28
Cân 1 g tinh dầu vào erlen 100 ml, thêm 5 ml ethanol, 5 giọt phenolphtalein.
Trung hòa hỗn hợp trên bằng KOH chứa trên burete cho đến khi dung dịch vừa xuất
hiện màu hồng. Lặp lại thí nghiệm 3 lần. Từ lượng KOH sử dụng và khối lượng tinh
dầu, suy ra chỉ số acid.
Chỉ số acid IA =
m
V*61,5
m
: khối lượng trung bình của tinh dầu (g)
V
: thể tích trung bình của dung dịch KOH (ml)
5,61: số mg KOH tương ứng với 1 ml KOH 0,1 mol/l ethanol.
b. Chỉ số savon hóa (IS)
Chỉ số savon hóa (IS) là số mg KOH cần thiết để tác dụng với tất cả acid tự do
và acid kết hợp dưới dạng ester có trong 1 g tinh dầu.
Dụng cụ và hóa chất: Bình cầu 100 – 250 ml cổ nhám chịu được kiềm, có trang
bị ống hoàn lưu nước, HCl (0,1N), KOH (0,1 mol/l ethanol) và thuốc thử
phenolphthalein.
Tiến hành: Cân 0,5 g tinh dầu vào erlen 100 ml. Thêm 20 ml dung dịch KOH
và vài viên đá bọt. Lắp ống hoàn lưu và đun cách thủy trong một giờ. Để nguội cho
vào 5 giọt thuốc thử màu. Trung hòa lượng KOH thừa bằng dung dịch HCl trên burete
cho đến khi dung dịch vừa mất màu hồng.
Thực hiện tương tự với mẫu nước cất. Lặp lại thí nghiệm 3 lần.
Từ lượng HCl sử dụng và khối lượng tinh dầu, suy ra chỉ số savon hóa.
Chỉ số savon hóa được tính bằng công thức:
IS = 5,61 * (
0
V
Lài trồng ở An Phú Đông là
cây thân bụi, chiều cao trung bình
của lài 6 năm tuổi khoảng 148 cm, từ
thân mọc ra rất nhiều nhánh, nhánh
lài dễ nhầm với thân. Lài được trồng
theo hàng, mỗi hàng cách nhau 0,8 –
1 m, mỗi cây trên hàng cách nhau
0,6 – 1 m. Lài thường trồng vào mùa
mưa và sau đó 5 – 6 tháng là có thể
thu hoạch được.
Lá lài thuôn, hơi nhọn, mọc
gần như đối xứng, kích thước trung bình 8,95 x 5,2 cm. Cả hai mặt lá đều xanh, mặt
trên bóng, cuống rất ngắn.
Hoa lài màu trắng mọc lên từ nách lá, thường mọc thành phát, mỗi phát 3 – 12
hoa. Hoa thường từ 8 – 9 cánh xếp thành 2 lớp. Hoa lài rất thơm, nở vào khoảng 7 – 8
giờ tối, theo kinh nghiệm của các chủ vườn lài thì nhị hoa là bộ phận tỏa ra nhiều
hương nhất. Chính vì mùi hương ngạt ngào và
hấp dẫn đó hoa lài được ứng dụng nhiều trong
công nghệ sản xuất hương liệu.
Hoa ở vùng này chủ yếu trồng đề bán cho
các công ty chè, vào mùa hoa lài rất rẻ khoảng
vài nghìn đồng/kg nhưng đến mùa mưa thì giá
lại tăng đột ngột, có khi năm mươi nghìn
Hình 4.1. Vườn lài 6 năm tuổi tại An Phú Đông
Hình 4.2. Một bông hoa lài
30
đồng/ký. Hoa lài được hái hàng ngày, mỗi ngày hái 2 lần, sáng thường hái lúc 8 giờ,
chiều hái lúc 13 giờ lúc còn ở dạng búp, một kilogam lài khoảng 5500 hoa. Lài cho
năng suất cao vào mùa nắng nhất là từ tháng 2 đến tháng 4, vào mùa mưa hay khi trời
2,8 x 0,9
3,4
1,9
Cây 2
166
6,16
8,4 x 5,6
2,5 x 0,9
3,25
2,1
Cây 3
161
5,55
9,7 x 5,1
2,4 x 0,85
3,2
2,6
Vườn
2
Cây 1
127
10,16
8,9 x 5,0
2,85 x 0,8
3,2
1,95
Cây 2
147
12,4
8,9 x 5,5
2,3 x 1,0
3,2
1,9
Trung bình
148
7,80
8,95 x 5,2
2,5 x 0,93
3,54
2,3
Nhận xét: Các số liệu trong bảng 4.1 cùng với các đặc điểm mô tả trên cho thấy lài
ở An Phú Đông không có sự chênh lệch nhiều về chiều cao cũng như kích thước lá,
hoa và búp. Đặc điểm thân, hoa và lá giống như mô tả của Nguyễn Hữu Đảng và Phạm
Hoàng Hộ.
4.1.2. Đặc điểm sinh thái
Lài ở đây thích hợp với loại đất pha sét với độ ẩm trung bình 25,6 %, pH trung
bình 4,64.
Lài nếu được chăm sóc tốt thì sống khoảng 15 năm hoặc hơn, thường thì mỗi
năm vào mùa mưa lài được cắt ngọn một lần để đạt năng suất cao hơn. Lài được giâm
cành trong bịch nylon sau đó đưa ra vườn trồng trong các lỗ có bón sẵn phân hữu cơ.
Từ đó trở đi chỉ bón phân urê mỗi tháng 2 lần.
31
Bảng 4.2. Kết quả khảo sát độ ẩm và pH của mẫu đất trên 3 vườn lài tại
phường An Phú Đông quận 12.
Thí nghiệm
Độ ẩm (%)
pH
Trung bình
25,6
4,64
Nhận xét: Các số liệu trong bảng 4.2 cho thấy lài thích nghi với đất có độ ẩm khá thấp
và pH acid. Sự chênh lệch về pH của đất giữa các vườn không đáng kể.
4.1.3. Phân loại
Đối chiếu các đặc điểm trên với tài liệu của Phạm Hoàng Hộ [3], ta đi đến kết
luận đối tượng nghiên cứu ở An Phú Đông là cây hoa lài Jasminum sambac L.
4.2. SO SÁNH HIỆU SUẤT CÔ KẾT CỦA CÁC PHƢƠNG PHÁP VÀ DUNG
MÔI LY TRÍCH KHÁC NHAU
Để xác định phương pháp và dung môi ly trích tối ưu, chúng tôi tiến hành:
So sánh hiệu suất cô kết của các phương pháp chiết xuất khác nhau với cùng
dung môi ly trích.
So sánh hiệu suất cô kết giữa các dung môi ly trích khác nhau với cùng phương
pháp chiết xuất.
4.2.1. So sánh hiệu suất cô kết của các phƣơng pháp chiết xuất khác nhau
So sánh hiệu suất cô kết của các phương pháp chiết xuất khác nhau với cùng
dung môi ly trích: petroleum ether, hexan và ethanol. 32
4.2.1.1. Dung môi ly trích petroleum ether
Với mỗi phương pháp chiết xuất trên dung môi petroleum ether, thí nghiệm lặp
lại 3 lần, xác định hiệu suất cô kết trung bình. Sau đây là hiệu suất cô kết của 3 lần thí
nghiệm lặp lại:
Bảng 4.3. Hiệu suất cô kết (%) của các phương pháp chiết xuất khác nhau với cùng
dung môi ly trích petroleum ether.
Thí nghiệm
0.314
0.2708
0.2902
0.3049
0.24
0.25
0.26
0.27
0.28
0.29
0.3
0.31
0.32
Qui trình
1
Qui trình
2
Lắc Siêu âm
Phương pháp ly trích
%
Hiệu suất cô kết
Biểu đồ 4.1. Hiệu suất cô kết của các phương pháp chiết xuất khác nhau với cùng
dung môi ly trích petroleum ether.
Nhận xét: Các số liệu trong bảng 4.3 và biểu đồ 4.1 cho thấy qui trình 1 cho hiệu
suất cô kết cao hơn qui trình 2, phương pháp siêu âm cho hiệu suất cao hơn phương
pháp lắc. Qui trình 1 có hiệu quả nhất vì thời gian ly trích kéo dài, dung môi hay mới
thường xuyên đã lấy kiệt được tinh dầu có trong hoa lài. Hiệu suất cô kết của hoa lài
0,242
0,2486
Ngâm chiết
động
Lắc
0,2536
0,2759
0,289
0,2728
Siêu âm
0,2951
0,306
0,2913
0,2975
0.2815
0.2486
0.2728
0.2975
0.22
0.23
0.24
0.25
0.26
0.27
0.28
0.29
0.3
0.31
Qui trình 1 Qui trình 2 Lắc Siêu âm
6,509
6,435
6,317
6,42
Qui trình 2
5,045
5,062
5,123
5,08
Ngâm
chiết động
Lắc
4,421
4,593
4,216
4,41
Siêu âm
6,176
6,176
6,374
6,242
6.42
5.08
4.41
6.242
0
1
2
3
36 4.2.2.1. Phƣơng pháp ngâm chiết tĩnh qui trình 1
Với mỗi dung môi ly trích của qui trình 1, thí nghiệm lặp lại 3 lần, xác định
hiệu suất cô kết trung bình. Sau đây là hiệu suất cô kết của 3 lần thí nghiệm lặp lại:
Bảng 4.6. Hiệu suất cô kết (%) của các dung môi ly trích khác nhau với cùng
phương pháp ngâm chiết tĩnh qui trình 1.
Thí nghiệm
Dung môi
1
2
3
Hiệu suất
trung bình
Ethanol
%
Hiệu suất cô kết
Biểu đồ 4.4. Hiệu suất cô kết của các dung môi ly trích khác nhau với cùng
phương pháp ngâm chiết tĩnh, qui trình 1.
Nhận xét: Trên cơ sở số liệu trong bảng 4.6 và biểu đồ 4.4 cho thấy ethanol cho
hiệu suất cô kết lớn hơn nhiều so với các dung môi ly trích khác vì ethanol chiết xuất
tốt tinh dầu đồng thời tách được nhiều sáp, chất béo và các chất khác. Tuy nhiên dung
môi được sử dụng phổ biến để ly trích tinh dầu không phải là ethanol mà là petroleum