Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng - Pdf 13


ubnd thành phố Hà Nội
sở y tế

Báo cáo tổng kết đề tài
nghiên cứu khoa học và công nghệ
cấp thành phố

Tên đề tài:

Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân
nội thành Hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí,
các tổn thất về kinh tế x hội do các bệnh này gây
nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng
ngừa, hạn chế tình trạng này 6834
05/5/2008

VSDTTW : Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ơng
VSV : Vi sinh vật
VTPQ : Viêm tiểu phế quản

Mục lục Trg
Thông tin chung
Mục tiêu đề tài
Các nội dung chính
Mục lục
1. Đặt vấn đề
1
2. Tổng quan tài liệu
7
2.1 Lịch sử nghiên cứu ô nhiễm môi trờng 7
2.2 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trờng ở nớc ngoài 11
2.3 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trờng trong nớc 36
3. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
41

3.1 Địa điểm nghiên cứu
41
3.1.1 Nghiên cứu ô nhiễm không khí chọn 5 khu vực đại diện cho
nội thành Hà Nội
41
3.1.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ ngời dân 41

3.2 Đối tợng nghiên cứu

66
4.2.2
Bụi và thành phần hoá học của bụi
75
4.2.3
Các hơi khí
90
4.2.4
Vi sinh vật, nấm mốc
108

4.3
Kết quả nghiên cứu bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí 114

4.4
Kết quả nghiên cứu tổn thất kinh tế do các bệnh liên quan
đến ô nhiễm không khí gây ra
154
5 Bàn luận
188
5.1 Tình hình ô nhiễm không khí 189
5.2 Tình hình bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí 213
5.3 Tổn thất kinh tế xã hội do các bệnh liên quan đến ô
nhiễm không khí gây nên
219
6 Đề xuất giải pháp
223
6.1 Giải pháp về y tế nhằm giảm thiểu tác động xấu của ô
nhiễm không khí tới sức khoẻ và giảm thiểu gánh nặng
bệnh tật và chi phí của cá nhân, gia đình và xã hội do hậu

bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn
chế tình trạng này
Mã số của đề tài: TC-MT/08-04-2
Thời gian thực hiện đề tài: 18 tháng (từ tháng 7/2004 đến tháng 12/2005)
Đơn vị thực hiện đề tài: Sở Y tế Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Lê Tuấn Phó giám đốc Sở Y tế Hà Nội
Cơ quan quản lý đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội
Cộng sự:
1. PGS.TS Lê Anh Tuấn Giám đốc Sở Y tế Hà Nội
2. PGS.TS Đoàn Huy Hậu CN Bộ môn DTH Học viện Quân y
3. PGS.TS Hoa Hữu Lân Trởng phòng Kế hoạch quản lý khoa học
Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội
4. PGS.TS Lê Khắc Đức Chủ nhiệm Bộ môn Vệ sinh Học viện Quân y
5. TS. Hoàng Văn Lơng Trởng phòng KHCN Học viện Quân y
6. PGS.TS Hoàng Xuân Cơ - Phó trởng phòng KHCN Trờng Đại học
Khoa học Tự nhiên
7. TS. Chu Văn Thăng CN Bộ môn sức khoẻ môi trờng Trờng Đại
học Y khoa Hà Nội
8. BS. Đỗ Lê Huấn Giám đốc Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
9. PGS.TS Ngô Quí Châu Trởng khoa hô hấp Bệnh viện Bạch mai
10. PGS.TS Lê Văn Nãi Trởng phòng môi trờng khí Trờng Đại
học Xây dựng Hà nội
11. BS. Trần Văn Chung Phó trởng phòng Kế hoạch Tài chính Sở Y
tế Hà nội
12. BS. Nguyễn Phơng Hiền Vụ Đại học và Sau đại học Bộ Giáo dục
và Đào tạo
13. BS. Bùi Công Đức Khoa YTLĐ Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
14. BS. Hoàng Minh Hiền Phòng TCCB Sở Y tế Hà Nội
15. BS. Nguyễn Mạnh Hùng Phó trởng khoa ATVSTP Trung tâm y
tế dự phòng Hà nội

Các nội dung chính
1. Đánh giá thực trạng một số yếu tố ô nhiễm không khí có nguy cơ cao đối
với sức khoẻ con ngời tại các cụm dân c nội thành Hà nội
1.1. Một số khái niệm về môi trờng không khí và các yếu tố gây ô nhiễm môi
trờng không khí
1.1.1. Môi trờng không khí và vai trò của không khí đối với mọi sinh vật và
cuộc sống con ngời
1.1.2. Sự ô nhiễm không khí, các yếu tố gây ô nhiễm môi trờng không khí
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm không khí; các tiêu chuẩn quốc gia và quốc
tế
1.2. Thực trạng ô nhiễm môi trờng không khí hiện nay
1.2.1. Ô nhiễm môi trờng không khí vấn đề có tính toàn cầu.
1.2.2. Thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay trên thế giới và các giải pháp
1.2.3. Thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay ở Việt Nam nói chung và tại thủ
đô Hà Nội nói riêng.
1.3. Kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng một số yếu tố ô nhiễm không khí có
nguy cơ cao đối với sức khoẻ của đề tài.
2. Đánh giá thực trạng một số bệnh có liên quan tới ô nhiễm không khí
của ngời dân nội thành Hà Nội
2.1. Các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí và hậu quả của chúng
- Hen phế quản, viêm mũi dị ứng và một số bệnh dị ứng
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Bệnh viêm phế quản mãn tính
- Bệnh mắt

hiệu quả đối với các bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trờng không khí cho
c dân thành phố.
4.1.3 Giải pháp về đầu t trang bị cho Ngành Y tế để khắc phục tình trạng ô
nhiễm và phòng ngừa bệnh tật do ô nhiễm không khí gây ra.
4.1.4 Giải pháp về nhân lực, tổ chức y tế và kinh tế y tế.
4.1.5 Giải pháp về kỹ thuật, thông tin y tế và quản lý điều hành.
4.1.6 Giải pháp về xã hội hoá công tác y tế phòng chông ô nhiễm không khí.
4.1.7 Xây dựng các quỹ dự phòng y tế cho ngời mắc bệnh ô nhiễm không khí
4.2. Giải pháp cơ bản lâu dài hạn chế ô nhiễm không khí liên quan đến các
chính sách phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hà Nội, gồm 3 giải pháp
con cụ thể :
4.2.1 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trờng do các cơ sở công nghiệp;
4.2.3 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trờng do các phơng tiện giao thông
đô thị.
4.2.3 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trờng khu dân c, khu thơng mại
dịch vụ.
4.3 Giải pháp tăng cờng thông tin giáo dục truyền thông (T- G T) nhằm
nâng cao nhận thức cho cộng đồng về chất lợng không khí ở Hà Nội, gồm 4
giải pháp con cụ thể:
4.3.1 Nội dung thông tin giáo dục truyền thông;
4.3.2 Các phơng tiện (các kênh) T - G - T cần thiết;
4.3.3 Phơng thức sử dụng các phơng tiện T- G T
4.3.4 Bảng Panel điện tử thông tin công cộng về chất lợng không khí
5. Kết luận và kiến nghị 1
Phần 1
Đặt vấn đề


lên sức khoẻ tại 7 thành phố lớn ở tất cả các châu lục thấy rằng đều có vấn đề về ô
nhiễm không khí và tác động rõ rệt lên sức khoẻ ngời lao động và nhân dân khu
vực xung quanh. WHO (1992) [143] sản xuất công nghiệp của thế giới đã thải
vào không khí 25 % khí NO
x
, 40 50 % khí SO
2
và gây ô nhiễm cho ngời lao
động và khu dân c tiếp giáp, hàng năm gây ra 146.000 ngời chết vì các bệnh do
ô nhiễm: Silicosis, bụi than phổi, ngộ độc chì, nhiễm độc đồng, bệnh da nghề
nghiệp. Theo UNEP (1989) [135] thấy có 11 thành phố (Hồng Kông, Thợng
Hải, Niu ớc, Luân Đôn, ) có nồng độ SO
2
ở mức tới hạn (40-60 àg/m
3
), 16
thành phố (Milan, Xơun, San Paolô, Pari, Bắc Kinh, Mandrít, Manila ) có nồng
độ SO
2
vợt tiêu chuẩn cho phép. UNEP ớc tính có khoảng 990 triệu ngời
(khoảng một nửa dân số đô thị) phải sống trong không khí bị ô nhiễm bởi SO
2
.
Theo UNEP có ô nhiễm trên là do công nghiệp và giao thông đã thải vào khí
quyển 110 triệu tấn SO
2
, 59 triệu tấn bụi lơ lửng, 69 triệu tấn oxytnitơ các loại
(NO
x
), 194 triệu tấn CO

Chi phí trực tiếp và gián tiếp cho bệnh là 23,9 tỉ đô la. ở Anh, mức độ lu
hành của COPD là 4 % ở nam và 2 % ở nữ (lứa tuổi trên 45), tính chung là 1,7
% ở nam và 1,4 % ở nữ (năm 1997) [15]. Theo Barnes P.J. (1997): từ 1990
1997 tỉ lệ mắc bệnh tăng 25 % ở nam và 69 % ở nữ, tổng chi phí cho bệnh là
818 triệu bảng Anh một năm [69]. Theo WHO (2002) [151] tại 8 thành phố lớn
của Italia ô nhiễm không khí đã tác động rõ rệt lên tỉ lệ nhập viện và tỉ lệ tử
vong do các bệnh hô hấp (viêm phế quản, hen phế quản ), bệnh tim mạch.
Theo Hội y học Canada (OMA) (2000) ô nhiễm không khí đã gây thiệt hại lớn
về kinh tế cho khám chữa bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí. Theo nghiên
cứu của Trung tâm bảo vệ môi trờng Hồng Kông (1998), ô nhiễm không khí do
NO
2
, SO
2
, bụi làm tăng chi phí các bệnh đờng hô hấp, tim mạch (khi tăng nồng
độ NO
2
lên 50 àg/m
3
làm tăng chi phí bệnh đờng hô hấp lên 522 triệu đô la
Hồng Kông và 451 triệu đô la Hồng Kông với bệnh tim mạch ).[151]
Tại Việt Nam, từ 1969 1971 viện VSDT TW đã nghiên cứu về ô nhiễm
không khí tại các khu công nghiệp và sức khoẻ công nhân. Đào Ngọc Phong và
cộng sự (1976-1985) [39] đã nghiên cứu về ô nhiễm không khí và sức khoẻ

4
ngời dân tiếp giáp khu công nghiệp. Phạm Ngọc Đăng, Đào Ngọc Phong
(1985-1995) [20] nghiên cứu ô nhiễm không khí vùng tiếp giáp khu công
nghiệp và sức khoẻ ngời dân tại các khu công nghiệp Hải Phòng, Việt Trì, Hồ
Chí Minh Tôn Thất Bách, Đào Ngọc Phong và cộng sự (1995-2000) [21]

và quận Ba Đình, Hoàn Kiếm đều vợt 0,5 mg/m
3
.
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà cũng ở mức báo động.
Theo Phạm Lê Tuấn và cộng sự nghiên cứu tình trạng Hen PQ ở trẻ em nội
thành Hà Nội (2003) [50] cho thấy việc đun nấu bằng các nguồn năng lợng
khác nhau trong nhà có ảnh hởng tác động đến sự xuất hiện cơn khó thở:

5
80,12% ngời HPQ ngửi mùi bếp gas thấy khó thở, tỷ lệ này ở gia đình đun than
là 21,74%; củi 8,07%; dầu hỏa 2,48%; 66,5% các trờng hợp Hen PQ gia đình
có ngời hút thuốc lá; 49,7% số trẻ bị HPQ xuất hiện cơn khó thở khi tiếp xúc
với các dị nguyên trong nhà nh lông chó, mèo, chim Mật độ dân c nội thành
Hà Nội rất đông, đặc biệt tại các khu dân c các quận nội thành, khu phố cổ.
Bình quân diện tích nhà ở là rất thấp, môi trờng sống không đảm bảo đặc biệt
là tình trạng ô nhiễm không khí.
Thủ đô Hà Nội với diện tích 927 km
2
, có 9 quận nội thành và 5 huyện
ngoại thành, dân số trên 2 triệu ngời, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá
của cả nớc. Những năm gần đây ở Hà Nội tốc độ đô thị hoá đang diễn ra rất
nhanh chóng, nhiều khu công nghiệp và khu dân c mới đợc hình thành.
Mật độ dân c nội thành Hà Nội rất đông, đặc biệt tại các khu dân c các
quận nội thành, khu phố cổ. Bình quân diện tích nhà ở là rất thấp, môi trờng
sống không đảm bảo đặc biệt là tình trạng ô nhiễm không khí; hoạt động giao
thông vận tải và sản xuất tăng nhanh, đời sống kinh tế và văn hoá của nhân dân
ngày càng đợc cải thiện. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển nhanh chóng đó
là mức độ ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng, đặc biệt là môi trờng không khí;
thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra rất nặng nề.
Cũng nh nhiều thành phố lớn khác ở Việt Nam, nguồn gây ô nhiễm

cần thiết. Đề tài nghiên cứu này nhằm các mục tiêu nh đã nêu ở phần mục tiêu.
7
Phần 2
tổng quan tài liệu

2.1. Lịch sử nghiên cứu ô nhiễm môi trờng:
Nguồn gây ô nhiễm không khí đầu tiên do con ngời gây ra là do quá
trình đun nấu thức ăn và sởi ấm (từ khi con ngời tìm ra lửa). Đây là hình
thức gây nhiễm bẩn không khí sớm nhất mặc dù khả năng gây tác động có
hại thờng không đáng kể [43].
Theo y văn ghi lại thì ngời ta đã đề cập vấn đề ô nhiễm không khí và
tác động của nó tới sức khỏe con ngời từ rất lâu. Hippocrate (danh y thời cổ
Hy Lạp, năm 460 - 377 trớc công nguyên), trong bài luận giải về không khí,
nớc và đất đã nói đến một vài bệnh do ô nhiễm trong quá trình lao động sản
xuất gây nên: bệnh do tiếp xúc với chì, bụi, nhng ít ngời quan tâm đến
những bệnh này [114].
Thế kỷ thứ nhất, Pline tác giả cuốn "lịch sử tự nhiên" (de historia
naturalis) đã nhắc đến một loại khẩu trang phòng hộ đeo ở mũi và miệng để
tránh hít phải các loại bụi và hơi chì do ô nhiễm không khí trong quá trình
sản xuất.
Thế kỷ thứ 2, Gallien đã nêu lên một vài bệnh do yếu tố nghề nghiệp
gây ô nhiễm phát sinh [51].
Theo Halliday E.C.A. trong bài "ôn lại lịch sử ô nhiễm không khí"
(Historical review of atmospheric pollution) khi mà củi đun nhờng chỗ cho
than đá là thời kỳ ô nhiễm không khí bắt đầu gây sự chú ý của mọi ngời
[63]. Năm 1306, ở Anh có sắc lệnh cấm đốt than ở những xởng thủ công
dọc 2 bên bờ sông của thành phố Luân đôn, vì đã gây ô nhiễm cho dân c ở

Nh vậy ô nhiễm không khí do sản xuất gây nên đã tác động trên sức
khỏe con ngời đợc biết đến từ rất sớm. Nhng chỉ khi nền sản xuất công
nghiệp phát triển, đặc biệt từ thế kỷ 19, thì ô nhiễm không khí mới thật sự trở

9
thành mối quan tâm của mọi ngời. Năm 1863, nớc Anh là quốc gia đầu
tiên ban hành đạo luật để giữ gìn không khí trong sạch, gọi là đạo luật Alcali
(Alcali Acts) và thành lập cơ quan thanh tra về môi trờng chống ô nhiễm
không khí. Cha đầy 1 năm sau, xuất hiện một pháp lệnh về chống ô nhiễm
không khí đợc thực thi ở Mỹ từ ngày 1/1/1864, do sản xuất Cacbonat
ancalin đã thải vào không khí một lợng không nhỏ axit clohydric. Và cũng
trong năm 1864, nhà ngoại giao George Rerkins Marsch đã đa ra quan niệm
về bảo vệ thiên nhiên, phòng chống ô nhiễm trong cuốn "con ngời và thiên
nhiên" [41].
Đầu thế kỷ 20, các ngành công nghiệp phát triển với tốc độ cao, nhiều
thủ đô, thành phố lớn của nhiều nớc đã trở thành các trung tâm công nghiệp
thì nguồn gây ô nhiễm không khí càng lớn. Không khí ô nhiễm tác động
không chỉ tới ngời công nhân trực tiếp sản xuất trong các nhà máy mà còn
tác động lên cả một vùng dân c rộng lớn xung quanh. Đó là các thảm hoạ
đầu độc thành phố ở thung lũng sông Manse (Bỉ) 1930, làm 60 ngời chết và
6000 ngời phải vào các cơ sở y tế điều trị. ở Donora - bang Pennosylvania
(Mỹ) 1948, làm 20 ngời chết, 6000 ngời phải vào các cơ sở y tế điều trị.
Trong các vụ này do hiện tợng "nghịch đảo nhiệt" mà toàn bộ khói bụi do
các nhà máy công nghiệp của thành phố thải ra đã tích tụ lại, gây ô nhiễm,
đầu độc chính ngời dân thành phố [63].
Điển hình là ngày 8/9/1952, khói bụi do các nhà máy thải ra và sơng
mù đã bao phủ dày đặc thủ đô Luân đôn của nớc Anh, làm 4.000 ngời chết
vì tổn thơng nặng ở phổi, 10.000 ngời phải vào điều trị tại các cơ sở y tế.
Sau sự kiện này, chính phủ Anh đã đa ra một loạt các biện pháp dới dạng
sắc lệnh gọi là "sắc lệnh không khí sạch" (Clean air act) [63].

trình khuyếch tán này (còn gọi tắt là mô hình K hay mô hình Berliand) [100].
ở nớc ta từ 1977, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Cung và cộng sự cũng đã áp
dụng tính toán mô hình Berliand cho vùng ô nhiễm khu công nghiệp Việt Trì
và các vùng khác [37,41]. Từ 1988, Phạm Ngọc Đăng, Lê Văn Nãi và cộng
sự đã áp dụng tính toán theo cả 2 mô hình Gauss và Berliand cho một số
vùng ô nhiễm công nghiệp kết hợp khảo sát đo đạc tại hiện trờng [20,22].
Từ 1976, hơn 50 quốc gia đã tham gia hệ thống Monitoring môi trờng toàn

11
cầu (Global Environment Monitoring System - GEMS). ở các nớc đặt 3 trạm
monitoring không khí: 1 tại khu vực sản xuất công nghiệp, 1 tại khu vực
thơng mại và 1 tại khu dân c sinh sống. Số liệu đo của các trạm này cho
phép tiến hành đánh giá hiện trạng và xu thế phát triển của ô nhiễm môi
trờng không khí các khu vực và toàn cầu [58].
Nh vậy từ đầu thế kỷ đến nay, càng có nhiều ngời quan tâm, nhiều
nghiên cứu về ô nhiễm môi trờng, không khí và tác động của nó trên sức
khỏe. Đặc biệt trong thập kỷ 80, 90 ở tất cả các châu lục, đều có những
nghiền cứu về lĩnh vực này.
2.2. Những nghiên cứu ô nhiễm môi trờng ở nớc ngoài:
Jin H., Zheng.M., Mao.Y., Wan.H. (1993) nghiên cứu tại Trung Quốc
thấy rằng ở những vùng có mức độ ô nhiễm không khí khác nhau thì thấy tác
động trên sức khỏe cũng khác nhau. Các tác giả đã nghiên cứu trên 2 nhóm:
- Một nhóm có môi trờng ô nhiễm nặng với nồng độ khói SO
2
:
255,56 àg/m
3
; NO2: 34,02 àg/m
3
; CO: 7,33 mg/m

bụi) [89].
ở Accra các tác giả thấy 70% bệnh tật ngời dân có liên quan ô nhiễm
môi trờng, ở Katowice: 87% bệnh tật liên quan ô nhiễm môi trờng. Tổn
thơng gặp nhiều nhất là các bệnh mãn tính và cấp tính về đờng hô hấp,
bệnh nhiễm trùng, ung th, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (chronic obstructed
lung disease) [108].
Beaglehole R., Bonita R., Kjellstrom T., (1993) khi phân tích kết quả
của vụ dịch sơng mù SMOG (viết tắt: Smoke và fog) tháng 12-1952 tại
London đã thấy rằng khi nồng độ SO
2
là 0,25 ppm và khói 1,0 mg/m3 thì số
ngời tử vong do bệnh phổi và tim mạch: 250 ngời/ngày. Khi nồng độ SO
2

tăng 0,5 ppm và khói 2,0 mg/m3 thì số ngời tử vong tăng lên 500 ngời/
ngày. Và khi SO
2
tăng lên 0,75 ppm và khói 3,0 mg/m
3
thì số ngời tử vong
trên 750 ngời/ngày. Đã có mối tơng quan rất rõ rệt giữa nồng độ SO
2
, khói
và số ngời tử vong. Khi ô nhiễm càng nặng thì số ngời tử vong càng cao
[1].
Molina C.L., Caillaud D., Molina N., (1993) đã nghiên cứu trên 1800
ngời của 1 công ty tại Paris (Pháp) đợc chia làm 2 nhóm, 1 nhóm có môi
trờng không khí bị ô nhiễm, 1 nhóm có môi trờng không khí sạch làm
chứng. Các tác giả thấy rằng tỷ lệ mắc các triệu chứng của hội chứng SBS và
các dấu hiệu bệnh mắc phải của nhóm ô nhiễm cao hơn nhóm chứng một

2
: 18 ppm,
NO: 50 ppn, CO
2
: 350-1800 ppm, bụi 46 mg/m
3
và 407 ngời nhóm chứng
(không bị ô nhiễm) thấy có sự khác biệt rõ rệt về các triệu chứng của hội
chứng SBB với OR từ 1,5-2 và P<0,05. Kích thích mắt: vùng ô nhiễm 18,3 %,
so với chứng 3,9%. Khô họng: vùng ô nhiễm 5,5%, so với chứng 3,4%. Ho:
vùng ô nhiễm 9,5%, so với chứng 1,7 %. Đau đầu: vùng ô nhiễm 5,5%, so
với chứng mắc 5,1% [110].
Parkes R.W. (1974), nghiên cứu trên 20.000 công nhân đúc thép ở
South Wales (Anh), tác giả thấy có mối liên quan giữa viêm phế quản mãn

14
tính với sự tiếp xúc bụi và khí SO
2
đơn thuần hoặc kết hợp (dù cho sự ảnh
hởng của hút thuốc lá vẫn nổi lên một cách rõ rệt).
- Với môi trờng ít bụi, ít SO
2
, tỷ lệ mắc viêm phế quản mãn: 14,8%
và FEV1: 3,48 lít.
- Với môi trờng ít bụi, nhiều SO
2
, tỷ lệ mắc viêm phế quản mãn
15,0%, FEV1: 3,25 lít.
- Với môi trờng nhiều bụi, ít SO
2

34%; tắc mũi 32 - 58%; khô họng từ 33 - 56%; đau đầu từ 33 - 52% . Các tác
giả rất chú ý đến tổn thơng đờng hô hấp và liên quan của nó với nồng độ
chất ô nhiễm, đặc biệt là ở trẻ em [117].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status