn các nguyên vật liệu ở nước ngoài. Việc phải nhập nguyên liệu từ
nguồn nước ngoài do nhiều nguyên nhân bắt buộc công ty phải nhập như là:
- Do yêu cầu của chất lượng sản phẩm hàng xuất khẩu, vì vậy phải nhập
khẩu nguyên vật liệu nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm.

3.551.105

3.861.117

Khi tham gia vào AFTA, về mặt nguyên vật liệu công ty chịu những tác
động sau.
Thứ nhất, về các Nguyên vật liệu nhập khẩu. Khi hoàn thành AFTA giá
các sản phẩm nhập khẩu sẽ giảm xuống còn 0 – 5% nên giá các sản phẩm
nhập khẩu chắc chắn sẽ giảm. Các nước trong khu vực ASEAN sẽ cung cấp

54

một số lượng lớn hơn về Nguyên vật liệu cho công ty đảm bảo chất lượng và
giá giảm hơn hiện nay.
Thứ hai, về Nguyên vật liệu trong nước. Khi hoàn thành AFTA các
doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các
doanh nghiệp thuộc các quốc gia ASEAN nên họ phải cải tiến công nghệ,
giảm giá thành nâng cao chất lượng nên công ty sẽ có được những Nguyên
vật liệu tốt hơn với giá hạ hơn.
b. Về công nghệ .
Chúng ta biết rằng Châu á phát triển theo mô hình “đàn nhạc” dẫn đầu
là Nhật Bản sau đó là các nước NIEs trong đó có XINGAPO tiếp theo là các
nước NIEs thứ hai , sự di chuyển công nghề theo hiệu ứng “chảy tràn”có
nghĩa là công nghệ được di chuyển cũng theo thứ tự từ nước phát triển hơn
sang nước kém phát triển hơn – khi tham gia vào AFTA với các hàng rào
được dỡ bỏ sự di chuyển công nghệ sản xuất lài càng mạnh mẽ hơn . Việt
Nam chúng ta là nước đi sau nên có điều kiện tiếp thu công nghệ tiên tiến
hơn. Công ty Giầy Thụy Khuê cũng nằm trong bối cảnh này nên cũng tiếp thu
được những công nghệ sản xuất giày dép hiện đại , các mẫu mã kiểu dáng
công nghiệp cũng như các sở hữu công nghiệp khác tao điều kiện hạ giá


Như đã phân tích ở trên khi tham gia hội nhập AFTA có tác động mạnh
mẽ đến Công ty Giầy Thụy Khuê nó đem lại những cơ hội cũng như các thách
thức đối với công ty điều này có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
công ty.
A. Theo mô hình SWOT.
1. Về hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu giày dép là một trong những hoạt
động chính chủ yếu của công ty, nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển
của công ty.
Đối với Công ty Giầy Thụy Khuê thì vấn đề chính là giá cả và chất
lượng mặt hàng giày dép, do công ty chưa có uy tín trên thị trường quốc tế
cho nên vấn đề nhãn hiệu không phải là vấn đề quan trọng cần chú ý ngay.
Trong những lĩnh vực này thì chúng ta có thể chỉ ra những điểm mạnh
điểm yếu của công ty như sau.
* Mặt mạnh: quy mô của công ty không qua lớn, hoạt động sinh hoạt để
thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Công ty có trụ sở chính , cơ sở sản
xuất sản xuất ở Hà Nội điều này sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho việc đối tác nước
ngoài iđến tìm hiểu , ký kết hợp đồng làm ăn vì Hà Nội là trung tâm văn hoá -
kinh tế – chính trị của các nước, các đoàn thương gia nước ngoài thường đến

56

thủ đô để tìm hiểu tìm kiếm các đối tác làm ăn trong tất cả các lĩnh vực cũng
như môi trường đầu tư, Hà Nội có vị trí thuận lợi gần cảng Hải Phòng , do đó
mà được vận chuyển giao hàng cho các đối tác nước ngoài sẽ gặp nhiều thuận
lợi.
* Mặt yếu: công ty còn bị động trong kinh doanh do phụ thuộc vào đối
tác trong nước và nước ngoài. Mẫu mã do nước ngoài đưa sang chứ chưa có
mẫu mã chom riêng bản thân mình , công ty thường tốn nhiều thời gian và chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status