Đánh giá mức độ đa dạng di truyền của quần thể điều - Pdf 97



1 Phần 1. Mở đầu

1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, máy luân nhiệt (Thermocycles - PCR) được sử dụng rộng rãi tại các
trường Đại học, phòng thí nghiệm, bệnh viện, viện nghiên cứu… Máy PCR là công cụ
không thể thiếu đối với các thí nghiệm liên quan đến khuếch đại đoạn DNA.
Những máy PCR đang sử dụng tất cả đều nhập từ nước ngoài với giá thành cao,
hơn nữa trong quá trình sử dụng gặp hư hỏng chi phí sửa chữa khá cao; đôi khi trong
nước không sửa chữa được phải ra nước ngoài, tốn thời gian và chi phí vận chuyển.
Với những thiết bị đắt tiền như vậy, sinh viên khó tiếp cận thực hiện các thí
nghiệm của mình, chỉ có thể kiến tập hoặc nhiều sinh viên thực tập trên một máy. Số
lượng máy PCR hiện nay tại các trường đại học còn khiêm tốn, trong khi lượng sinh
viên ngày một nhiều. Do vậy, việc chế tạo máy PCR trong nước với giá thành hạ rất
cần thiết.
Khi chưa có máy PCR, ta cũng có thể thực hiện khuếch đại đoạn DNA với các
hộp chứa nước ở nhiệt độ khác nhau. Tuy nhiên, việc làm này tốn nhiều thời gian và
công sức, độ tin cậy không cao, không thích hợp khi lượng mẫu cần phân tích nhiều.
Máy PCR lúc đầu mới ra dùng dầu, còn có nhiều nhược điểm như: hút DNA ra
khó dễ bị lẫn dầu, thu được lượng DNA sạch ít hơn dự kiến v.v…
Để khắc phục những khuyết điểm đó, dòng máy thứ hai ra đời dùng nguyên lý
điện nhiệt học để chuyển tải nhiệt có thêm nắp chống ngưng tụ, khắc phục được những
khuyết điểm trên.
Đề tài nghiên cứu này, được thực hiện với mục đích hạ thấp giá thành của máy,
kiểm tra độ hoạt động ổn định của máy và kiểm tra chạy phản ứng PCR.

1.2. Yêu cầu
3 Phần 2. Tổng quan tài liệu

2.1. Nguyên lý phản ứng PCR
PCR là quá trình khuếch đại một đoạn trình tự DNA đặc hiệu in vitro do sự xúc
tác của enzyme DNA polymerase. Sự khuếch đại này được thực hiện nhờ các chu trình
nhiệt lặp lại (có thể đến 35 lần) gồm đun nóng (khoảng 95
o
C), làm nguội (37 – 65
o
C)
4 aquaticus và một số khác cải biến từ chủng này. Phản ứng PCR có thể thực hiện cả với
RNA.

2.2.2. DNA khuôn mẫu
Độ nhạy cao là một đặc tính hấp dẫn của PCR. Sự khuếch đại có thể thực hiện với
một phân tử ban đầu được nhân lên. Yêu cầu tối thiểu này đối với đoạn DNA mẫu
tương phản với kĩ thuật tạo dòng. Cũng do sự nhạy cảm cao này mà kết quả PCR dễ bị
sai nếu bị nhiễm DNA khác. Dễ bị nhiễm tạp là nhược điểm lớn của PCR.
Ưu thế khác đối với mẫu là không cần sự tinh sạch cao. Nhờ vậy có thể sử dụng
PCR với các vết máu, mẫu khảo cổ, DNA cổ xưa hoặc vi khuẩn đã bị hấp khử trùng.
Tuy vậy, trong nhiều trường hợp cần chuẩn bị mẫu tốt để kết quả chắc chắn hơn.
2.2.3. Primer
Primer là thành phần quan trọng trong PCR. Primer được tổng hợp hóa học trên
chất nền rắn được sử dụng trong máy tổng hợp oligonucleotide (oligonucleotide
synthestizer). Các primer có vai trò quan trọng đối với thành công của PCR.
Trình tự primer phải có kích thước hợp lý, khoảng 18 – 25 nucleotide. Việc lựa
chọn trình tự primer cũng có vai trò quan trọng. Cần chọn thế nào để tránh sự bắt cặp
bổ sung bên trong hoặc bên ngoài phân tử không như ý và tránh có tỉ lệ G + C cao.

2.3. Nguyên lý hoạt động của máy PCR
Hình 2.2 Thermoelectric module
Các vật liệu bán dẫn dùng để làm lạnh có rất nhiều loại chẳng hạn như: PbTe,
ZnSb, SiGe, AgSbTe v.v… Vật liệu bán dẫn có hiệu suất cao hay thấp phụ thuộc vào
tham số chính, được đánh giá bởi hệ số Z, Z càng lớn thì hiệu suất càng cao.
Z = a
2
/(k.ρ) (2.1)
Trong công thức: Z là hệ số ưu trị
a là điện thế điện động sai lệch nhiệt độ
k là dẫn xuất nhiệt
ρ là điện trở suất 6 Hiện nay, nghiên cứu sử dụng nhiều nhất là các vật liệu bán dẫn P-Bi
2
Te
3
/Sb
2
Te
3
,
N-Bi
2
Te
3
/Bi

thêm vai trò dẫn nhiệt và chống hơi nước ngưng tụ bên trong.
Bên trong thermoelectric module các bán dẫn P và N nối tiếp nhau, có cùng chiều
truyền nhiệt tùy vào mục đích sử dụng mà nhà sản xuất tạo ra nhiều thermoelectric có
số lượng cặp PN khác nhau. Số lượng PN càng nhiều độ chênh lệch nhiệt độ trên bề
mặt càng thấp và chịu được lực nén cao.

Hình 2.3 Cấu tạo Thermoelectric module

7 2.5.2.2. Nguyên lý hoạt động
Hoạt động dựa trên nguyên lý Peltier. Khi có dòng điện một chiều chạy qua, tùy
theo bán dẫn loại P hay N mà có sự truyền tải nhiệt khác nhau so với chiều dòng điện
đi qua. Đối với bán dẫn loại N sự truyền tải nhiệt ngược chiều với chiều dòng điện, đối
với bán dẫn loại P truyền tải nhiệt cùng với chiều dòng điện. Vì vậy, thermoelectric
một mặt nóng và một mặt lạnh khi có dòng điện một chiều đi qua (hình 2.4).

Hình 2.4 Sự truyền tải nhiệt

Công suất truyền tải nhiệt của thermoelectric module cao hay thấp phụ thuộc vào
vật liệu bán dẫn, dòng điện đi qua và độ chênh lệch nhiệt độ hai bề mặt của
thermoelectric. Nếu dòng điện quá thấp thì truyền tải nhiệt kém, nếu quá cao truyền tải
nhiệt cũng giảm do dòng điện có tác dụng sinh nhiệt theo định luật Jun-Lenxơ. Tùy
theo vật liệu cấu tạo và kết cấu của thermoelectric mà ΔT
Max
khác nhau. Nếu chênh

lớp vỏ ngoài cùng của nguyên tử tạp chất chỉ có 3 điện tử khi tham gia vào mạng tinh
thể của chất cơ bản chỉ tạo nên 3 mối liên kết hoàn chỉnh, còn mối liên kết thứ tư bị bỏ
hở. Khi có kích thích nhỏ là một trong những điện tử của các mối liên kết hoàn chỉnh
bên cạnh sẽ đến thế vào liên kết bỏ hở nói trên. Nguyên tử tạp chất lúc đó sẽ trở thành
một ion âm. Tại mối liên kết mà điện tử vừa đi khỏi sẽ dư ra một điện tích dương,
nghĩa là xuất hiện một lỗ trống. Nếu có điện trường đặt vào, các lỗ trống này sẽ tham
gia dẫn điện.
Như vậy, tạp chất nhóm 3 tiếp nhận điện tử từ chất cơ bản để làm sản sinh các lỗ
trống nên được gọi là tạp chất nhận. Chất bán dẫn có pha tạp chất nhóm 3 như trên gọi
là bán dẫn loại P.
Như vậy, tùy theo tạp chất pha vào thuộc nhóm 3 hay nhóm 5 (xét với Si hoặc Ge)
mà chất bán dẫn thuần trở thành bán dẫn P hay N. Hạt dẫn đa số tương ứng là lỗ trống
hoặc điện tử. Ở trạng thái cân bằng, mỗi chất bán dẫn đều trung hòa điện, nghĩa là tổng 9 điện tích dương bằng tổng điện tích âm trong thể tích (Dương Vũ Văn, 2002, trang
43).

p-type n-type Si 100%, 0
0
K
Hình 2.5 Điện tích và lỗ trống của bán dẫn
2.7. Sensor nhiệt
Để đo nhiệt độ ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau, dùng sensor nhiệt là
thích hợp nhất trong điều khiển, chúng có nhiều loại khác nhau. Để đo được nhiệt độ
chính xác cao và gia tốc biến thiên nhiệt nhanh, hai loại sensor nhiệt là „cặp nhiệt điện‟
và „điện trở palatin‟ đáp ứng tốt.

) (2.2)
Cho dải đo từ 0 đến 850
o
C ta có đa thức cấp hai:
R(t) = R
0
(1 + At + Bt
2
) (2.3)
Các hệ số có giá trị như sau:
A = 3,90802 . 10
-3

0
C
-1
B = -5,802 . 10
-7

0
C
-2
C = -4,2735 . 10
-12

0
C
-3
chuẩn DIN, vật liệu platin dùng làm nhiệt điện trở có pha tạp. Do đó khi bị các tạp chất
khác thẩm thấu trong quá trình sử dụng sự thay đổi trị số điện của nó ít hơn so với
platin ròng nhờ thế nó tự ổn định lâu dài theo thời gian.

Hình 2.6 Đặc tuyến điện trở Pt100

2.7.1.1. Cách tính nhiệt độ theo điện trở
Trong khoảng nhiệt độ trên 0
o
C nhiệt độ được tính theo sự thay đổi điện trở platin
theo DIN IEC 751 như sau:
t = -R
0
.A + [(R
0
.A)
2
– 4R
0
.B(R
0

Điện trở (Ω) 11
2.7.1.2. Sai số cho phép
Khi tính đến sai số, tiêu chuẩn DIN IEC 751 phân biệt hai đẳng cấp: A và B.
Đẳng cấp A có giá trị cho nhiệt độ từ -200 đến 650
o
C cho các máy đo nhiệt độ
dùng 3 hay 4 dây đo. Đẳng cấp B có giá trị cho toàn thang từ -200 đến 850
o
C.
Đẳng cấp A: t = ± (0.15 + 0.002 . t)
Đẳng cấp B: t = ± (0.30 + 0.005 . t)
t = nhiệt độ với
o
C (không có dấu ±)
Ngoài ra, còn nhiều đẳng cấp khác cho đo đạc chính xác hơn hay không chính xác
lắm, rẻ tiền ta còn có các đẳng cấp: B 1/3 DIN, B ½ DIN, B2 DIN, B5 DIN.

2.7.1.3. Cấu trúc của cảm biến nhiệt platin
 Nhiệt điện trở với vỏ gốm:
Sợi platine được giữ chặt bên trong ống gốm sứ với bột nhôm oxit. Dải đo từ
200
o
C đến 800
o
2.7.1.4. Kỹ thuật nối dây
Nhiệt điện trở thay đổi điện trở theo nhiệt độ với một dòng điện không đổi đi qua
điện trở ta có điện thế đo được U = I.R.
Để cảm biến không bị nóng lên qua phép đo, dòng điện cần phải nhỏ khoảng 1mA
(đối với Pt100) điện thế này cần được đưa đến máy đo qua dây đo, với sai số thấp
nhất. Ta có 3 kỹ thuật nối dây đo:
- Kỹ thuật 2 dây:

Hình 2.7 Kỹ thuật nối 2 dây
Với kỹ thuật nối 2 dây phép đo có sai số lớn do điện trở của dây dẫn và sự thay
đổi của chúng theo nhiệt độ.
- Kỹ thuật 3 dây:

Hình 2.8 Kỹ thuật nối 3 dây
Với cách nối này hai mạch đo được hình thành, một trong hai được dùng để làm
mạch chuẩn. Với kỹ thuật 3 dây, sai số phép đo do nhiệt độ và điện trở dây dẫn không
còn. Tuy nhiên 3 dây đo phải có cùng trị số kỹ thuật và cùng một nhiệt độ.
- Kỹ thuật 4 dây:

Hình2.9 Kỹ thuật nối 4 dây 13 Với kỹ thuật 4 dây, người ta đạt kết quả đo tốt nhất. Hai dây được dùng để cho
một dòng điện không đổi đi qua, hai dây khác được dùng làm dây đo điện thế trên
nhiệt điện trở (Dương Minh Trí,2001, trang 14 - 23).

14
Hình 2.10 Sơ đồ chân của AT90S8535.
Chức năng các chân:
 VCC: điện áp nguồn nuôi
 GND: đất
 Cổng A (PA0 đến PA7): cổng vào/ra hai hướng 8 bit, có điện trở nối lên
nguồn dương bên trong. Cổng A cung cấp các đường địa chỉ dữ liệu vào ra
theo kiểu hợp kênh khi dùng bộ nhớ ở bên ngoài.
 Ngoài ra cổng A còn thêm chức năng chuyển đổi từ dạng tỷ biến sang dạng
số.
 Cổng B (PB0 đến PB7): cổng vào/ra hai hướng 8 bit, có điện trở nối lên
nguồn dương bên trong. Cổng B cung cấp các chức năng ứng với các tính
năng đặc biệt của AT90S8535.
 Cổng C (PC0 đến PC7): cổng vào/ra hai hướng 8 bit, có điện trở nối lên
nguồn dương bên trong. Cổng C cung cấp các địa chỉ lối ra khi dùng bộ nhớ
ở bên ngoài.
 Cổng D (PD0 đến PD7): cổng vào/ra hai hướng 8 bit, có điện trở nối lên
nguồn dương bên trong. Cổng D cung cấp các chức năng ứng với các tính
năng đặc biệt của AT90S8535.
 RESET: lối vào được đặt lại
 XTAL1: lối vào bộ khuếch đại đảo và lối vào mạch tạo xung nhịp bên trong
 XTAL2: lối vào bộ khuếch đại đảo
 ICP: là chân vào cho chức năng bắt tính hiệu vào bộ định thời/đếm 1.
 OC1B: là chân ra cho chức năng so sánh lối ra bộ định thời/đếm 1. 15


2.11.3. PCR ứng dụng trong cloning tái tổ hợp (cloning of recombinant)
Nếu trước đây, muốn đưa một đoạn gene vào plasmid để chuyển thể plasmid này
vào một vi khuẩn thì công việc này đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian và công sức. Trước
hết là phải có một số lượng tế bào đích để từ đó người ta ly trích toàn bộ bộ gene 16 (genomic DNA). Sau đó, dùng nhiều loại enzyme cắt giới hạn để cắt bộ gene thành
nhiều đoạn có kích thước khác nhau, điện di trên gel, dùng kỹ thuật Southern blotting
và phát hiện đoạn gen muốn tìm bằng kỹ thuật lai với đoạn dò đặc hiệu. Từ kết quả đó,
có thể định vị và trích được đoạn gen muốn tìm từ bản gel đã điện di để gắn vào
plasmid rồi đưa vào vi khuẩn mang. Tuy nhiên, công việc như vậy cũng chưa đã hoàn
tất, vì chưa chắc chúng ta đã gắn đúng đoạn gen mong muốn vào plasmid vì trên bản
thạch chúng ta không thể chỉ lấy đúng đoạn gen đã định vị mà không lẫn các đoạn
gene khác. Do vậy, phải chọn đúng vi khuẩn mang plasmid có gene mong muốn.
Chúng ta gọi toàn bộ kỹ thuật này là clone tái tổ hợp, có khi phải thực hiện trong nhiều
tháng, thậm chí nhiều năm, mà nhiều khi chưa chắc đã thành công. Ngày nay, các nhà
nghiên cứu có thể dùng kỹ thuật PCR trong thí nghiệm này. Trước hết là từ một vài tế
bào đích ban đầu (không cần phải có nhiều tế bào đích như kỹ thuật cũ), có thể sử
dụng cặp mồi đặc hiệu để tổng hợp và khuếch đại đoạn gen muốn tìm thành hàng tỷ
bản sao giống hệt nhau rồi đưa vào plasmid (không cần phải dùng một lượng lớn tế
bào đích để ly trích được bộ gene và phân tích bằng restriction enzyme, rồi làm
Southern blotting...). Lúc này plasmid mang đúng đoạn gen đích, không thể có lẫn lộn
các đoạn gene khác. Vì vậy sau khi chuyển thể plasmid vào vi khuẩn mang, không cần
phải làm kỹ thuật chọn dòng nữa. Như vậy, chúng ta thấy cũng cùng một mục đích,
nhưng với PCR, công việc đã gọn lại rất nhiều ( www.ykhoa.net).


có kháng được với hóa trị liệu hay không, vì chỉ có vi khuẩn còn hoạt động mới tổng
hợp được mRNA, nếu vi khuẩn đã chết thì khó phát hiện được mRNA vì cấu trúc này
không bền dễ bị huỷ bởi các men RNase vốn dĩ rất bền và hiện diện sẵn trong môi
trường ( www.ykhoa.net).

2.11.5. PCR dùng trong phát hiện các vi sinh vật gây bệnh
Bằng cách khuếch đại đoạn nucleic acid đặc trưng của vi sinh vật gây bệnh trong
mẫu bệnh phẩm, thử nghiệm PCR có thể phát hiện vi sinh vật gây bệnh với độ nhạy
cực cao mà không có một thử nghiệm nào trước đây có thể so sánh được. Sở dĩ được
như vậy vì chỉ cần dưới 1 vi sinh vật gây bệnh có mặt trong mẫu thử là có hiện diện
acid nucleic đích và được PCR khuếch đại.
Trong các thử nghiệm huyết thanh hay miễn dịch học, chìa khoá chính của thử
nghiệm là có được trong tay các kháng thể hay kháng nguyên đặc hiệu. Nếu không
muốn mua sản phẩm thương mại, phải tự chế, đây là một công việc rất công phu và tốn
thời gian. Trong khi đó với PCR, chìa khóa chính của thử nghiệm là vấn đề tìm cho
được các đoạn mồi đặc hiệu. Nhờ có máy vi tính trợ giúp mà công việc này trở nên
đơn giản: với một đĩa CD có đầy đủ các dữ liệu về thư viện DNA của các vi sinh vật 18 mà các nhà nghiên cứu trước đã nghiên cứu được và với một phần mềm chuyên dùng,
có thể tự chọn những cặp mồi theo đúng trình tự đã chọn. Sau đó chỉ cần đặt hàng cho
một hãng tổng hợp đoạn mồi theo đúng trình tự đã chọn. Sau khi tổng hợp, hãng sản
xuất có thể gởi đến người sử dụng theo đường bưu điện mà không cần phải có điều
kiện bảo quản chặt chẽ, vì các đoạn mồi sau khi tổng hợp xong, làm đông khô có thể
giữ rất bền trong điều kiện bình thường. Công việc lúc này là thử nghiệm xem các
đoạn mồi được chọn đặc hiệu như mong muốn hay không, nếu không thì lại chọn một
cặp mồi khác.

cấy được vi khuẩn. Ðây là một đóng góp rất lớn trong nghiên cứu dịch tễ học tìm hiểu
mối liên quan của các tác nhân gây bệnh trong cộng đồng. Ngoài ra, PCR còn có thể
phát hiện vi khuẩn kháng kháng sinh, ví dụ phát hiện M. tuberculosis kháng
rifampicin, một chìa khóa chủ yếu để bác sĩ điều trị có thể sử dụng phát đồ điều trị
đúng cho bệnh nhân ( www.ykhoa.net).

2.11.6. PCR với tiến hóa và khảo cổ học
Từ năm 1963, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu về tiến hóa dựa trên cấu
trúc phân tử của protein (cytochrome c, hemoglobin, ribonuclease). Sau đó, bắt đầu
nghiên cứu tập trung vào trình tự chuỗi 16S RNA của ribosome trên vi khuẩn hay bộ
gene của ty thể và lục lạp của thực vật. Ngày nay, PCR đã góp phần làm công việc
nghiên cứu về tiến hóa phân tử học trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn. Người ta có
thể so sánh các loài với nhau bằng cách dùng các mồi đặc hiệu cho những vùng có tính
ổn định cao trong bộ gen, nhờ đó khuếch đại các vùng biến đổi, rồi so sánh với nhau.
Ưu điểm vượt trội nhất của PCR trong lĩnh vực này là chỉ cần một số lượng rất nhỏ
mẫu vật là đủ để có thể tiến hành phân tích.
Trong lĩnh vực khảo cổ học, nhờ DNA là một loại phân tử khá bền vững, có
những mảnh DNA có thể tồn tại nguyên vẹn trong thời gian khá dài. Có rất nhiều
trường hợp những mảnh DNA cổ đại đã được PCR khuếch đại thành công: người ta có
thể khuếch đại DNA ty thể từ một người Châu Mỹ sống cách đây 7000 năm hay từ các
mảnh xương của cọp răng chồn sống cách đây 14.000 năm ( www.ykhoa.net).

2.11.7. PCR với phát hiện các khiếm khuyết gene
Khiếm khuyết gene gây các bệnh di truyền hay ung thư là do bị đột biến đoạn hay
đột biến điểm. Phát hiện các đột biến bằng phương pháp PCR, khi đoạn DNA đặc hiệu
đuợc khuếch đại lên có kích thước khác bình thường (do thêm hay mất đoạn). Với các
trường hợp đột biến điểm, PCR hiện nay đã chiếm độc quyền trong lãnh vực này vì
khả năng thực hiện các thí nghiệm tương đối đơn giản và ít tốn thời gian so với các thử
dấu ấn di truyền hiện đang được dùng. Kiểu thứ nhất là dùng PCR với các đoạn mồi
nằm trước và sau các microsatellite, là các cấu trúc CACACA lặp đi lặp lại khoảng
100000 lần trong bộ gene của động vật có vú và khuếch đại các microsatellite này. Vì
các cá thể khác nhau có sự khác nhau về số lượng các cấu trúc CA tạo thành các 21 microsatellite nên sau khi khuếch đại bằng PCR và phân tích các vạch trên thạch điện
di, sẽ thấy các kiểu mẫu vạch khác nhau tùy từng cá thể được phân tích. Kiểu thứ hai
gọi là phương pháp khuếch đại ngẫu nhiên các DNA đa hình (Random Amplified
polymorphic DNA - RAPD) là dùng các đoạn mồi ngẫu nhiên, thường ngắn khoảng 10
nucleotide, cho bắt cặp với nucleic acid đích trong điều kiện bắt cặp không chặt chẽ, ở
nhiệt độ khoảng 30 – 40
o
C chẳng hạn. Nhờ vậy khi thực hiện PCR, sẽ có sản phẩm
PCR là những đoạn DNA dài ngắn khác nhau do các đoạn mồi bắt cặp ngẫu nhiên trên
DNA đích (ngẫu nhiên nhưng là tất nhiên, vì đoạn mồi sẽ bắt cặp trên chuỗi đích nào
tương đối bổ sung nhất với nó) và các kích thước của những đoạn này sẽ được phát
hiện trên thạch điện di. Sự giống và khác nhau về hình ảnh trên thạch điện di sẽ cho
biết các cá thể đuợc phân tích có giống hay khác nhau, hay có liên hệ với nhau như thế
nào.
Kỹ thuật PCR phát hiện dấu ấn di truyền đã có những đóng góp rất lớn trong khoa
học hình sự. Chỉ cần tội phạm để lại trên hiện trường rất ít mẫu vật: một vài giọt máu
khô, vết tinh dịch, vài sợi lông hay tóc, hay thậm chí mẫu tàn thuốc có dính lại vài tế
bào niêm mạc miệng, là có thể truy tìm được dấu ấn di truyền và phát hiện được ngay
đúng tội phạm mà không thể nào chối cãi được. (www.ykhoa.net)

2.11.10. PCR và kỹ thuật phát hiện trình tự chuỗi của một đoạn DNA (DNA

gene, gây đột biến điểm định hướng,…Có thể thực hiện PCR in situ (ngay trong tế
bào) với cả DNA, RNA.
Nó được sử dụng trong pháp y để phân tích di truyền vệt máu khô, chẩn đoán các
bệnh di truyền và lây nhiễm, dự báo các sai hỏng di truyền. PCR có thể dùng để
nghiên cứu DNA cổ xưa từ mẫu khảo cổ.
PCR kết hợp với các kĩ thuật khác của tạo dòng phân tử giúp sinh học xâm nhập
vào nhiều lĩnh vực mà trước đây khó với tới (www.ykhoa.net).

2.12. Thành phần hóa học của DNA
Deoxyribonucleic acid là một hợp chất polymer cấu tạo bởi các đơn phân
nucleotide. Nó được tạo nên do sự nối liền nhiều đơn phân cùng kiểu là các nucleotide.
Kết quả phân tích hóa học DNA của những sinh vật khác nhau cho thấy sự giống nhau
đặc biệt giữa các đơn chất hợp thành DNA. Thành phần hóa học của DNA gồm có gốc
acid phosphoric, đường 5-desoxyribose và các base nitrogenous. base nitrogenuos ở
DNA gồm có hai purine là adenine (A) và guanine (G) và hai pyrimidine là cytosine
(C) và thymine (T); ở RNA còn có uracil (U) thay cho thymine (T). Đường pentose
(5C) desoxyribose gắn với nitrogenous base ở vị trí C
1
sẽ tạo nên nucleoside.
Nucleoside được gắn thêm nhóm phosphate vào C
5
của đường pentose thành 23 nucleotide. Tính đặc hiệu của nucleotide do base, nên khi nói đến acid nucleic, base
thường được sử dụng thay cho nucleotide. Cách gọi thường dùng là cặp base, kí hiệu
bp hay kb (Phạm Thành Hổ, 2000, trang 140 - 141).

 Quá trình chế tạo tại Bộ môn Điều Khiển Tự Động trực thuộc khoa Cơ Khí.
 Chạy mẫu kiểm tra và so sánh kết quả tại Trung Tâm Phân Tích Hóa Sinh.

3.2. Vật liệu
3.2.1. Linh kiện cho bộ khuếch đại tín hiệu từ cảm biến
 Nhiệt điện trở Platine Pt100 (sản xuất tại Đức)
 Sensor cảm ứng nhiệt Lm35 (sản xuất tại Đài Loan)
 Tụ 1000 µF , 100 µF ,10 µF, 1 µF, 104 pF (sản xuất tại Đài Loan)
 Điện trở sai số 1% không thay đổi theo nhiệt độ (sản xuất tại Singapore)
 Biến trở vi chỉnh (sản xuất tại Đài Loan)
 Điốt cầu 3A (sản xuất tại Trung Quốc)
 Op07 (sản xuất tại Đài Loan)
 Ổn áp 7805, 7905 (sản xuất tại Đài Loan)

3.2.2. Linh kiện cho mạch vi xử lý
 Tụ 1000 µF,100 µF (sản xuất tại Đài Loan)
 Tụ 33 pF,1000 µF, 100 µF (sản xuất tại Đài Loan)
 Điốt cầu 3A
 Vi xử lý AT90S8535 (sản xuất tại Đài Loan)
 Thạch anh 4M
 LM358 (sản xuất tại Đài Loan)
 LCD 20 x 4 (Sản xuất tại Trung Quốc)
 Ổn áp 7805
 Phím 4x4
 Optodiac P521 (sản xuất tại Đài Loan)
25


 Thép chống từ
 Máy bào kim loại

Trích đoạn Gia công bộ phận truyền tải nhiệt cho ống plastic (eppendorff)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status