31
31
- Sắp xếp quy trình hoạt động của các khâu tổ chức: dự trữ sản
xuất, sản xuất, sản xuất chế biến, tiêu thụ với các yếu tố sản xuất
một cách thông suốt, gắn sản xuất với thị trường.
Như vậy, trong việc sản xuất kinh doanh phải được xác định rất
rõ ràng, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sản
xuất của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
được sản xuất liên tục trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời lao
động, cơ sở vật chất kỹ thuật không bị nhàn rỗi, vốn được chu
chuyển thường xuyên.
Tổ chức bộ máy quản lý, tuỳ thuộc vào cơ cấu và tổ chức sản
xuất và cơ chế kinh tế kinh doanh nhằm quản lý có hiệu lực, phục
vụ đắc lực cho sản xuất - kinh doanh:
- Phát triển hợp tác hoá, tập trung hoá sản xuất và liên hiệp sản
xuất như khoa học - kỹ thuật - thiết kế - đầu tư sản xuất - tiêu thụ -
dịch vụ.
- Phát triển chuyên môn hoá sản xuất và dịch vụ.
- Các cơ quan Nhà nước gọi đối tượng quản lý và chức năng
quản lý vào các vấn đề chiến lược và chính sách cơ bản; chuyển từ
chỗ trực tiếp điều hành sang tạo môi trường kinh tế cho các đơn vị
kinh tế hoạt động một cách độc lập, chuyển từ chỗ nặng về áp dụng
các biện pháp hành chính sang việc kết hợp các biện pháp kinh tế
với các biện pháp hành chính, trong đó các biện pháp kinh tế.
- Mở rộng quyền tự chủ và chủ động kinh tế, thực hiện hạch
thẩm thấu vào các thành phần kinh tế khác qua việc mua cổ phần
của các doanh nghiệp đó, từ đó phát huy tác dụng định hướng cho
các thành phần khác.
Xuất phát từ chủ trương “xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm” chính phủ phát huy vai trò người cầm lái đối với doanh
nghiệp, đã đặt tư tưởng và pháp lý cho một phong cách và một thể
chế làm việc mới: Chính phủ hợp tác đối thoại thẳng thắn, bình
đẳng với doanh nghiệp, cải tiến tổ chức các doanh nghiệp và xác
định rõ các quyền tự chủ để trao đổi lại cho doanh nghiệp, sẽ tạo ra
sự gắn bó mới, sự đồng tâm nhất trí mới, động lực mới cho cả hai
bên - người cầm lái và người chèo thuyền.
Hơn 10 năm qua, các loại hình doanh nghiệp ở nước ta phát
triển một cách nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng, đã góp
phần to lớn vào sự phát triển một cách nhanh chóng cả về số lượng
lẫn chất lượng, đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế và xã
hội của đất nước. Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam
hoạt động tại các đô thị và các khu công nghiệp, các doanh nghiệp 33
33
ngoài quốc doanh tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực là thương mại
và dịch vụ và công nghiệp chế biến. Theo số liệu của Tổng cục quản
lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, trong số 33724 doanh
nghiệp ngoài quốc doanh thì có 27775 doanh nghiệp tư nhân với số
vốn điều lệ là 4084 tỷ đồng, 8775 công ty trách nhiệm hữu hạn với
34
Song song với quá trình thành các chủ thể sản xuất kinh doanh
tự chủ, phải từng bước phát triển hệ thống thị trường về tất cả các
yếu tố sản xuất, hình thành thị trường thông suốt trong cả nước và
từng bước gắn với thị trường thế giới.
Đổi mới quản lý vĩ mô của Nhà nước, tạo lập khuôn khổ pháp
lý cho kinh tế thị trường, và quan trọng hơn nữa là Nhà nước tạo ra
và sử dụng có hiệu quả các công cụ phù hợp với kinh tế thị trường,
đặc biệt là kế hoạch hoá và công cụ tài chính tiền tệ, để bảo đảm cân
đối và điều tiết kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên để hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà
nước, phải từng bước tháo gỡ giải toả cơ chế cũ.
Nhà nước đã thực hiện những bước đi có tính quyết định
chuyển mạnh sang cơ chế thị trường: áp dụng phổ biến cơ chế giá
thị trường, thương mại hoá tư liệu sản xuất, xoá bỏ cơ chế phân phối
theo kế hoạch với giá thấp phần lớn vật tư sản xuất đi đôi với bán
vật tư, hàng hoá cho nông dân theo giá thoả thuận đã xoá bỏ bức
tường giả tạo về hai thị trường, thúc đẩy tự do hoá lưu thông, hình
thành quan hệ mua bán bình thường, tự do kinh doanh theo giá cả
thị trường. Xoá bỏ phần lớn bao cấp qua bù giá, bù lỗ cho các doanh
nghiệp nhà nước, buộc các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển
sang cơ chế tự chủ về tài chính phải đối mặt với thị trường, xoá bỏ
cơ chế giao nộp sản phẩm, chỉ còn một nghĩa vụ nộp ngân sách nhà
nước. Qua đó cho thấy cơ chế thị trường bước đầu đã được hình
thành: giá cả thị trường hình thành theo quan hệ cung - cầu với quy
luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ đã trực tiếp tác động và
doanh nghiệp Nhà nước trong những khu vực, những khâu then chốt
của nền kinh tế: từ 12296 doanh nghiệp Nhà nước năm 1991 đến
tháng 7 - 1995 còn 5962 doanh nghiệp Nhà nước, giải thể hoặc
chuyển hình thức sở hữu trên 2000 doanh nghiệp Nhà nước, sáp
nhập gần 4000 doanh nghiệp Nhà nước thành doanh nghiệp lớn hơn.
Kinh tế quốc doanh trong 5 năm qua từ 1991 - 1995 đã có tốc độ
tăng trưởng gấp gần 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân nền kinh
tế, vầ gấp 2 lần so với tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh, hiệu quả kinh doanh tăng lên, số doanh nghiệp Nhà
nước bị làm ăn thua lỗ giảm xuống.
Đối với khu vực kinh tế cá thể, tư nhân và kinh tế hợp tác được
chú trọng phát triển. Với phương châm khuyến khích mọi người
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng theo
pháp luật, đồng thời ngăn chặn làm ăn phi pháp, hạn chế tác động
tiêu cực của cơ chế thị trường, đã từng bước hình thành khuôn khổ 36
36
pháp lý và cơ chế chính sách cho kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân và
kinh tế hợp tác pháp triển có hiệu quả theo định hướng của Nhà
nước.
Đặc biệt trong điều kiện đất nước tiến hành công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, và hội nhập thế giới thì vai trò của các doanh nghiệp
rất quan trọng, Nhà nước tạo môi trường thuận lợi để cho doanh
nghiệp nước ngoài đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước. Nhà
C. PHẦN KẾT LUẬN
Đất nước ta đang trên con đường phát triển đi lên và hội nhập
với thế giới. Để hoà nhập cùng sự phát triển chung của thế giới
không chỉ phát triển trên lĩnh vực chính trị mà quan trọng là phát
triển nền kinh tế. Với đa số dân số Việt Nam hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp, cho nên vai trò của các doanh nghiệp rất quan
trọng trong nền kinh tế nước ta hiện nay. Nhưng trong thực tế hiện
nay quy mô còn rất nhỏ bé, hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có
hiệu quả cao, đặc biệt là vốn đầu tư còn nhỏ bé, vốn và trang bị kỹ
thuật nhiều khi bị nhàn rỗi không được đưa vào dây chuyền sản
xuất, lưu thông hàng hoá chậm chạp, chưa nắm bắt được thị trường,
hàng sản xuất ra nhiều khi bị ứ đọng không bán được hoặc phải bán
ra với giá cả bằng hoặc nhỏ hơn chi phí sản xuất dẫn đến việc tuần
hoàn sản xuất không được liên tục. Nhiều doanh nghiệp phải tuyên
bố giải thể hoặc tạm ngừng sản xuất, hoặc sáp nhập vào doanh
nghiệp lớn, nền kinh tế đất nước ngày càng có nguy cơ bị giảm sút.
Đứng trước tình hình ấy Đảng và Nhà nước đã đề ra chính sách đổi
mới nền kinh tế, chuyển nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là
bước ngoặt căn bản đối với nền kinh tế đất nước nói chung và đối
với các doanh nghiệp nói riêng, mở ra một thị trường mới cho các
doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, thúc đẩy các doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài.
Các doanh nghiệp vận dụng cơ chế mới và vận dụng lý thuyết vào
thực tiễn đã dần dần hoà nhập vào nền kinh tế mới. Vốn đầu tư ngày
càng thu hút được nhiều từ trong nước và nước ngoài, hạn chế vốn ứ
đọng và đặc biệt là thiết bị máy móc không để nhàn rỗi mà luôn
được đưa vào hoạt động sản xuất, sau mỗi một chu kỳ sản xuất sản
lượng ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng nâng cao, thời gian
39
39
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các Mác - Tư bản - Quyển 2 - Tập I. Nhà xuất bản sự thật Hà
Nội - 1977
2. Các văn kiện Đại hội Đảng từ Đại hội IV đến dự thảo đại hội
IX.
3. Có một Việt Nam như thế - NXB chính trị quốc gia - Hà nội
1998
4. Kinh tế chính trị - NXB giáo dục - 1998
5. Nghiên cứu lý luận. Số 5 - 2000
6. Nhà nước và cơ chế thị trường - NXB trẻ.
7. Tạp chí sinh hoạt lý luận. Số 32 - 1999
8. Quản lý nhà nước. Nền kinh tế thị trường trong giai đoạn
hiện nay - NXB chính trị quốc gia. 40
40