Lời mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Hội nhập Khu vực thơng mại tự do của Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) là một yêu cầu khách quan, là một nhiệm vụ mang tính cam kết quốc tế
giữa Việt Nam với các nớc thành viên tổ chức ASEAN. Quá trình này đã bắt đầu
từ 1.1.1993, sẽ hoàn tất vào năm 2003. Do gia nhập ASEAN muộn hơn nên đối với
Việt Nam, quá trình hội nhập khu vực thơng mại tự do của ASEAN với những nội
dung cơ bản của chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) sẽ đợc
hoàn tất vào năm 2006.
Từ năm 1995 đến nay, sau khi trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), Việt Nam tuyên bố tham gia Khu vực th-
ơng mại tự do của ASEAN (AFTA), Chính phủ Việt Nam thông qua các cơ quan
chức năng đã bắt đầu vạch ra lộ trình hợp tác kinh tế quan trọng nh: chơng trình
hợp tác về thơng mại (trong đó có việc thực hiện CEPT), hợp tác về phát triển công
nghiệp, hợp tác về đầu t, hợp tác về lơng thực, nông nghiệp và lâm nghiệp...
Thực hiện các chơng trình hợp tác nói trên đòi hỏi sự cố gắng của các cơ
quan chính phủ cũng nh của tất cả các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế
khác nhau. Trong những năm qua do sự cố gắng của các cơ quan Chính phủ và các
doanh nghiệp, tiến trình hội nhập AFTA của Việt Nam đã đạt đợc những bớc tiến
quan trọng. Các doanh nghiệp nhìn thấy lộ trình hội nhập AFTA ngày càng đến
gần và cũng rất băn khoăn, lo lắng khi hội nhập AFTA. Tuy nhiên riêng đối với
các doanh nghiệp với nhiều lý do khác nhau vẫn còn lúng túng trong việc xác định
phơng hớng, bớc đi và cách thức cụ thể thích ứng với đòi hỏi của tổ chức AFTA,
đặc biệt là làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam mà
phần lớn là các doanh nghiệp có quy mô khá nhỏ bé.
Trên giác độ đó, tác giả chọn đề tài Doanh nghiệp Việt nam trong tiến
trình hội nhập AFTA - Vấn đề và giải pháp làm luận án Tiến sỹ kinh tế nhằm
luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan, góp phần giúp các doanh
nghiệp Việt nam có đợc câu trả lời cho vấn đề nói trên.
2. Mục đích, đối tợng, phạm vi, phơng pháp nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là làm rõ yêu cầu và nội dung các công việc đặt ra
dung các chơng trình hợp tác trong tổ chức AFTA, nghiên cứu các cơ hội và thách
thức đối với Việt Nam nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng khi Việt
nam quyết định gia nhập AFTA, các công trình nghiên cứu nói trên đợc thực hiện
dới dạng các đề tài khoa học, các sách chuyên khảo các đề án công tác của một số
ngành.
Các công trình và đề án nghiên cứu nói trên thờng đứng trên giác độ chung
hoặc trên giác độ các cơ quan quản lý Nhà nớc ở góc độ vĩ mô hoặc góc độ ngành,
còn góc độ doanh nghiệp có đề cập nhng cha đợc đầy đủ và cụ thể.
Đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn lúng túng trong nhận thức
cũng nh thiếu cơ cở cho việc xây dựng chiến lợc rõ ràng, cha có chuẩn bị về phơng
2
án kinh doanh cụ thể và nhất quán trớc tiến trình hoàn tất thời hạn thực thi Chơng
trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cũng nh các yêu cầu khác trong
khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do của khối ASEAN (AFTA). Trong khi đó hoạt
động của doanh nghiệp chính là hạt nhân quyết định sự thành công của quá trình
hội nhập của nớc ta vào tổ chức AFTA. Đề tài luận án nhằm hỗ trợ cho các doanh
nghiệp những cơ sở lý luận và phơng pháp luận trớc đòi hỏi bức xúc của quá trình
hội nhập của doanh nghiệp vào AFTA để sao cho các doanh nghiệp thích ứng và
xây dựng đợc chiến lợc nâng cao sức cạnh tranh và đứng vững trong quá trình hội
nhập AFTA.
4. Dự kiến đóng góp mới của luận án
Hệ thống các vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế, làm rõ vai trò
của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập vào khu vực mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA), nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong quá
trình tham gia vào tiến trình hội nhập AFTA của các doanh nghiệp các n-
ớc thành viên.
Làm rõ lộ trình và nội dung các chơng trình hợp tác giữa các nớc thành
viên trong khuôn khổ AFTA trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2006
và một số năm tiếp theo và yêu cầu các công việc đặt ra đối với các doanh
nghiệp Việt Nam. Phân tích những mặt mạnh và mặt yếu của doanh
dới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ. Toàn cầu hóa - hội
nhập kinh tế quốc tế là thuật ngữ xuất hiện trong một vài thập kỷ gần đây. Xu thế
này ngày càng là một yếu tố quan trọng và tác động rất lớn đến t duy và chính
sách của các Chính phủ cũng nh của các tổ chức quốc tế trong thế kỷ XXI. Theo tổ
chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) thì toàn cầu hóa (globalisation) là quá
trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trởng dài hạn liên tục về ĐTNN và
nguồn lực quốc tế, và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với qui mô toàn cầu
những hình thức mới về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia.
Sự kết hợp này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất
của cạnh tranh toàn cầu
Toàn cầu hoá có thể đợc hiểu là quá trình hoàn thiện tính chỉnh thể của nền
kinh tế thế giới để làm cho tính chất thống nhất và duy nhất của nó đợc gia tăng
không ngừng. Toàn cầu hoá liên quan mật thiết với quá trình tự do hoá và việc loại
bỏ dần tính tách biệt, khác biệt thành sự hội nhập tự giác và hình thành những mối
quan hệ kinh tế tơng đồng có tính chất quốc tế. Toàn cầu hoá trớc hết đợc xem xét
về mặt kinh tế nhng nó cũng có những khía cạnh nhất định liên quan đến khía
cạnh chính trị, lối sống, văn hoá và xã hội cũng nh tâm lý, thói quen.
Cho đến nay có nhiều khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế. Một cách
thông thờng, có thể hiểu: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các
thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thơng lợng, ký kết và tuân thủ các cam kết
song phơng, đa phơng và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ
hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế. Theo quan niệm
của Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế Quốc dân thì Hội nhập kinh tế là quá
trình loại bỏ dần các hàng rào thơng mại quốc tế, thanh toán quốc tế và việc di
5
chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nớc .
Tuy nhiên, khái niệm tơng đối phổ biến, đợc nhiều nớc hiện nay chấp nhận,
đó là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của một n ớc vào các tổ
chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nớc
thành viên có sự ràng buộc theo những qui định chung của khối. Nói cách khác,
6
Tuy nhiên, bên cạnh những khía cạnh tích cực trên, hội nhập kinh tế quốc tế
cũng có thể đa tới tình trạng dễ tổn thơng của nền kinh tế quốc gia, tình trạng lệ
thuộc bên ngoài về kinh tế và chủ quyền quốc gia, tình trạng đối xử thiếu công
bằng giữa các thành viên cũng nh gây sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp.
Từ khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên cần xác định rõ nội
dung của quá trình hội nhập kinh tế để từ đó thấy rõ những công việc cần làm ở
mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị. Trong thực tiễn, quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế diễn ra rất phong phú và đa dạng nhng có thể thấy nó tập trung ở những nội
dung chủ yếu sau đây:
- Tiếp cận thị trờng thế giới cả về bề rộng và bề sâu với các thông tin cập
nhật và có khả năng dự báo đợc. Nội dung này đặt ra không những đối với cơ quản
lý và hoạch định chính sách mà đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản
xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế đề vừa đảm bảo cho sự tăng tr-
ởng bền vững của nền kinh tế trong nớc, vừa phát huy lợi thế so sánh và chủ động
tham gia vào phân công lao động quốc tế, nâng cao khả năng xâm nhập thị trờng
quốc tế của hàng hoá dịch vụ.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia, của từng ngành
và từng doanh nghiệp thông qua việc áp dụng mọi biện pháp để giảm thiểu các
chi phí đầu vào, các chi phí trung gian không cần thiết, áp dụng công nghệ mới để
nâng cao chất lợng hàng hoá dịch vụ, thờng xuyên cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, bao
bì hàng hoá để ngời tiêu dùng trong và ngoài nớc chấp nhận.
- Công tác quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế phải tạo nên sự phản ứng
linh hoạt, chuẩn xác trớc những đòi hỏi và diễn biến của thị trờng thế giới; phối
hợp có hiệu quả giữa định hớng kế hoạch của Nhà nớc với cơ chế thị trờng; thực
hiện tốt các cơ chế tự vệ, tránh sự lệ thuộc, tránh bị tổn thơng trớc tác động của thị
trờng thế giới.
- Tạo điều kiện về thể chế, chính sách và tâm lý thuận lợi cho sự phát triển
bình đẳng mọi thành phần kinh tế, trong đó một mặt chú trọng tiếp tục cải cách
chính sách
thuế quan với
các nớc không
phải thành
viên
Sức lao
động và
vốn đầu t
di chuyển
tự do
Thống nhất dự trữ
tiền tệ, phát hành
đồng tiền tập thể,
thống nhất giao
dịch tiền tệ và chính
sách hối đoái
Thống nhất và kết
hợp hài hoà các
chính sách kinh tế,
tài khoá, tiền tệ,
hình thành cơ cấu
kinh tế khu vực
Khu vực
mậu dịch tự
do
Có Không Không Không Không
Đồng minh
thuế quan
Có Có Không Không Không
Thị trờng
ơng mại tự do Bắc Mỹ - North American Free Trade Agreement) trên cơ sở hiệp -
ớc thơng mại giữa Mỹ, Canada có hiệu lực vào năm 1989, đợc mở rộng với sự
tham gia của Mêhicô vào hiệp ớc này năm 1994, còn AFTA chính là Khu vực mậu
dịch tự do của các nớc ASEAN đợc khởi đầu từ 1/1/1993 và cơ bản sẽ hoàn tất
lịch trình hội nhập của nó vào năm 2003. Một số nớc thành viên của khu vực này
do gia nhập chậm hơn nên tiến trình này có thể kéo dài đến năm 2006 và năm
2008.
Khu vực mậu dịch tự do là hình thức đơn giản nhất của hội nhập kinh tế
quốc tế, tuy nhiên, để đi đến hình thức hội nhập ổn định này, các quốc gia thành
viên có thể áp dụng một hình thức quá độ là xây dựng khu vực u đãi thơng mại
hoặc những hình thức tơng tự.
b- Đồng minh thuế quan (the Custom Unions)
Đồng minh thuế quan là bớc cao hơn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Giống nh các thành viên trong FTA, các thành viên trong đồng minh thuế quan
cũng loại bỏ hàng rào về thơng mại hàng hóa và dịch vụ giữa các nớc này. Ví dụ,
Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) ra đời vào năm 1957 bao gồm CHLB Đức,
Pháp, ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Trình độ liên kết cao hơn của loại hình đồng
minh thuế quan cũng thể hiện ở việc thiết lập một chính sách thơng mại chung cho
9
các thành viên không thuộc đồng minh thuế quan đó.
Với hình thức liên kết kinh tế này, chính sách mậu dịch của các nớc thành
viên trở thành một bộ phận của chính sách mậu dịch của các nớc trong cộng đồng.
Ví dụ, một hình thức thuế nhập khẩu từ các nớc không thuộc đồng minh thuế quan
thì chịu cùng một thuế xuất nhập khẩu khi bán cho bất kỳ thành viên nào. Hiệp
định chung về thơng mại và thuế quan (GATT-General Agreement for Trade and
Tariffs) cũng là một hình thức của liên kết này. Việc chuyển từ Hiệp định chung
về thơng mại và thuế quan lên thành Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) có thể
làm tăng cờng hơn đặc trng và mở rộng phạm vi của loại hình liên kết này.
c- Thị trờng chung (Common Market)
Bớc tiếp theo của chuỗi hội nhập kinh tế quốc tế là thị trờng chung (Common
kinh tế cần sự hội nhập chính sách kinh tế hơn là sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ
và yếu tố sản xuất qua biên giới. Liên minh Châu Âu (EU - European Union) đợc
thành lập từ năm 1993 đợc coi là một liên kết kinh tế. Thông qua liên minh kinh tế
quốc tế, các thành viên sẽ hòa hợp chính sách tiền tệ, chính sách thuế và chính
sách chi tiêu Chính phủ. Hơn nữa, tất cả các thành viên sẽ sử dụng chung một đơn
vị tiền tệ thống nhất. Điều này có thể thực hiện trong thực tế bởi một tỷ giá hối
đoái cố định. Rõ ràng việc hình thành liên minh kinh tế cần đòi hỏi các quốc gia
bỏ qua một phần lớn chủ quyền quốc gia. Hệ thống chính trị toàn cầu cho đến nay
vẫn dựa trên sự tự chủ và quyền lực tối cao của các quốc gia, bởi vậy việc giảm bớt
quyền lực Nhà nớc sẽ chắc chắn luôn gặp phải sự phản ứng gay gắt.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu diễn ra đối
với các tổ chức dới góc độ là một quốc gia. Bởi vì hầu hết các nớc trên thế giới đều
nhận thức rằng muốn phát triển hệ thống kinh tế xã hội của mình thì phải mở cửa
ra bên ngoài, tức là tất yếu phải tham gia vào hội nhập. Tuy nhiên, hội nhập kinh
tế quốc tế không chỉ có những ảnh hởng tích cực mà còn có những ảnh hởng tiêu
cực đến các quốc gia thành viên, và tất nhiên sự tác động tích cực hoặc tiêu cực
này cũng ảnh hởng tới các tổ chức có qui mô nhỏ hơn nằm trong hệ thống quốc
gia đó. Do vậy, hoạt động quản lý các tổ chức hiện nay và tơng lai tất yếu phải
phân tích và gắn với xu thế toàn cầu hóa này.
Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế nêu trên là những nấc thang của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng hoạt động dựa trên 5 nguyên tắc sau (đây
cũng chính là 5 nguyên tắc hoạt động của WTO):
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng
giữa các nớc thành viên với nhau cũng nh trên thị trờng mỗi nớc. Nguyên tắc này
đợc cụ thể thành quy chế tối huệ quốc (tất cả hàng hoá, dịch vụ và công ty của các
nớc đối tác đều đợc hởng một chính sách chung bình đẳng) và quy chế đối xử
quốc gia (tức là không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và ngời sản xuất
của mình với hàng hoá, dịch vụ và ngời sản xuất nớc khác trên thị trờng nội địa).
11
- Nguyên tắc tiếp cận thị trờng nhằm tạo ra một môi trờng thơng mại mà bất
Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trờng thế giới và chủ động tham gia vào phân
công lao động quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực để phát triển
bền vững.
12
Hiện nay, xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi
bức xúc của các dân tộc và các nớc trên thế giới. Các nớc đều cần có môi trờng
hoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa; các nền kinh tế ngày càng gắn
bó, tuỳ thuộc lẫn nhau, tạo động lực cho tăng trởng kinh tế; các thể chể đa phơng
trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng tăng cùng với sự phát triển của ý thức
độc lập tự chủ, tự lực tự cờng của các dân tộc.
Toàn cầu hoá đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan
hệ quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực l-
ợng sản xuất đợc quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt
là lĩnh vực công nghệ thông tin, đã đa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫn tới sự
hình thành những mạng lới toàn cầu. Trớc những biến đổi to lớn về khoa học công
nghệ này, tất cả các nớc trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều
chỉnh chính sách theo hớng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và
phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động và kỹ
thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, mở đờng cho kinh tế quốc tế phát
triển.
Đại diện cho xu thế toàn cầu hoá này là sự ra đời của Hiệp định chung về
thuế quan và thơng mại - GATT vào năm 1948 với 23 nớc thành viên sáng lập với
mục tiêu xác lập những nguyên tắc điều chỉnh và thúc đẩy thơng mại quốc tế phục
vụ cho phát triển kinh tế của mỗi nớc thành viên. Kể từ 1/1/1995, GATT đã đợc
đổi thành Tổ chức thơng mại Thế giới (WTO) có vai trò điều tiết không chỉ thơng
mại hàng hoá mà mở rộng sang cả thơng mại dịch vụ, đầu t, quyền sở hữu trí tuệ.
Đến nay, với 143 nớc thành viên chiếm trên 90% tổng kim ngạch thơng mại thế
giới, WTO trở thành một tổ chức có qui mô toàn cầu và là nền tảng pháp lý cho
quan hệ kinh tế quốc tế, là diễn đàn thờng trực đàm phán thơng mại và là thể chế
Tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nớc tăng lên làm cho tất cả các nớc phải thờng
xuyên có những cải cách kịp thời trong nớc để thích ứng với những sự biến động
trên thế giới.
Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp
phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân
tộc của mỗi nớc thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan
xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các nớc khác. [3], [10], [24]
1.1.4. Những tác động của việc tham gia vào khu vực Mậu dịch tự do
[14], [25], [30]
Việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do có những tác động nhất định đối với
các nớc tham gia. Những biểu hiện của các ảnh hởng này rất đa dạng. Những ảnh
hởng chủ yếu của việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của một nớc đợc thể
hiện ở việc tạo lập mậu dịch và chuyển hớng mậu dịch
1.1.4.1. Tạo lập mậu dịch
14
Quá trình tạo lập mậu dịch thông qua việc tham gia vào Khu vực mậu dịch
tự do thể hiện ở việc mở rộng khả năng xuất-nhập khẩu giữa các nớc thành viên.
Nhờ việc bãi bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nớc mà giá cả
hàng hoá lu chuyển giữa các nớc trở nên rẻ hơn trớc, nhu cầu của ngời tiêu dùng ở
các nớc vì thế có cơ hội tăng lên. Kết quả của quá trình này là khối lợng các hàng
hoá và dịch vụ trao đổi giữa các nớc đợc mở rộng. Việc mở rộng hoạt động xuất
nhập khẩu đã làm tăng khả năng khai thác các nguồn lực của các quốc gia một
cách có hiệu quả. Việc tạo lập mậu dịch còn làm tăng thêm phúc lợi của các ngành
sản xuất nội địa do việc thay thế các ngành có chi phí sản xuất cao bằng các ngành
có chi phí sản xuất thấp hơn. Cơ hội có việc làm của ngời lao động tăng lên.
1.1.4.2. Chuyển hớng mậu dịch
Việc tạo lập Khu vực mậu dịch tự do còn góp phần chuyển hớng mậu dịch
giữa các quốc gia. Điều này đợc thể hiện ở việc các quốc gia thành viên sẽ trở
thành đối tác buôn bán với nhau thay cho cho các quốc gia không phải là thành
viên. Các điều kiện buôn bán giữa các quốc gia trong khu vực trở nên thuận tiện
ợc tăng cờng thêm khi các ngành sản xuất đợc mở rộng đợc thị trờng rộng quy mô
và do đó còn tạo ra đợc hiệu quả kinh tế mới do quy mô sản xuất tăng lên mang
lại. Kết quả của quá trình này còn đợc thể hiện ở việc tái cấu trúc nền kinh tế và
phát huy những lợi thế của cơ cấu kinh tế hớng ngoại.
- Các ngành sản xuất ở các nớc có thể tham gia hoạt động thơng mại quốc
tế nội bộ khu vực có hiệu quả cần phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao
động và hạ giá thành sản phẩm. Để đạt đợc mục tiêu đó, các ngành sản xuất phải
nhanh chóng áp dụng khoa học công nghệ mới, tiếp thu những kinh nghiệm
quản lý tiên tiến và phải xây dựng các chiến lợc kinh doanh thích hợp.
- Việc mở rộng xuất khẩu sẽ góp phần làm thăng bằng cán cân thanh toán
quốc tế của quốc gia, tăng dự trữ ngoại tệ và làm năng động hoá các hoạt động tín
dụng, tài chính trong nội bộ và giữa các nớc. Mở rộng xuất khẩu là cơ sở để tăng
nguồn vốn tích luỹ cho đầu t phát triển. Đây là cơ sở để tăng trởng kinh tế ổn định
và bền vững của các quốc gia.
Bên cạnh những lợi ích kinh tế chủ yếu do tham gia vào Khu vực mậu dịch
tự do mang lại trên đây, các quốc gia khi tham gia vào liên kết kinh tế khu vực cần
xử lý không ít những vấn đề phát sinh bao gồm:
- Điều chỉnh lại các cân đối lớn trong nền kinh tế khi xoá bỏ các hàng rào
thuế quan và phi thuế quan, thay đổi chính sách tài khoá, chính sách tỷ giá hối
đoái...
- Giải quyết tình trạng việc làm cho ngời lao động và tái đào tạo lại đội ngũ
lao động theo những mục tiêu phát triển đạt ra của các nớc trong cộng đồng.
- Thiết lập các khuôn khổ chung với các nớc thành viên bao gồm hệ thống
pháp luật chính sách, các loại quy định về thủ tục hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật,
môi trờng sinh thái, giáo dục đào tạo, văn hoá - khoa học...
16
- Giải quyết những vấn đề liên quan đến sự bình đẳng, công bằng giữa các
thành viên trong xã hội và giữa các nớc trong nội bộ khu vực cũng nh xử lý những
vấn đề trong quan hệ giữa các nớc thành viên trong khu vực với các nớc ngoài khu
vực.
17
- Thu hút các nhà đầu t nớc ngoài vào khu vực bằng việc đa ra một khối thị
trờng thống nhất;
- Tạo điều kiện để ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế
đang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển các thoả thuận thơng mại khu vực (RTA)
trên thế giới.
Trong ba mục tiêu trên, mục tiêu đầu tiên không phải và mục tiêu quan
trọng nhất của AFTA bởi vì thị trờng của ASEAN không lớn vì nguồn cung các
sản phẩm chế tạo nằm ngoài khu vực. Hơn nữa mặc dù có tốc độ tăng trởng cao,
song phần lớn các nớc trong khu vực vẫn là các nớc đang phát triển cho nên phụ
thuộc nhiều vào đầu t, công nghệ, bí quyết quản lý của nớc ngoài.
Mục tiêu thu hút đầu t nớc ngo ài là mục tiêu trung tâm của AFTA. Điều
này chủ yếu là do áp lực cạnh tranh trong thu hút đầu t nớc ngoài của các nớc.
Khi AFTA trở thành một khu vực sản xuất thống nhất, quá trình chuyên môn hoá
sản xuất nội bộ khu vực và khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế khác nhau
trở nên hợp lý hơn.
Mục tiêu thứ ba gắn với các yếu tố không thuận lợi của môi trờng thơng mại.
Các nớc phát triển trên thế giới thiên về phát triển các thoả thuận thơng mại khu vực
để bảo hộ thị trờng đối với các sản phẩm của các nớc Đông á. Sự ra đời của AFTA
đáp lại khuynh hớng tăng lên của chủ nghĩa khu vực trên thế giới.
Theo xu hớng mở rộng liên kết giữa các nớc, đặc biệt là với sức ép của các
tổ chức thơng mại khác nh tổ chức thơng mại Thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC) đã đẩy nhanh tốc độ thực hiện của
AFTA và chắc chắn sẽ đa AFTA tiến tới cấp độ liên kết kinh tế cao hơn theo đúng
quy luật vận động kinh tế quốc tế.
Các quy định chung về AFTA
Khu vực mậu dịch tự do AFTA đợc hình thành thông qua các yếu tố sau
đây:
- Chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT - The Common
Effective preferential Tariff Scheme);
trực tiếp lên Hội nghị Bộ trởng kinh tế (AEM). Việt Nam cử Bộ trởng Bộ Tài
chính tham gia Hội đồng AFTA.
Sơ đồ 1- Cơ cấu thể chế của hợp tác kinh tế ASEAN
19
Hội nghị Bộ trưởng
Kinh tế (ASEM)
Các nước ASEAN
UB Điều phối về
đầu tư (AIA)
Hội đồng AFTA
(AFTA Council)
Phòng Thương mại
và công nghiệp
ASEAN (CCI)
UB Điều phối về
CEPT để thực hiện
AFTA (CCCA)
Hội nghị các quan
chức cấp cao
ASEAN (SEOM)
UB Điều phối về
dịch vụ (CCS)
Ban thư ký ASEAN
(ASEAN
Secretariat)
Các thể
chế khác
Các nhóm
công tác
Các UB
diện các lĩnh vực đã đợc đặt ra sẽ dẫn AFTA đến một Liên minh kinh tế theo đúng
quy luật của sự hội nhập kinh tế quốc tế.
Các nền kinh tế thành viên trong khối mậu dịch tự do AFTA có sự chênh
lệch về trình độ phát triển, khác nhau về khả năng xuất khẩu, về mức độ cạnh
tranh của hàng hoá trên thị trờng, tiềm lực tài chính, tiềm lực công nghệ, những
nguyên tắc ứng xử tối cao trong nội bộ khối là nguyên tắc đối đẳng, tôn trọng
lẫn nhau và các bên cùng có lợi.
AFTA đang ở trong giai đoạn đầu của sự thành lập và hoạt động do đó sẽ
còn chịu sự ảnh hởng của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu á- Thái Bình Dơng (APEC) có quy mô và phạm vi lớn hơn mà những
tổ chức này đang trong quá trình hoàn thiện cho nên việc phát triển AFTA cũng
gần với việc tạo ra những khuôn khổ mới cả về chiều rộng và chiều sâu cho sự
phát triển lâu dài của khối thích hợp với điều kiện trong nội bộ khối và thích hợp
với khuôn khổ chung của cơ chế thơng mại liên châu lục và cơ chế thơng mại toàn
thế giới.
Tiến trình hội nhập vào AFTA của các nớc ASEAN
Tiến trình hội nhập vào AFTA của các nớc ASEAN thể hiện tập trung ở tiến
trình cắt giảm thuế quan và các hạn chế phi mậu dịch. Tiến trình cắt giảm thuế
quan đợc chia làm hai loại:
- Đối với danh mục hàng hoá cắt giảm bình thờng:
Các loại sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống dới 0% vào ngày
1/11/1998 và sau đó xuống còn 0-5% vào 1/1/2003.
Các loại sản phẩm có thuế suất 20% hoặc dới mức 20% đợc giảm xuống
đến 0-5% vào 1/1/2000
- Đối với danh mục hàng hoá cắt giảm nhanh: Các sản phẩm có tỷ lệ thuế
trên 20% đợc giảm xuống 0-5% vào 1/1/2000. Các sản phẩm có tỷ lệ thuế ở mức
20% hoặc thấp hơn đợc giảm đến 0-5% vào 1/1/1998.
21
Điểm cần lu ý ở đây là tiến trình cắt giảm thuế quan của AFTA đã rút
xuống từ 15 năm đến 10 năm. Các nớc trong khối AFTA ứng xử với tiến trình này
cách thị trờng chứng khoán để thu hút vốn đầu t dới các kênh khác nhau.
1.2.4. Chơng trình CEPT [2], [6], [7], [32], [49]
a. Nội dung loại bỏ hàng rào thuế quan:
22
Những nội dung chính trong việc loại bỏ hàng rào thuế quan của AFTA đợc
hoạch định nh sau:
Các nớc thành viên ASEAN sẽ thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu cho hàng
hoá có xuất xứ ASEAN theo lộ trình trong vòng 15 năm để xuống tới 0-5%. Việc
cắt giảm thuế bắt đầu từ ngày 1/1/1993 và hoàn thành vào ngày 1/1/2008.
Tuy nhiên, trớc xu hớng tự do hoá thơng mại toàn cầu đang đợc thúc đẩy
mạnh mẽ và xuất phát từ nhu cầu tăng cờng hợp tác phát triển của các thành viên,
ASEAN đã quyết định đẩy nhanh quá trình tự do hoá thơng mại trong khu vực.
Đặc biệt, sau Hội nghị thợng đỉnh lần thứ 6 năm 1998, thời hạn này đã đợc đẩy
nhanh, đến ngày 1/1/2003 cho 6 thành viên cũ, bao gồm Indonesia, Malaysia,
Philippines, Singapore, Thailand và Brunei. Với Việt Nam thời hạn hoàn thành cắt
giảm thuế quan là năm 2006.
Phạm vi áp dụng của Hiệp định CEPT trong AFTA bao gồm tất cả các hàng
hoá có xuất xứ ASEAN, bao gồm hàng hoá công nghiệp, các sản phẩm nông
nghiệp chế biến. Riêng đối với nông sản cha chế biến mang tính chất nhạy cảm
với nền kinh tế của các nớc ASEAN, tới tận AEM - 26 ngày 22-23/9/1994, các n-
ớc mới đa loại sản phẩm này vào phạm vi thực hiện Hiệp định CEPT với những qui
định đặc biệt riêng về thời hạn bắt đầu và kết thúc cắt giảm thuế, mức thuế suất
bắt đầu và khi hoàn thành cắt giảm. Các sản phẩm đợc xác định là cần thiết để bảo
vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con
ngời và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo
cố học của các nớc thành viên ASEAN sẽ không đợc đa vào Hiệp định CEPT.
Các danh mục hàng hoá:
Để triển khai AFTA, các nớc ASEAN phân loại các hàng hoá trong biểu thuế
nhập khẩu thành bốn danh mục với lộ trình cắt giảm đợc xây dựng cho từng danh
mục cụ thể. Nội dung và lộ trình cắt giảm thuế của từng danh mục nh sau:
hàng nông sản cha chế biến đối với phần lớn các nớc ASEAN, cũng nh do
số lợng các nhóm mặt hàng lớn, thuế quan nhập khẩu cao đợc các nớc áp
dụng đối với những mặt hàng này, tại hội nghị AEM26 ngày
22-23/9/1994, các Bộ trởng Kinh tế đã quyết định đa nông sản cha chế
biến vào phạm vi của Hiệp định CEPT để thực hiện AFTA. Theo quyết
định tại Hội nghị này, các sản phẩm nông sản cha chế biến đợc phân loại
thành ba danh mục: Danh mục cắt giảm ngay, Danh mục loại trừ tạm thời
và Danh mục nhạy cảm.
Đối với hai danh mục đầu, lộ trình cắt giảm thuế sẽ thực hiện theo lộ trình
chung cùng với các mặt hàng khác thuộc danh mục, tức là sẽ đạt đến mức thuế 0
5% vào năm 2002 cho các nớc ASEAN-6, năm 2006 cho Việt nam, năm 2008
cho Lào và Mianma.
Đối với các sản phẩm trong Danh mục nhạy cảm, việc cắt giảm sẽ đợc xử lý
theo cơ chế riêng. Các nớc đã nhất trí về sự cần thiết phải có một thoả thuận đặc
biệt đối với việc cắt giảm thuế cho Danh mục này. Tại Hội nghị Hội đồng AFTA
lần thứ 4 năm 1996, các nớc đã nhất trí thời hạn để đa các sản phẩm hàng hoá
24
trong Danh mục này vào Hiệp định CEPT từ 1/1/2010. Trên cơ sở các tiến triển từ
Hội nghị này, tại Hội nghị AEM-31 tháng 9/1999, các Bộ trởng kinh tế ASEAN
đã chính thức ký kết Nghị định th về các sản phẩm nhạy cảm và nhạy cảm cao để
thể chế hoá lộ trình cắt giảm thuế quan các sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm theo
Hiệp định CEPT.
Vấn đề dành thời gian cho thành viên mới để triển khai các chơng trình
hợp tác:
Một nguyên tắc đợc các nớc ASEAN chấp thuận đó là căn cứ vào thời điểm
gia nhập, tình hình phát triển kinh tế xã hội của các thành viên mới mà các nớc
thành viên luôn tạo điều kiện về mặt thời gian để các thành viên mới này có đủ
thời gian thực hiện các chơng trình hợp tác.
Đối với Việt Nam, vì tham gia thực hiện Hiệp định CEPT chậm hơn các nớc
thành viên khác 3 năm (bắt đầu t ngày 1/1/1996), do đó thời hạn thực hiện các lộ