NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA - Pdf 73

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP AFTA
1.1. BẢN CHẤT VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ.
1.1.1. Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế [14], [15], [36]
Hội nhập kinh tế quốc tế (International integration) là một xu hướng vận
động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay khi quá trình
toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ra nhanh chóng dưới sự
tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ. Toàn cầu hóa - hội nhập kinh
tế quốc tế là thuật ngữ xuất hiện trong một vài thập kỷ gần đây. Xu thế này ngày
càng là một yếu tố quan trọng và tác động rất lớn đến tư duy và chính sách của các
Chính phủ cũng như của các tổ chức quốc tế trong thế kỷ XXI. Theo tổ chức hợp
tác phát triển kinh tế (OECD) thì “ toàn cầu hóa (globalisation) là quá trình diễn ra
do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về ĐTNN và nguồn lực
quốc tế, và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với qui mô toàn cầu những hình
thức mới về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia. Sự kết hợp
này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh
tranh toàn cầu…
Toàn cầu hoá có thể được hiểu là quá trình hoàn thiện tính chỉnh thể của nền
kinh tế thế giới để làm cho tính chất thống nhất và duy nhất của nó được gia tăng
không ngừng. Toàn cầu hoá liên quan mật thiết với quá trình tự do hoá và việc loại
bỏ dần tính tách biệt, khác biệt thành sự hội nhập tự giác và hình thành những mối
quan hệ kinh tế tương đồng có tính chất quốc tế. Toàn cầu hoá trước hết được xem
xét về mặt kinh tế nhưng nó cũng có những khía cạnh nhất định liên quan đến khía
cạnh chính trị, lối sống, văn hoá và xã hội cũng như tâm lý, thói quen.
Cho đến nay có nhiều khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế. Một cách thông
thường, có thể hiểu: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thể chế
quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song
phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn
trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế”. Theo quan niệm của Hội

- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi sự cải cách
nhất định về thể chế kinh tế, trước hết là các chính sách và phương thức quản lý
kinh tế vĩ mô, qua đó phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho
sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế (khơi dậy nguồn lực bên
trong và thu hút nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến).
Tuy nhiên, bên cạnh những khía cạnh tích cực trên, hội nhập kinh tế quốc tế
cũng có thể đưa tới tình trạng dễ tổn thương của nền kinh tế quốc gia, tình trạng lệ
thuộc bên ngoài về kinh tế và chủ quyền quốc gia, tình trạng đối xử thiếu công
bằng giữa các thành viên cũng như gây sức ép cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp. Từ khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên cần xác
định rõ nội dung của quá trình hội nhập kinh tế để từ đó thấy rõ những công việc
cần làm ở mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị. Trong thực tiễn, quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế diễn ra rất phong phú và đa dạng nhưng có thể thấy nó tập trung ở
những nội dung chủ yếu sau đây:
- Tiếp cận thị trường thế giới cả về bề rộng và bề sâu với các thông tin cập
nhật và có khả năng dự báo được. Nội dung này đặt ra không những đối với cơ
quản lý và hoạch định chính sách mà đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị
sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế đề vừa đảm bảo cho sự tăng
trưởng bền vững của nền kinh tế trong nước, vừa phát huy lợi thế so sánh và chủ
động tham gia vào phân công lao động quốc tế, nâng cao khả năng xâm nhập thị
trường quốc tế của hàng hoá dịch vụ.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia, của từng ngành và
từng doanh nghiệp thông qua việc áp dụng mọi biện pháp để giảm thiểu các chi
phí đầu vào, các chi phí trung gian không cần thiết, áp dụng công nghệ mới để
nâng cao chất lượng hàng hoá dịch vụ, thường xuyên cải tiến mẫu mã, kiểu dáng,
bao bì hàng hoá để người tiêu dùng trong và ngoài nước chấp nhận.
- Công tác quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế phải tạo nên sự phản ứng

loại hình
Hàng hoá và
dịch vụ di
chuyển tự do
Thống nhất
chính sách
thuế quan với
các nước
không phải
thành viên
Sức lao
động và
vốn đầu tư
di chuyển
tự do
Thống nhất dự trữ
tiền tệ, phát hành
đồng tiền tập thể,
thống nhất giao
dịch tiền tệ và chính
sách hối đoái
Thống nhất và kết
hợp hài hoà các
chính sách kinh tế,
tài khoá, tiền tệ,
hình thành cơ cấu
kinh tế khu vực
Khu vực
mậu dịch tự
Có Không Không Không Không

Cộng đồng Châu Âu (European Community) và tiếp theo là Liên minh Châu Âu
(EU - European Union) . Hơn nữa, rất nhiều thành viên của EFTA tìm cách để
tham gia vào Liên minh Châu Âu hoặc hợp tác trong khu vực kinh tế Châu Âu nói
chung.
Một Khu vực mậu dịch tự do FTA điển hình khác là NAFTA (Hiệp ước
thương mại tự do Bắc Mỹ - North American Free Trade Agreement) trên cơ sở
hiệp ước thương mại giữa Mỹ, Canada có hiệu lực vào năm 1989, được mở rộng
với sự tham gia của Mêhicô vào hiệp ước này năm 1994, còn AFTA chính là Khu
vực mậu dịch tự do của các nước ASEAN được khởi đầu từ 1/1/1993 và cơ bản sẽ
hoàn tất lịch trình hội nhập của nó vào năm 2003. Một số nước thành viên của khu
vực này do gia nhập chậm hơn nên tiến trình này có thể kéo dài đến năm 2006 và
năm 2008.
Khu vực mậu dịch tự do là hình thức đơn giản nhất của hội nhập kinh tế
quốc tế, tuy nhiên, để đi đến hình thức hội nhập ổn định này, các quốc gia thành
viên có thể áp dụng một hình thức quá độ là xây dựng khu vực ưu đãi thương mại
hoặc những hình thức tương tự.
b- Đồng minh thuế quan (the Custom Unions)
Đồng minh thuế quan là bước cao hơn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Giống như các thành viên trong FTA, các thành viên trong đồng minh thuế quan
cũng loại bỏ hàng rào về thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các nước này. Ví
dụ, Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) ra đời vào năm 1957 bao gồm CHLB Đức,
Pháp, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Trình độ liên kết cao hơn của loại hình đồng
minh thuế quan cũng thể hiện ở việc thiết lập một chính sách thương mại chung
cho các thành viên không thuộc đồng minh thuế quan đó.
Với hình thức liên kết kinh tế này, chính sách mậu dịch của các nước thành
viên trở thành một bộ phận của chính sách mậu dịch của các nước trong cộng
đồng. Ví dụ, một hình thức thuế nhập khẩu từ các nước không thuộc đồng minh
thuế quan thì chịu cùng một thuế xuất nhập khẩu khi bán cho bất kỳ thành viên
nào. Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT-General Agreement for
Trade and Tariffs) cũng là một hình thức của liên kết này. Việc chuyển từ Hiệp

thay thế bằng đồng EURO (12/15 quốc gia).
e- Liên minh kinh tế (Economic Union)
Liên minh kinh tế là hình thức phát triển ở trình độ cao của hội nhập kinh tế
quốc tế và cũng là loại hình cao nhất của liên kết kinh tế. Việc tạo ra liên minh
kinh tế cần sự hội nhập chính sách kinh tế hơn là sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ
và yếu tố sản xuất qua biên giới. Liên minh Châu Âu (EU - European Union) được
thành lập từ năm 1993 được coi là một liên kết kinh tế. Thông qua liên minh kinh
tế quốc tế, các thành viên sẽ hòa hợp chính sách tiền tệ, chính sách thuế và chính
sách chi tiêu Chính phủ. Hơn nữa, tất cả các thành viên sẽ sử dụng chung một đơn
vị tiền tệ thống nhất. Điều này có thể thực hiện trong thực tế bởi một tỷ giá hối
đoái cố định. Rõ ràng việc hình thành liên minh kinh tế cần đòi hỏi các quốc gia bỏ
qua một phần lớn chủ quyền quốc gia. Hệ thống chính trị toàn cầu cho đến nay vẫn
dựa trên sự tự chủ và quyền lực tối cao của các quốc gia, bởi vậy việc giảm bớt
quyền lực Nhà nước sẽ chắc chắn luôn gặp phải sự phản ứng gay gắt.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu diễn ra đối
với các tổ chức dưới góc độ là một quốc gia. Bởi vì hầu hết các nước trên thế giới
đều nhận thức rằng muốn phát triển hệ thống kinh tế xã hội của mình thì phải mở
cửa ra bên ngoài, tức là tất yếu phải tham gia vào hội nhập. Tuy nhiên, hội nhập
kinh tế quốc tế không chỉ có những ảnh hưởng tích cực mà còn có những ảnh
hưởng tiêu cực đến các quốc gia thành viên, và tất nhiên sự tác động tích cực hoặc
tiêu cực này cũng ảnh hưởng tới các tổ chức có qui mô nhỏ hơn nằm trong hệ
thống quốc gia đó. Do vậy, hoạt động quản lý các tổ chức hiện nay và tương lai tất
yếu phải phân tích và gắn với xu thế toàn cầu hóa này.
Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế nêu trên là những nấc thang của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng hoạt động dựa trên 5 nguyên tắc sau (đây
cũng chính là 5 nguyên tắc hoạt động của WTO):
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng
giữa các nước thành viên với nhau cũng như trên thị trường mỗi nước. Nguyên tắc
này được cụ thể thành quy chế tối huệ quốc (tất cả hàng hoá, dịch vụ và công ty
của các nước đối tác đều được hưởng một chính sách chung bình đẳng) và quy chế

tế thế giới. Quá trình quốc tế hóa này diễn ra ở những cấp độ khác nhau với xu
hướng toàn cầu hóa đi đôi với xu hướng khu vực hóa. Xu hướng khu vực hóa thể
hiện ở việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực với các hình thức đa dạng: Liên
minh Châu Âu (EU), Hiệp hội mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế
Châu Á -Thái Bình Dương (APEC)... Xu hướng quốc tế hóa đặt ra một yêu cầu tất
yếu: Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào
phân công lao động quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực để phát
triển bền vững.
Hiện nay, xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi
bức xúc của các dân tộc và các nước trên thế giới. Các nước đều cần có môi trường
hoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa; các nền kinh tế ngày càng gắn
bó, tuỳ thuộc lẫn nhau, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế; các thể chể đa
phương trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng tăng cùng với sự phát triển
của ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường của các dân tộc.
Toàn cầu hoá đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ
quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực
lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ khoa học công nghệ, đặc
biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, đã đưa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫn
tới sự hình thành những mạng lưới toàn cầu. Trước những biến đổi to lớn về khoa
học công nghệ này, tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu
kinh tế, điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào
thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao
động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, mở đường cho kinh tế
quốc tế phát triển.
Đại diện cho xu thế toàn cầu hoá này là sự ra đời của Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại - GATT vào năm 1948 với 23 nước thành viên sáng lập
với mục tiêu xác lập những nguyên tắc điều chỉnh và thúc đẩy thương mại quốc tế
phục vụ cho phát triển kinh tế của mỗi nước thành viên. Kể từ 1/1/1995, GATT đã
được đổi thành Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) có vai trò điều tiết không chỉ

chính mình. Đây thực chất là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh phân chia thị
trường. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ ở Châu Á nửa cuối thập kỷ
90 không những không đảo ngược xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc tế về
thương mại, đầu tư trên thế giới mà thậm chí còn có phần kích thích xu thế đó phát
triển. Tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước tăng lên làm cho tất cả các nước phải
thường xuyên có những cải cách kịp thời trong nước để thích ứng với những sự
biến động trên thế giới.
Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp
phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân
tộc của mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan
xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các nước khác. [3], [10], [24]
1.1.4. Những tác động của việc tham gia vào khu vực Mậu dịch tự do
[14], [25], [30]
Việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do có những tác động nhất định đối với
các nước tham gia. Những biểu hiện của các ảnh hưởng này rất đa dạng. Những
ảnh hưởng chủ yếu của việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của một nước
được thể hiện ở việc tạo lập mậu dịch và chuyển hướng mậu dịch
1.1.4.1. Tạo lập mậu dịch
Quá trình tạo lập mậu dịch thông qua việc tham gia vào Khu vực mậu dịch
tự do thể hiện ở việc mở rộng khả năng xuất-nhập khẩu giữa các nước thành viên.
Nhờ việc bãi bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước mà giá cả
hàng hoá lưu chuyển giữa các nước trở nên rẻ hơn trước, nhu cầu của người tiêu
dùng ở các nước vì thế có cơ hội tăng lên. Kết quả của quá trình này là khối lượng
các hàng hoá và dịch vụ trao đổi giữa các nước được mở rộng. Việc mở rộng hoạt
động xuất nhập khẩu đã làm tăng khả năng khai thác các nguồn lực của các quốc
gia một cách có hiệu quả. Việc tạo lập mậu dịch còn làm tăng thêm phúc lợi của
các ngành sản xuất nội địa do việc thay thế các ngành có chi phí sản xuất cao bằng
các ngành có chi phí sản xuất thấp hơn. Cơ hội có việc làm của người lao động
tăng lên.
1.1.4.2. Chuyển hướng mậu dịch

- Khi tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do, các quốc gia có xu hướng chú
trọng phát triển các ngành sản xuất có hiệu quả cao nhất trên cơ sở các lợi thế so
sánh của các quốc gia trong quan hệ với các nước thành viên. Quá trình này còn
được tăng cường thêm khi các ngành sản xuất được mở rộng được thị trường rộng
quy mô và do đó còn tạo ra được hiệu quả kinh tế mới do quy mô sản xuất tăng lên
mang lại. Kết quả của quá trình này còn được thể hiện ở việc tái cấu trúc nền kinh
tế và phát huy những lợi thế của cơ cấu kinh tế hướng ngoại.
- Các ngành sản xuất ở các nước có thể tham gia hoạt động thương mại quốc
tế nội bộ khu vực có hiệu quả cần phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao
động và hạ giá thành sản phẩm. Để đạt được mục tiêu đó, các ngành sản xuất phải
nhanh chóng áp dụng khoa học – công nghệ mới, tiếp thu những kinh nghiệm quản
lý tiên tiến và phải xây dựng các chiến lược kinh doanh thích hợp.
- Việc mở rộng xuất khẩu sẽ góp phần làm thăng bằng cán cân thanh toán
quốc tế của quốc gia, tăng dự trữ ngoại tệ và làm năng động hoá các hoạt động tín
dụng, tài chính trong nội bộ và giữa các nước. Mở rộng xuất khẩu là cơ sở để tăng
nguồn vốn tích luỹ cho đầu tư phát triển. Đây là cơ sở để tăng trưởng kinh tế ổn
định và bền vững của các quốc gia.
Bên cạnh những lợi ích kinh tế chủ yếu do tham gia vào Khu vực mậu dịch
tự do mang lại trên đây, các quốc gia khi tham gia vào liên kết kinh tế khu vực cần
xử lý không ít những vấn đề phát sinh bao gồm:
- Điều chỉnh lại các cân đối lớn trong nền kinh tế khi xoá bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan, thay đổi chính sách tài khoá, chính sách tỷ giá hối đoái...
- Giải quyết tình trạng việc làm cho người lao động và tái đào tạo lại đội ngũ
lao động theo những mục tiêu phát triển đạt ra của các nước trong cộng đồng.
- Thiết lập các khuôn khổ chung với các nước thành viên bao gồm hệ thống
pháp luật chính sách, các loại quy định về thủ tục hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật,
môi trường sinh thái, giáo dục đào tạo, văn hoá - khoa học...
- Giải quyết những vấn đề liên quan đến sự bình đẳng, công bằng giữa các
thành viên trong xã hội và giữa các nước trong nội bộ khu vực cũng như xử lý
những vấn đề trong quan hệ giữa các nước thành viên trong khu vực với các nước

- Tự do hoá thương mại ASEAN thông qua việc loại bỏ các hàng rào thuế
quan trong nội bộ khu vực và sau đó là các hàng rào phi thuế quan;
- Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối
thị trường thống nhất;
- Tạo điều kiện để ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế
đang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển các thoả thuận thương mại khu vực (RTA)
trên thế giới.
Trong ba mục tiêu trên, mục tiêu đầu tiên không phải và mục tiêu quan trọng
nhất của AFTA bởi vì thị trường của ASEAN không lớn vì nguồn cung các sản
phẩm chế tạo nằm ngoài khu vực. Hơn nữa mặc dù có tốc độ tăng trưởng cao, song
phần lớn các nước trong khu vực vẫn là các nước đang phát triển cho nên phụ
thuộc nhiều vào đầu tư, công nghệ, bí quyết quản lý của nước ngoài.
Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngo ài là mục tiêu trung tâm của AFTA. Điều
này chủ yếu là do áp lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài của các nước.
Khi AFTA trở thành một khu vực sản xuất thống nhất, quá trình chuyên môn hoá
sản xuất nội bộ khu vực và khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế khác nhau
trở nên hợp lý hơn.
Mục tiêu thứ ba gắn với các yếu tố không thuận lợi của môi trường thương mại.
Các nước phát triển trên thế giới thiên về phát triển các thoả thuận thương mại khu
vực để bảo hộ thị trường đối với các sản phẩm của các nước Đông á. Sự ra đời của
AFTA đáp lại khuynh hướng tăng lên của chủ nghĩa khu vực trên thế giới.
Theo xu hướng mở rộng liên kết giữa các nước, đặc biệt là với sức ép của
các tổ chức thương mại khác như tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã đẩy nhanh tốc độ thực hiện
của AFTA và chắc chắn sẽ đưa AFTA tiến tới cấp độ liên kết kinh tế cao hơn theo
đúng quy luật vận động kinh tế quốc tế.
Các quy định chung về AFTA
Khu vực mậu dịch tự do AFTA được hình thành thông qua các yếu tố sau
đây:
- Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT - The Common

1.2.2. Cơ cấu tổ chức của AFTA [30], [32], [46], [55], [66]
Hội đồng AFTA được thành lập theo quyết định của Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ tư ngày 28/1/1992 tại Singapore để theo dõi, phối hợp và báo cáo
việc thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Hội đồng
AFTA là cơ quan cấp Bộ trưởng, gồm đại diện của các nước thành viên và Tổng
thứ ký ASEAN. Hội đồng họp khi cần thiết, nhưng ít nhất mỗi năm một lần và báo
cáo trực tiếp lên Hội nghị Bộ trưởng kinh tế (AEM). Việt Nam cử Bộ trưởng Bộ
Tài chính tham gia Hội đồng AFTA.
Sơ đồ 1- Cơ cấu thể chế của hợp tác kinh tế ASEAN
1.2.3. Những đặc điểm chủ yếu của AFTA
Khối mậu dịch tự do (AFTA) ban đầu gồm những thành viên của Hiệp hội
các nước Đông Nam Á (ASEAN) và sau đó kết nạp thêm Việt Nam, Lào,
Campuchia và Mianma. Với 430 triệu dân, diện tích 3,5 triệu km2, thu nhập bình
quân đầu người là 1.680USD (số liệu năm 2000), khu vực mậu dịch tự do AFTA
lớn hơn Khu vực buôn bán tự do bắc Mỹ (NAFTA) và Liên minh Châu âu (EU) về
dân số và diện tích nhưng thấp hơn về thu nhập bình quân đầu người từ 10-15 lần.
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN nằm trong vòng cung Châu Á- Thái Bình
Dương, là khu vực phát triển năng động nhất thế giới trong hai thập kỷ vừa qua.
với vị trí đầy triển vọng này, khu vực AFTA là nơi thu hút sự chú ý của các liên
minh kinh tế thế giới, các công ty, các tập đoàn đa quốc gia cũng như cả cộng đồng
quốc tế. AFTA sẽ là khối mậu dịch “hạt nhân” của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình dương (APEC)
Các nền kinh tế của các thành viên ASEAN vừa bổ sung cơ cấu kinh tế lẫn
nhau, vừa cạnh tranh kinh tế với nhau. Thái Lan xuất khẩu gạo sang Malaysia. Việt
Nam xuất khẩu gạo sang Phipippin. Thái Lan và Việt Nam có sự cạnh tranh với
nhau trong xuất khẩu gạo ngay trong nội bộ khối AFTA. Việc thực hiện Hiệp định
AFTA sẽ vừa mở rộng mậu dịch vừa chuyển hướng mậu dịch trong khối và giữa
khối AFTA với các phần còn lại của thế giới.
Lĩnh vực hợp tác trong khối AFTA rất đa dạng bao gồm hợp tác trong lĩnh
vực thương mại, đầu tư dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giao thông vận tải, bưu chính viễn

đến 0-5% vào 1/1/2000
- Đối với danh mục hàng hoá cắt giảm nhanh: Các sản phẩm có tỷ lệ thuế
trên 20% được giảm xuống 0-5% vào 1/1/2000. Các sản phẩm có tỷ lệ thuế ở mức
20% hoặc thấp hơn được giảm đến 0-5% vào 1/1/1998.
Điểm cần lưu ý ở đây là tiến trình cắt giảm thuế quan của AFTA đã rút
xuống từ 15 năm đến 10 năm. Các nước trong khối AFTA ứng xử với tiến trình
này ở những mức độ khác nhau.
Đối với các nước như Malaixia, Sigapore, Thái Lan,, Brunei là những nước
phát triển nhất trong khối có thu nhập bình quân đầu người trên 3.000 USD tham
gia vào tiến trình hội nhập AFTA một cách khá thuận lợi. Hầu như sự chuẩn bị của
các nước này đã khá ổn định và được sắp đặt theo một kế hoạch lâu dài và rộng lớn
cho cả việc gia nhập vào AFTA lẫn cho APEC và WTO. Các nước này đang có
khả năng đầu tư lớn ra nước ngoài (Brunây có dự trữ ngoại tệ khoảng 30 tỷ USD).
Đây là những nước khá “bình tĩnh và hăng hái” trong gia nhập vào AFTA. Tiến
trình hội nhập vào AFTA chủ yếu do các nước này thiết kế theo phương châm rút
ngắn tối đa thời gian hội nhập. Hai nước Philippine và Indonesia có thu nhập bình
quân đầu người thấp nhất trong khối trước khi có Việt Nam tham gia, nhưng vẫn
trên 1.000 USD (nghĩa là cao hơn Việt Nam khoảng 4 lần) và mong muốn hội nhập
vào AFTA một cách chậm hơn. Đây là những nước có tiến trình hội nhập sát với
Việt Nam hơn do có những vấn đề của nền kinh tế trong nước phải tiếp tục giải
quyết.
Indonesia có số dân khoảng 200 triệu người, nước có số dân lớn nhất trong
khối AFTA hiện đang có chính sách giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng để giảm bớt
thâm hụt ngân sách quốc gia. Indonesia vẫn còn thâm hụt ngân sách do nhập khẩu
tư liệu sản xuất ở nước nước ngoài tăng lên . Chính sách cổ phần hoá đang được
tăng cường ở Indonesia để tăng thu cho ngân sách của chính phủ.
Philippin có thu nhập bình quân đầu người 1070 USD, dân số tương đương
với Việt Nam đang cố gắng thực hiện cải cách hệ thống thuế và áp dụng thuế giá
trị gia tăng (VAT). Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế Philippin, 10% lượng
thuế VAT sẽ áp dụng cho các hàng hoá và dịch vụ tính từ thời điểm có hiệu lực của

sống của con người và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật,
lịch sử và khảo cố học của các nước thành viên ASEAN sẽ không được đưa vào
Hiệp định CEPT.
• Các danh mục hàng hoá:
Để triển khai AFTA, các nước ASEAN phân loại các hàng hoá trong biểu
thuế nhập khẩu thành bốn danh mục với lộ trình cắt giảm được xây dựng cho từng
danh mục cụ thể. Nội dung và lộ trình cắt giảm thuế của từng danh mục như sau:
• Danh mục cắt giảm ngay (IL-Inclusion list): gồm các sản phẩm mà các nước
thành viên đã sẵn sàng cắt giảm thuế. Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộc
Danh mục này được chia thành hai lộ trình: lộ trình cắt giảm bình thường và lộ
trình cắt giảm nhanh.
+ Lộ trình cắt giảm bình thường: theo Hiệp định được ký kết, việc cắt giảm
thuế xuống 0 – 5% sẽ được thực hiện trong vòng 15 năm, sau đó đẩy nhanh mốc
hoàn thành vào ngày 1/1/2003 đối với ASEAN-6. Đối với các nước thành viên mới
gia nhập ASEAN, thời hạn này chậm hơn, tới ngày 1/1/2006 cho Việt nam, ngày
1/1/2008 cho Lào, Mianma và ngày 1/1/2010 cho Campuchia.
+ Lộ trình cắt giảm nhanh: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư đã xác
định 15 nhóm mặt hàng cần cắt giảm thuế nhanh trong vòng bảy năm, đó là: dầu
thực vật, hoá chất, phân bón, sản phẩm cao su, giẩy và bột giấy, đồ gỗ và song
mây, đá quí và đồ trang sức, xi măng, dược phẩm, chất dẻo, các sản phẩm bằng da,
hàng dệt, các sản phẩm gốm và thuỷ tinh, điện cực đồng, hàng điện tử (Việt Nam
không tham gia lộ trình cắt giảm nhanh).
• Danh mục loại trừ tạm thời (TEL- Temporary Exclusion List): là danh mục
gồm các sản phẩm mà các nước chưa sẵn sàng cắt giảm thuế ngay. Theo quyết
định của Hội nghị Bộ trưởng AEM – 26 từ ngày 22 đến 23/9/1994, danh mục này
sẽ được chuyển dần sang Danh mục cắt giảm ngay trong vòng 5 năm, kể từ ngày
1/1/1996 đến ngày 1/1/2000 đối với ASEAN-6.
• Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL - General Exception List): là danh mục
các sản phẩm sẽ không được đưa vào tham gia AFTA vì lý do bảo vệ an ninh quốc
gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động

nước thành viên khác 3 năm (bắt đầu tư ngày 1/1/1996), do đó thời hạn thực hiện
các lộ trình cho các danh mục bên trên, cũng như thời hạn hoàn thành AFTA được
chấp nhận sẽ chậm hơn các nước thành viên cũ ở mức tương ứng. Thời hạn hoàn
thành AFTA (tức là tất cả các dòng thuế trong IL đạt 0 – 5%) của Việt Nam là năm
2006. Cũng như vậy, thời hạn hoàn thành chuyển toàn bộ các dòng thuế từ TEL
sang IL là năm 2003, mỗi năm 20% số sản phẩm trong Danh mục này phải được
chuyển vào IL.
Đối với các thành viên mới là Lào và Mianma sẽ bắt đầu thực hiện Hiệp
định CEPT từ ngày 1/1/1998 và kết thúc vào ngày 1/12008. Campuchia bắt đầu
thực hiện CEPT từ ngày 1/1/2000 và kết thúc vào ngày 1/1/2010.
• Vấn đề đẩy nhanh AFTA
Hiện nay trong ASEAN có xu hướng thúc đẩy nhanh hơn nữa việc triển khai
thực hiện AFTA để thúc đâỷ thương mại trong nội bộ khu vực, tăng tính cạnh
tranh, thu hút đầu tư nước ngoài và đáp lại thách thức của các khu vực kinh tế
khác. Cho tới nay, nội dung này tập trung vào một số điểm chính như sau:
• Đẩy nhanh mốc thời gian hoàn thành AFTA, tức là thời điểm mà các thành
viên đạt thuế nhập khẩu CEPT từ 0 – 5% như vừa trình bày ở trên. Từ mốc thời
gian là năm 2008 trước đây, đến nay các thành viên ASEAN đã đẩy nhanh thời hạn
này tới năm 2002 cho ASEAN-6, năm 2006 cho Việt Nam và năm 2008 cho Lào
và Mianma.
• Đẩy nhanh việc chuyển các dòng thuế trong Danh mục loại trừ tạm thời sang
Danh mục cắt giảm ngay.
• Chuyển các mặt hàng trong Danh mục nhạy cảm sang các danh mục khác,
đồng thời đẩy nhanh việc cắt giảm thuế cho các mặt hàng còn lại trong danh mục
này.
• Rà soát lại và giảm các mặt hàng trong Danh mục loại trừ hoàn toàn, chỉ giữ
lại những mặt hàng được xác định theo Điều 9 của Hiệp định CEPT.
• Giảm thuế các mặt hàng theo CEPT xuống 0% vào năm 2010 đối với các
nước thành viên cũ ASEAN-6 và năm 2015 với các thành viên mới.
• Thực hiện các chương trình thuận lợi hoá thương mại, bao gồm các thoả

Phụ thu hải quan 2683
Phụ phí 126
Nhập khẩu theo kênh độc quyền 65
Điều hành của thương mại nhà nước 10

Trích đoạn Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế [16], [45], [56] Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh đối với doanh nghiệp khi hội nhập kinh tế quốc tế [10], [21], [34], [44] Kinh nghiệm của các nước phát triển [31], [40], [45], [50], [58]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status