31Trước CPH Sau CPH Chỉ tiêu Đơn vị
tính
1993 1994 1995 1996
1. Doanh thu Tr. đồng 11.200 13.493
18.624 25.639
2. Nộp ngân sách Tr. đồng 2.100 2.800 5.200 8.100
3. Lãi Tr. đồng 2.718 3.152 5.412 7.918
4. Thu nhập bình
quân người/tháng
1000
đồng
420 470 850 1.200
5. Lao động Người 380 400
Nguồn: Ban cổ phần Bộ tài chính
2.3.2. Thời kỳ sau thí điểm (từ cuối năm 1996 đến nay)
Thực hiện Nghị định 28/CP (7/5/1996) về chuyển các doanh
nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần, thời kỳ sau thí điểm cổ phần
hoá (từ cuối năm 1996 đến tháng 2 năm 1999) đã có 134 doanh
nghiệp được chuyển sang công ty cổ phần, tính chung cả thời kỳ thí
điểm hiện nay có tất cả 146 doanh nghiệp (theo báo cáo của Ban cổ
phần hoá, bộ tài chính). Từ bảng danh sách (phụ lục), chúng ta thấy
tốc độ cổ phần hoá diễn ra còn chậm, số các doanh nghiệp nhà nước
chuyển sang công ty cổ phần “nhỏ giọt” trong các năm 1993 - 1997,
cụ thể năm 1993: 2 donah nghiệp; năm 1994: 1 doanh nghiệp; năm
1995: 2 doanh nghiệp; năm 1996: 7 doanh nghiệp và năm 1997: 4
doanh nghiệp. Sang năm 1998 đã có sự tiến bộ: 102 doanh nghiệp.
phải cổ phần hoá thêm hơn 300 doanh nghiệp nữa.
Kết quả bước đầu.
Về phía doanh nghiệp, nhìn chung hoạt động của công ty cổ
phần sau khi cổ phần hoá đều có hiệu quả, các chỉ tiêu tăng nhiều
33
lần so với khi còn là doanh nghiệp nhà nước, biểu hiện trên cả 3 mặt
lợi ích của: lao động - doanh nghiệp - Nhà nước. Việc huy động vốn
của công ty cổ phần chủ yếu đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ
nên năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn trước, đem lại
lợi nhuận cao hơn.
Cơ câú vốn sở hữu trong các công ty cổ phần, tỷ lệ vốn sở hữu
nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất so với các sở hữu khác. Nhà nước
nắm từ 18% đến 51% (Bình quân 41%) cổ phần công ty; cổ đông là
người lao động từ 18% đến 50% cá biệt có doanh nghiệp trên 70%
(bình quân 30%) cổ phần công ty; số cổ phần còn lại là thuộc cổ
đông ngoài xã hội nắm giữ (bình quân 29%).
Về phía nhà nước, ngoài việc nhà nước tăng thu các khoản thu
từ doanh nghiệp như thuế lợi tức do doanh nghiệp hoạt động hiệu
quả, nhà nước còn thu được một lượng vốn từ các nguồn phát sinh
trong quá trình cổ phần hoá như số thu về tiền bán cổ phiếu. Ví dụ
số thu về cổ phần hoá tính đến hết năm 1997 như sau:
Tiền thu về bán cổ phiếu: 30. 207 triệu đồng
Lợi tức của Nhà nước tại các công ty cổ phần: 6.995 triệu đồng
Lãi tiền vay mua chịu cổ phần Nhà nước: 522 triệu đồng.
Tổng công: 37. 724 triệu đồng.
Về phía người lao động: người lao động đã gắn được kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình với lợi ích của bản thân,
của doanh nghiệp, đồng thời được tạo điều kiện làm chủ doanh
công ty, quyết định 315 và 330 về sắp xếp lại sản xuất trong khu vực
kinh tế nhà nước, Nghị định 388 - HĐBT về thành lập và giải thể
doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là Quyết định 202 - HĐBT và chỉ
thị 84 - TTg của Thủ tướng chính phủ về thí điểm cổ phần hoá một
số doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, còn có các quyết định, thông
35
tư của các bộ và liên bộ để cụ thể hoá việc thực hiện vấn đề này.
Điều này góp phần xác định rõ quan điểm và phương hướng chỉ đạo
thống nhất ở mọi cấp, mọi ngành cho đến từng doanh nghiệp triển
khai thực hiện.
- Tình hình kinh tế đất nước đã có nhiều biến đổi theo hướng
tích cực. Giá cả thị trường đã được duy trì tương đối ổn định, mức
lạm phát đã được kiềm chế đồng tiền Việt Nam đã giữ được giá, lãi
suất ở mức khuyến khích các hoạt động đầu tư vào sản xuất kinh
doanh. Điều này tạo cho điều kiện thuận lợi về tâm lý cho mọi người
muốn đầu tư thông qua hình thức mua cổ phiếu trong các doanh
nghiệp nhà nước được cổ phần hoá.
- Nhờ những đổi mới trong chính sách phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần của nhà nước mấy năm qua, thu nhập của dân
cư được nâng cao. Số người khá giả ở thành thị và nông thôn ngày
càng nhiều. Đây là lượng cầu tiềm năng cần phải đáp ứng cho các
chứng khoán phát hành ở những doanh nghiệp được cổ phần hoá.
- Hoạt động trong cơ chế thị trường với thời gian chưa lâu
nhưng đã xuất hiện đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp đã thích
ứng được về ý thức tác phong và hiệu quả công việc trong điều kiện
cạnh tranh về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Điều này sẽ làm
cho người đầu tư yên tâm bỏ vốn, góp phần thuận lợi cho việc cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
chứng khoán. Như trên đã trình bày, thị trường chứng khoán là trung
tâm phản ánh trạng thái hoạt động của các công ty cổ phần trong
một nền kinh tế thị trường: nó vừa là điều kiện vừa là tấm gương
phản chiếu sự ra đời và hoạt động của các công ty cũng như huy
động vốn trên thị trường tài chính.
2.2.3. Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp.
37
Việc xác định mục tiêu của các cổ phần hoá có ý nghĩa quan
trọng trong việc đề ra các hình thức cổ phần hoá, quy hoạch đối
tượng cổ phần hoá, mức độ cổ phần hoá cũng như các bước tiến
hành. Tuỳ t heo tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi nước
mà mục tiêu cổ phần hoá, tư nhân hoá ở các nước khác nhau được
xác định khác nhau.
Ở nước ta, mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước khác
nhiều so với các nước. Điều này bắt nguồn từ các nguyên tắc chi
phối quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước dưới đây:
Thứ nhất, việc cổ phần hoá phải góp phần nâng cao vai trò chủ
đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế nước nhà, làm cho tài
sản thuộc sở hữu của nhà nước được sử dụng có hiệu quả.
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu toàn dân mà nhà
nước là người đại diện chủ sở hữu. Do vậy, cổ phần hoá phải nằm
trong chương trình tổng thể và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
do nhà nước vạch ra chứ không thể do sự chủ động sáng tạo của
từng doanh nghiệp.
Các mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
được quy định trong Quyết định 202/CT ngày 8/6/1992, Nghị định
số 28/CP ngày 7/5/1996 chỉ giữ lại hai trong số ba mục tiêu quy định
trong Quyết định 202/CT. Theo quy định tại điều 1 Nghị định
đồng quản trị và thành viên ban kiểm soát, tham gia biểu quyết các
vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Có thể nói cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước làm thay đổi
phương thức quản lý trong doanh nghiệp. Những cán bộ quản lý
chủ chốt trong doanh nghiệp không phải chỉ do nhà nước cử mà do
đại hội đồng bầu ra. Người góp vốn có quyền bầu ra những người
39
mình cho là xứng đáng thay mặt họ quản lý doanh nghiệp. Những
cán bộ quản lý được bầu cũng phải hết sức với công ty để thúc đẩy
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Trong mục tiêu này, vấn đề
đáng quan tâm là thái độ của người lao động trong việc thựuc hiện
quyền làm chủ thực sự của mình. Trước đây trong các doanh nghiệp
Nhà nước chế độ bao cấp đã hình thành một nếp nghĩ phổ biến rằng
người lao động là đối tượng được Nhà nước chăm lo, được hưởng
một mức thu nhập nhất định. Do đó, khi doanh nghiệp Nhà nước
chuyển thành công ty cổ phần, người lao động dể nảy sinh tâm lý no
sợ về công ăn việc làm và thu nhập của bản thân. Vì vậy, để đạt
được mụctiêu này, Nhà nước phải có chính sách ưu đãi, hợp lý cho
người lao động làm việc trong doanh nghiệp.
Ngoài hai mục tiêu chính trên đây, quá trình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước ở nước ta còn góp phần:
- Giải quyết vấn đề ngân sách. Bời vì qua việc cổ phần hoá, một
mặt Nhà nước không còn phải bao cấp bằng vốn ngân sách cho các
doanh nghiệp Nhà nước yếu kém nữa. Mặt khác, Nhà nước bán được
một số tài sản bằng các cổ phần hoá sẽ có thêm nguồn thu cho ngân
sách và đưa các tài đó vào sử dụng có hiệu quả hơn cho xã hội.
- Giảm bớt sự can thiệp quá mức của Nhà nước và hoạt động
của các doanh nghiệp, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong kinh
thức được khó khăn trong cạnh tranh thị trường, và biết rằng doanh
nghiệp có thể nguy cơ suy sụp trong cuộc cạnh tranh thị trường ngày