11
Bảng2.2. Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu nhân điều của Việt Nam.
Năm
Hạt điều thô (tấn)
Xuất khẩu (tấn)
Giá trị kim
ngạch
(triệu USD)
Sản xuất
trong nước
Nhập khẩu
Hạt điều
thô
Nhân
điều
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
10.000
20.000
25.000
40.000
-
-
-
300
11.000
27.000
30.000
40.000
30.000
50.000
-
-
33,6
261
286
360
1.400
6.000
9.526
18.257
23.791
33.000
12
Bảng2.3. Thị phần xuất khẩu nhân điều của Việt Nam 3 năm 2000, 2001 và 2002.
STT
Quốc gia và khu vực
2000 (%)
2001 (%)
2002 (%)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Hoa Kỳ
Trung Quốc
Úc
Anh
Hà Lan
Nhật
Canada
Hồng Kông
Đức
New Zealand
Đài Loan
2,2
2,3
4,8
1
1
1,1
6,6
Nguồn: [4].
13
Bảng2.4. Tình hình phát triển sản xuất điều tại Việt Nam dự kiến đến năm 2010.
ĐVT: ha
1997
2005
2010
Toàn quốc
250.000
340.000
500.000
Duyên hải Nam Trung Bộ
Quảng Nam
Tây Nguyên
Kon tum
Gia Lai
Đắc Lắc
Lâm Đồng
27.000
500
10.500
10.000
6.000
60.000
16.000
17.000
15.000
12.000
120.000
25.000
35.000
30.000
30.000
Đông Nam Bộ
Đồng Nai
Bà Rịa – Vũng Tàu
Bình Dương
Bình Phước
Tây Ninh
Tp. Hồ Chí Minh
149.000
35.000
20.000
2.1.7. Tình hình canh tác cây điều của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh mới thành lập năm 1991, thế mạnh là công nghiệp dầu
khí và du lịch, ngoài ra còn phát triển mạnh cây công nghiệp như cao su, cà phê, tiêu,
điều, đem lại nguồn thu nhập khá cao, chủ yếu là cho các huyện của tỉnh. Cũng như
các địa phương khác, cây điều được trồng ở tỉnh chủ yếu là trồng từ hạt, có độ tuổi
trung bình cao. Trong những năm gần đây đang phát triển mạnh cây điều cao sản cho
năng suất cao và ổn định hơn so với các giống điều địa phương. Đất nông nghiệp của
tỉnh khá màu mỡ, có diện tích đất đỏ bazan lớn, cùng với điều kiện khí hậu khá ổn
định, nhiệt độ trung bình trong năm là 24
o
C – 28
o
C, có mùa khô và mùa mưa phân
biệt, hệ thống thủy lợi phát triển và rộng khắp,…là những điều kiện thuận lợi cho phát
triển cây điều.
Bảng2.5. Sản lượng điều tại tỉnh BR – VT phân theo đơn vị hành chính.
ĐVT: tấn
1996
2000
2001
2002
2003
Tổng số
TP. Vũng Tàu
TX. Bà Rịa
H. Tân Thành
H. Châu Đức
H. Xuyên Mộc
H. Long Đất
4.009
301
1
10.417
28
143
1.462
2.206
6.138
440
1
(Nguồn: Sở Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.)
Nói chung, giá trị đóng góp của các loại nông sản vào tổng thu nhập của toàn tỉnh
không nhiều, song có một vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của tỉnh, góp
15
phần đem lại thu nhập tương đối cho một bộ phận khá đông những người nông dân,
giúp ngăn chặn tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Với những
vùng đất khô cằn, bạc màu thì cây điều là giải pháp thích hợp nhất để giúp bà con có
được thu nhập cao. Tỉnh chủ trương đến năm 2010 thay thế dần các giống điều địa
phương, trồng lâu năm, cho năng suất không cao, không ổn định bằng các giống điều
cao sản cho năng suất cao, ổn định, kháng sâu bệnh và chất lượng đồng đều, phấn đấu
đến năm 2010 đạt 16.000 tấn/năm (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh BR –
VT). Chính vì vậy, việc đánh giá từng vùng quần thể và nhận diện các giống có giá trị
cao là rất cần thiết.
2.2. Các kỹ thuật đánh giá tính đa dạng di truyền và phát hiện chỉ thị phân tử
2.2.1. Giới thiệu chung về tính đa dạng di truyền và chỉ thị phân tử
- Chỉ thị phân tử.
2.2.1.1. Chỉ thị hình thái
Gene thể hiện bản chất di truyền sẽ được liên kết với một tính trạng hình thái
nào đó mà người ta có thể phát hiện được. Tuy nhiên nếu dựa vào những chỉ thị loại
này để lập bản đồ gene và chọn lọc sẽ mất thời gian, số lượng chỉ thị ít do không phải
tất cả những tính trạng kiểu hình nào ta cũng có thể nhận diện được, đồng thời độ
chính xác và độ tin cậy thấp.
2.2.1.2. Chỉ thị allozyme
Là những chỉ thị protein. Mỗi protein là sản phẩm biểu hiện của một hay một
vài gene, do vậy người ta dựa vào điều này để tìm ra những chỉ thị. Dựa vào hàng loạt
những enzyme giống nhau được mã hóa bởi những allen khác nhau nằm cùng trên một
locus. Do sự khác nhau về điện tích của aminoacid, allozyme có thể được phân tách
bằng điện di. Nhiều enzyme bất biến trong quần thể và hầu hết sự đa hình của những
enzyme này chỉ do một vài biến đổi nhỏ. Kết quả mà chỉ thị allozyme đem lại khả
quan hơn so với chỉ thị hình thái do có số lượng chỉ thị có thể phát hiện được nhiều
hơn, tuy nhiên số lượng chỉ thị cũng vẫn ít, không đáp ứng cho những nghiên cứu sâu
rộng.
2.2.1.3. Chỉ thị phân tử – chỉ thị DNA
Là những chỉ thị phân tử DNA được tạo ra nhờ những kỹ thuật sinh học phân
tử. Có thể nói rằng kể từ khi con người biết đến sự hiện diện của gene và khi Watson
và Crick phát minh ra cấu trúc của chuỗi DNA năm 1955, các kỹ thuật sinh học phân
tử được phát minh ngày càng nhiều và càng ngày càng tỏ ra là công cụ đắc lực cho
17
công tác nghiên cứu khoa học do số lượng chỉ thị nhiều hơn hẳn so với 2 loại chỉ thị
trên (Tansley và ctv, 1980), độ tin cậy cao hơn và thuận tiện hơn nhiều. Càng ngày
người ta càng tìm ra được nhiều kỹ thuật đánh giá đa dạng di truyền và phát hiện chỉ
thị, tuy nhiên có thể được chia ra làm 2 nhóm:
Kỹ thuật này dựa trên nguyên lý: Giữa những giống khác nhau có một đoạn DNA
ổn định và chuyên biệt có trình tự đơn giản gồm khoảng 2 – 6 nucleotides được lặp lại
nhiều lần (simple sequence repeat), tiến hành phản ứng PCR sử dụng các primer
chuyên biệt nhân bản đoạn DNA chuyên biệt này lên. Điều quan trọng là phải biết
được những trình tự lặp lại chuyên biệt này để thiết kế primer cho từng giống. Kỹ
thuật SSR có độ tin cậy cao, chủ yếu được dùng để định danh những giống hay những
loài rất gần nhau về mặt di truyền [6].
2.2.6. Kỹ thuật RAPD (Random Amplified Polymorphic DNA)
Kỹ thuật RAPD dựa trên kỹ thuật PCR, bằng cách sử dụng những primer ngắn
(khoảng 10 nucleotide) có trình tự biết trước, bắt cặp và nhân bản ngẫu nhiên những
đoạn DNA có trình tự bổ sung với trình tự của các primer. Theo nguyên tắc, khi 2 cá
thể hoàn toàn giống nhau, sau khi thực hiện phản ứng PCR – RAPD ở điều kiện như
nhau sẽ tạo ra số lượng các đoạn bằng nhau và chiều dài các đoạn tương ứng bằng
nhau. Khi có đột biến làm xuất hiện hay mất đi một vị trí bắt cặp ngẫu nhiên sẽ tạo ra
số lượng và chiếu dài các đoạn DNA khác nhau giữa các cá thể, vì vậy kỹ thuật RAPD
có thể phát hiện đột biến. Kỹ thuật RAPD giúp nhận diện những chỉ thị phân tử trội [1]
[6].
Nguyên lý của kỹ thuật RAPD được minh họa trong hình 2.1. 19
Hình 2.1 Nguyên lý kỹ thuật RAPD
2.2.6.1. Các bƣớc tiến hành kỹ thuật RAPD
đó được tách ra khỏi dung dịch tách chiết bằng hỗn hợp chloroform – isoamyl alcohol,
bằng cách hình thành 2 pha: pha thứ nhất là dung dịch sạch ở phía trên có chứa DNA,
pha thứ hai đặc hơn ở dưới chứa chloroform và tất cả những thành phần cần loại bỏ
khác (polysaccharides, protein,…). Sau khi ly tâm, thu được DNA.
Thông thường quy trình ly trích DNA ở thực vật gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phá vỡ màng tế bào và màng nhân. Tế bào lá được
nghiền với dịch trích EB (extraction buffer) để phá vỡ màng tế bào, giải phóng các
thành phần có trong tế bào ra ngoài môi trường dịch trích.
Giai đoạn 2: Làm biến tính protein, loại bỏ protein và các thành phần
hữu cơ khác (polysaccharides, polyphenols, lipids,…).
Giai đoạn 3: Tủa DNA bằng isopropanol hay ethanol 100 %, thường
tủa bằng isopropanol lạnh trước, sau đó tiếp tục tủa bằng ethanol 100 % kết hợp với
muối.
Một số vấn đề có thể gặp phải khi tách chiết DNA:
DNA bị phân hủy hoặc bị gãy.
Có RNA trong mẫu DNA.
Có polysaccharide trong mẫu DNA.
Có polyphenol trong mẫu DNA.
Thành phần và tác dụng của từng chất dùng để tách chiết DNA được trình
bày trong bảng 2.6.