Nghiên cứu Tổng Cty nhà nước để thấy vai trò của Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế - 2 doc - Pdf 19


8

sản xuất và thị trường đối với các ngành kinh atế. Đối với một số ngành kinh
tế lớn, vai trò tác dụng của Tổng công ty ở chỗ tạo lập được trật tự trong sản
xuất và thị trường tiêu thụ thông qua cơ chế thống nhất quản lý và điều hành
toàn Tổng công ty và trực tiếp ký hợp đồng vơí các hộ tiêu thụ lớn, ổn định,
lâu dài. Điểm hình nhất là Tổng công ty Than, Tổng công ty Điện lực trong
quản lý thống nhất các đầu mối tiêu thụ. Còn hầu hết các Tổng công ty đều
quản lý thống nhất được các đầu mối thị trường xuất nhập khẩu.
* Đa ngành, đa lĩnh vực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có
ngành chủ đạo mang tên của Tổng công ty.
Thực tế hoạt động đã khẳng định được hướng hoạt động kinh doanh đa ngành,
đa lĩnh vực của các Tổng công ty là đúng đắn, nâng cao được hiệu quả và vị
trí của mỗi Tổng công ty trong cơ chế kinh tế thị trường đa thành phần với mở
cửa với thị trường bên ngoài, thích ứng được với các tình huống chuyển đổi
của nền kinh tế. Kinh nghiệm và thực tế hiện nay cho thấy đa dạng hoá hoạt
động theo đa ngành, đa lĩnh vực có ngành kinh tế chủ lực là thiết thực, đem
lại hiệu quả cao đối với các Tổng công ty.
3. Những vấn đề đặt ra trong hoạt động sản xuất của Tổng công ty.
Qua gần 6 năm hoạt động, bên cạnh những thành tích đạt được, mô hình Tổng
công ty Nhà nước cũng đã Bộc lộ một số mặt còn yếu kém.
3.1. Về tổ chức và các mối quan hệ, chức năng phân cấp hoạt động.
3.1.1. Vai trò của Hội đồng quản trị

9

Theo điều lệ mẫu Tổng công ty, cơ cấu và Bộ máy của mô hình Tổng công ty
mới gồm có: HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và Bộ máy giúp việc.
Tổng công ty được quản lý bởi HĐQT và được điều hành bởi Tổng giám
đốc. Nhưng trong thực tế thời gian qua, vai trò của HĐQT trong các Tổng

Có nơi HĐQT trong khi chưa thực hiện tốt chức năng. Chủ yếu như xây dựng
chiến lược, quyết định dự án đầu tư, lựa chọn cán bộ nhưng lại sa vào lĩnh
vực điều hành của Tổng giám đốc. Có nơi Tổng giám đốc quyết định các vấn
đề thuộc quyền hạn của chủ tịch HĐQT. Lại có nơi chủ tịch HĐQT lại bao
biện công việc điều hành của giám đốc. Thực tế hiện nay cho thấy, nơi nào uy
tín và trình độ của chủ tịch HĐQT cao hơn thì thường can thiệp vào hoạt động
kinh doanh, lấn quyền của giám đốc, biến HĐQT thành cơ quan chủ quản của
doanh nghiệp. Ngược lại, nơi nào trình độ và uy tín của Tổng giám đốc cao
hơn thì vai trò của HĐQT trở lên mờ nhạt. Sở dĩ có tình trạng trên là vì quyền
hạn và trách nhiệm ở đây được phân công không xuất phát từ lợi ích kinh tế
mà hoàn toàn xuất phát từ năng lực quản lý hành chính.
3.2. Mối quan hệ giữa Tổng công ty với các đơn vị thành viên và giữa các đơn
vị thành viên với nhau.

11

* Sự dính kết “hữu cơ” giữa các doanh nghiệp thành viên với Tổng công ty
chưa thực sự tồn tại; động lực xây dựng Tổng công ty đối với các đơn vị
thành viên bị thả nổi, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Tổng
công ty.
Sau khi tham gia vào Tổng công ty, các DNNN thành viên hầu như hạch toán
độc lập. Họ phải tự “xoay sở”, tự lo công ăn việc làm, tự lo lỗ, l•i, các Tổng
công ty gần như không có vai trò gì. Đặc biệt sau khi Chính phủ ban hành
nghị định số 44/1998/NĐ - CP (ngày 29/6/98) và việc chuyển DNNN thành
Công ty cổ phần, một số doanh nghiệp trong các Tổng công ty Nhà nước đ•
được thí điểm tiến hành cổ phần hoá. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp
này đ• tách hoàn toàn khỏi sự kiểm soát của Tổng công ty và hoạt động theo
một luật mới: luật công ty.
Theo số liệu điều tra ở TPHCM và Hà Nội thì chỉ có khoảng 13% các doanh
nghiệp (mà đa phần là nhỏ hay hoạt động chưa có hiệu quả) là cần có Tổng

được gom góp lại và được tham gia vào một tổ chức gọi là Tổng công ty Nhà
nước. Có những DNNN tham gia vào Tổng công ty không phải là tự nguyện

13

mà bị gò ép, họ thậm chí không có quyền quyết định vận mệnh của chính
mình. Tất cả những điều này đ• không tạo ra được sự gắn kết cần thiết giữa
các đơn vị thành viên với Tổng công ty và do đó không phát huy được sức
mạnh tổng hợp của Tổng công ty.
3.3. Thiếu sự phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng về quản lý Nhà nước và
thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN giữa chính phủ với Bộ
quản lý ngành, Bộ chức năng và UBND cấp tỉnh, cấp huyện nên mối quan hệ
giữa Tổng công ty với các cơ quan quản lý Nhà nước rất phức tạp, có quá
nhiều đầu mối, trách nhiệm giải quyết công việc không rõ ràng và khó xác
định trách nhiệm khi xảy ra hậu quả.
Hiện tại đại diện quyền sở hữu Nhà nước được dàn trải ở nhiều cơ quan đại
diện làm nảy sinh nhiều vấn đề phiền hà cho doanh nghiệp, tạo ra nhiều sơ hở
trong cơ chế quản lý vốn và tài chính của doanh nghiệp mà hậu quả khó lường
hết cho cả các cơ quan quản lý Nhà nước lẫn doanh nghiệp.
3.4. Qua thực tế hoạt động có một số Tổng công ty đang đòi hỏi phải có giải
pháp tổ chức sắp xếp lại như: Tổng công ty đá quý và vàng (Tổng công ty
91), Tổng công ty cơ khí năng lượng và mỏ (Tổng công ty 90).
3.5. Tình trạng thiếu vốn của các DNNN là phổ biến và nghiêm trọng. Tổng
công ty Nhà nước tuy được ưu tiên các điều kiện vật chất, nguồn lực để phát
triển nhưng tình hình cũng không sáng sủa hơn. Năm 1998, vốn Nhà nước
bình quân của Tổng công ty 91 là 3661 tỉ đồng (260 triệu USD). Nhưng trong
số 17 Tổng công ty 91 có tới 14 Tổng công ty (82%) có mức vốn Nhà nước

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status