11
Chương II:
THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
2.1. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh
tế nước ta.
2.1.1. Sự ra đời của doanh nghiệp nhà nước và hoạt động của
nó trong cơ chế cũ.
Hệ thống doanh nghiệp nhà nước ta đã có hơn 40 năm xây dựng
và phát triển. Trong thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta, các xí nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) là lực
lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Chúng được hình thành
từ 3 nguồn sau:
Thứ nhất, xây dựng bằng nguồn vốn của ngân sách nhà nước,
nguồn viện trợ hoặc đi vay (của Liên xô cũ, Trung Quốc và các nước
XHCN khác trong thời kỳ đó).
Thứ hai, quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà tư sản mại bản, tư
sản dân tộc đã bỏ ra nước ngoài hoặc xí nghiệp nhà nước của chế độ
cũ. Hình thức này được áp dụng rộng rãi trong những năm 50, 60
được tiếp tục trong những năm 70 và đỉnh cao vào năm 1975, 1976.
Thứ ba, biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tộc
thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp
quốc doanh.
Cũng giống các nước theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác
Việt Nam đã vận dụng học thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất, coi chế độ công hữu là nền tảng kinh tế
12
13
Các doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 85% vốn cố định của
nền kinh tế, 90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản lý
được đào tạo của cả nước. Nhà nước cũng ưu tiên dành nhiều nguồn
lực để phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Chỉ tính riêng trong
khoảng mười năm, từ 1976 đến 1985, nhà nước đã phân bố từ 60 -
70% vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và trên 90% vốn tín dụng
với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước.
Hàng năm các doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 30 -
40% tổng sản phẩm xã hội và 28 - 30% thu nhập quốc dân. Phần thu
của doanh nghiệp nhà nước từ doanh nghiệp nhà nước thông qua
doanh nghiệp nhà nước là phần thu lớn nhất, dao động hàng năm
trong khoảng 60 - 70%.
Do chúng ta duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan
liêu bao cấp trong khu vực doanh nghiệp nhà nước nên khu vực kinh
tế này đã bộc lộ những yếu kém nghiêm trọng. Đó là:
- Năng suất, chất lượng và hiệu quả rất thấp. Toàn bộ khu vực
doanh nghiệp nhà nước không vượt qua ngưỡng cửa tái sản xuấta
giản đơn. Tính chung trong vòng mười năm 1976 - 1985 tỉ lệ chi của
nhà nước và thu của doanh nghiệp nhà nước là 3:1.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thực thanh -
thực chi, giao đủ nộp đủ. Nhà nước bao cấp và quyết định giá đầu
vào, đầu ra, nên doanh nghiệp không phải tính toán hiệu quả kinh
doanh. Hoạt động thua lỗ có nhà nước gánh chịu.
- Sự phân phối thu nhập trong doanh nghiệp theo cách bình
quân đã làm suy yếu động lực kích thích lao động, làm việc có năng
suất, chất lượng và hiệu quả.
14
15
thực hiện việc đầu tư có định hướng để khắc phục bản chất “vô
chính phủ” của nền kinh tế thị trường, duy trì môi trường cạnh tranh
lành mạnh, chống xu hướng độc quyền của tập đoàn tư nhân, đi đầu
trong đổi mới công nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu
hướng năng suất - chất lượng - hiệu quả.
Như vậy, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước xuất phát
từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường nước ta và được
ghi thành chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước. Vai trò
luật định này là yếu tố quan trọng chi phối sự điều chỉnh pháp lý đối
với tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Để thực hiện
được vai trò đó trước hết phải kiên quyết đổi mới hệ thống doanh
nghiệp này. Việc đổi mới phải được đặt trong sự phát triển tổng thể
nền kinh tế quốc dân và phải xuất xứ từ thực trạng doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta.
2.1.3. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ta
hiện nay.
Trong cơ chế cũ, ở nước ta doanh nghiệp nhà nước tồn tại với
một số lượng khổng lồ. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tính đến
ngày 1 - 9 - 1990 cả nước có 12.084 doanh nghiệp trong tất cả các
ngành các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và do nhiều cấp quản
lý. Sau khi thực hiện việc tổ chức sắp xếp lại theo quyết định
315/HĐBT ngày 1 - 9 - 1990 và thành lập lại các doanh nghiệp nhà
nước theo nghị định 388/ HĐBT và ngày 20 - 11 - 1991 và sau hàng
loạt cải cách, đến nay doanh nghiệp nhà nước vẫn còn khoảng 5800
doanh nghiệp (theo số liệu của vụ đăng ký kinh doanh - Bộ kế hoạch
đầu tư). Trong đó có khoảng 30% là doanh nghiệp nhà nước do các
bộ ngành trung ương quản lý và khoảng 70% doanh nghiệp do uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý.
17
Đến nay vẫn còn 46,1% doanh nghiệp nhà nước có số lao động
dưới 100 người và gần 50% doanh nghiệp nhà nước có mức vốn
dưới 1 tỷ đồng, trong đó gần một nửa số vốn dưới 500 triệu đồng.
Các doanh nghiệp có số vốn lớn từ 100 tỷ trở lên chỉ chiếm 1,5%
tổng số doanh nghiệp. Số doanh nghiệp có từ 1000 lao động trở lên
chỉ chiếm 4% trong tổng số doanh nghiệp.
Vốn thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng
80% vốn hiện có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, tài sản mất
mát, kém phẩm chất chưa được xử lý. Riêng vốn lưu động có 14.239
tỷ đồng và chỉ có 50% được huy động vào kinh doanh, 50% còn lại
nằm ở lỗ, công nợ khó đòi.
Các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, do quy mô nhỏ,
vốn ít không có khả năng đầu tư trang thiết bị hiện đại, mở rộng sản
xuất kinh doanh nên yếu sức cạnh tranh trên thị trường.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả hoạt động của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Trừ một số rất
ít (18%) doanh nghiệp nhà nước mới được đầu tư (sau năm 1986)
còn chủ yếu được thành lập từ lâu có trình độ kỹ thuật thấp, công
nghệ lạc hậu. Giá trị còn lại của tài sản cố định trong doanh nghiệp
nhà nước là 61,4% so với nguyên giá.
Theo đánh giá của Bộ khoa học và công nghệ và môi trường:
máy móc thiết bị của doanh nghiệp nhà nước lạc hậu với thế giới từ
10 - 20 năm. Theo điều tra của Tổng cục thống kê: thiết bị của
doanh nghiệp nhà nước lạc hậu từ 2 - 3 thế hệ. Các doanh nghiệp
TW có tới 54,3% trình độ thủ công, 41% trình độ cơ khí và 3,7%
trình độ tự động. Doanh nghiệp địa phương còn lạc hậu hơn; chỉ có
2% trình độ tự động, 24% trình độ cơ khí và 74% trình độ thủ công.
19
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước còn
thấp. Mấy năm gần đây, sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nước
bắt đầu được phục hồi và phát triển, nhưng nhìn chung hiệu quả vẫn
còn thấp, thấp nhất là ở các ngành sản xuất vật chất. Trong các
doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động chỉ có 11,28% doanh nghiệp
có tỷ suất lợi nhuận từ 15%/năm trở lên trong ngành sản xuất vật
chất và 4,3% doanh nghiệp nhà nước có tỷ suất lợi nhuận từ
20%/năm trong các ngành dịch vụ.
Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu
vực kinh tế nhà nước cao gấp 2 lần so với kinh tế tư nhân. Hệ số
sinh lời của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất thấp. Hệ số sinh lời
của vốn lưu động tính chung chỉ đạt 7%/năm trong đó ngành giao
thông vận tải 2%/năm, ngành công nghiệp khoảng 3%/năm, ngành
thương nghiệp đạta 22%/năm.
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động thu lỗ chiếm tỷ trọng lớn.
Cụ thể ở thời điểm 1997 chỉ có 76% hoạt động có lãi ở mức thấp,
22% doanh nghiệp bị thua lỗ, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ
đồng/năm, 2% doanh nghiệp hoạt động không thua lỗ, nhưng không
có lãi. Các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các doanh
nghiệp nhà nước đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách nhà nước và là
một trong những nguyên nhân đưa đến việc bội chi ngân sách.
Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt
động theo cơ chế thị trường. Các chính sách kinh tế, tài chính đối
với doanh nghiệp nhà nước đã được thay đổi theo hướng tự do hoá
giá cả, chi phí ngân sách nhà nước cho bù lỗ, bù giá, bổ sung vốn
lưu động cho khu vực này đã giảm đáng kể. Nhưng tư tưởng bao cấp
trong đầu tư vẫn còn nặng nề. Hàng năm 85% vốn tín dụng với lãi
vô chủ hoặc quá nhiều chủ trong các doanh nghiệp Nhà nước. Do