ĐỀ TÀI "CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI THỰC HIỆN MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA" pot - Pdf 19

CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI THỰC
HIỆN MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
1
1
MỤC LỤC
ỜI MỞ ĐẦU
Phúc lợi vật chất được đo bằng giá trị hàng hoá và dich vụ mà nền kinh
tế sản xuất ra. Nghiên cứu tăng trưởng kinh tế là nghiên cứu về khả năng của
các nền kinh tế sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
Những câu hỏi thường được đặt ra như: vì sao một số nền kinh tế giàu
có về vật chất trong khi các nền kinh tế khác lại nghèo? Vì sao một số nền
kinh tế lại nhanh chóng giàu lên trong khi các nền kinh tế khác vẫn cứ nghèo.
Chẳng hạn những người dân trung lưu ở các nước giàu như Mỹ, Nhật lại có
mức sống cao hơn những người dân trung lưu ở các nước nghèo. Mức chênh
lệch cuộc sống. Người dân ở nước giàu tiện nghi nhiều cho cuộc sống, được
chăm sóc y tế tốt hơn và có tuổi thọ cao hơn.
Xét theo thời gian, ngay cả trong 1 nước mức sống cũng thay đổi rất
nhiều. Và tất cả là do yếu tố tăng trưởng kinh tế tác động lên.
Nghĩa là vấn đề tăng trưởng kinh tế là một vấn đề quan trọng tác động
lên cuộc sống của người dân. Nó có vai trò quan trọng trong việc thực hiện
các chính sách của nhà nước.
2
2
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - MỘT MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ QUAN TRỌNG
1. Khái quát chung về tăng trưởng kinh tế
Mục tiêp phát triển kinh tế của một quốc gia luôn là mục tiêu quan
trọng hàng đầu. Hiện nay, lại có một thực tế rằng tỷ lệ tăng trưởng của các
nước cũng rất khác nhau. Tại một số nước Đông Á như Singapor hay Hàn
Quốc, thu nhập bình quân đầu người đã tăng 7% mỗi năm trong mấy thập kỷ
qua. Trái lại, tại một số nước như Etiopia và Nigiêria, thu nhập bình quân

= x 100%
g
pc
t
là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người của thời kì t
Y là GDP thực tế BQ đầu người
2. Các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế
Thực tế cho thấy có sự khác biệt rất lớn trong tỉ lệ tăng trưởng, vị trí
xếp hạng của các nước theo thu nhập thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Như
chúng ta đã biết Nhật - đất nước chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh thế giới
thứ II- đã vươn lên trên nhiều nước khác. Một nước tụt lại phía sau là Anh.
Vào những năm 1870, Anh là nước giàu nhất thế giới và thu nhập bình quân
đầu người cao hơn Mỹ khoảng 20%.
Nhưng điều gì lý giải cho sự thay đổi ấy? Vì sao một số nước tăng
trưởng rất nhanh trong khi một số khác lại tụt hậu?
Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng: tăng trưởng kinh tế được
quyết định bởi các yếu tố sau:
a) Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế
Chúng ta không có gì phải nghi ngờ về tầm quan trọng của sự tăng
trưởng với tư cách là một mục tiêu chính sách của mọi quốc gia. Sự tăng
trưởng tạo điều kiện để nâng cao mức sống và đẩy mạnh an ninh quốc gia. Nó
kích thích kinh doanh táo bạo, khuyến khích sự đổi mới và mang lại một sự
khích lệ thường xuyên đối với hiệu quả kĩ thuật và quản lý. Hơn nữa một nền
kinh tế đang tăng trưởng tạo thuận lợi cho tính năng động về mặt kinh tế và
xã hội.
Vào những năm 70, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã bị chỉ trích. Sự chỉ
trích có 2 cơ sở chủ yếu. Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế liên tục chắc chắn
sẽ khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng và sự phá huỷ môi
trường không thể sửa chữa được. Thứ hai, tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến sự
suy yếu của "các nguồn lực không thể tái tạo"

5
5
Vốn nhân lực là yếu tố đầu tiên quyết định đến tăng trưởng kinh tế của
một nước.
Nhiều nhà kinh tế cho rằng chất lượng đầu vào lao động - kỹ năng, kiến
thức và kỷ luật của lực lượng lao động - là yếu tố quan trọng nhất của tăng
trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác của sản xuất như tư bản hiện vật,
nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay được trong nền kinh tế
thế giới. Một nước có thể nhập khẩu các thiết bị thông tin viễn thông, máy
tính, máy phát điện, các loại máy móc hiện đại nhất. Nhưng những hãng tư
bản này chỉ có thể được sử dụng một cách hiệu quả nhất nếu như người công
nhân có kỹ năng và được đào tạo, có trình độ văn hoá, kỷ luật lao động cao
làm cho năng suất lao động tăng, và người quản lý có tri thức và khả năng
quản lý những quy trình công nghệ hiện đại một cách có hiệu quả.
Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụ lao
động hơn khối lượng trang thiết bị và cơ sở vật chất dùng trong quá trình sản
xuất ra hàng hoá và dịch vụ được gọi là tư bản hiện vật hay viết gọn là tư bản.
Ví như khi người thợ mộc làm việc, anh ta có cưa, bào, đục, máy tiện… Việc
có nhiều công cụ hơn cho phép người thợ làm việc nhanh và chính xác hơn.
Nghĩa là trong một tuần người thợ mộc với dụng cụ thô sơ sẽ làm ra ít sản
phẩm hơn so với người có công cụ tinh vi, chuyên cho nghề mộc. Tư bản hiện
vật biểu thị yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà trước đó đã từng là đầu
ra của nó. Tư bản hiện vật là nhân tố sản xuất được dùng để sản xuất ra tất cả
các loại hàng hoá và dịch vụ, trong đó có bản thân tư bản.
Bản thân tư bản hiện vật của một nước tăng trưởng theo thời gian
nhưng tăng nhanh hoặc chậm phụ thuộc vào quá trình tích luỹ tư bản. Nhưng
như chúng ta biết tích luỹ tư bản cần có sự hy sinh tiêu dùng hiện tại trong
nhiều năm. Nhưng nó tăng trưởng nhanh có xu hướng đầu tư mạnh vào hàng
hoá tư bản mới, ở những nước tăng trưởng nhanh nhất, 10 → 20 % thu nhập
dành cho tích luỹ tư bản - yếu tố tác động đến tăng trưởng. Khi bàn đến tư

Cùng với ba nhân tố sản xuất đã thảo luận ở trên, tăng trưởng kinh tế
còn phụ thuộc vào nhân tố hết sức quan trọng là tri thức công nghệ. Trong
7
7
lịch sử, tăng trưởng của các nước trên thế giới có hình mẫu khác nhau không
phải là quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng đem lại một
bước tiến xa về khả năng sản xuất của các nước châu Âu, Mỹ, Nhật và các
nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapor…
Nhân tố cuối cùng quyết định năng suất là tiến bộ công nghệ. Cách đây
một thế kỷ, đa số người Mỹ là nông dân, bởi vì kỹ thuật trồng trọt hồi ấy đòi
hỏi nhiều lao động để làm ra lượng lương thực cần thiết cho mọi người. Ngày
nay nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật trồng trọt, chỉ một phần nhỏ dân số làm
việc trong nông nghiệp cũng đủ nuôi sống toàn xã hội. Sự thay đổi về công
nghệ như thế cho phép chuyển lao động sang các ngành sản xuất ra hàng hoá
và dịch vụ khác.
Thay đổi công nghệ là những thay đổi trong quá trình sản xuất hoặc đưa
ra những sản phẩm mới sao cho có thể tạo ra được sản lượng nhiều hơn và cải
tiến hơn cùng với một lượng đầu vào. Những phát minh đã làm năng suất tăng
nhanh là động cơ hơi nước, máy phát điện, bóng đèn, động cơ đốt trong, và
máy bay phản lực hạng nặng chở khách. Những thay đổi công nghệ cơ bản là
những phát minh ra sản phẩm mới như điện thoại, máy thu thanh, máy bay,
máy ảnh, vô tuyến truyền hình và máy tính. Những phát minh này là những
phát minh nổ bật nhất trong kỷ nguyên hiện đại đang diễn ra trong ngành điện
và tin học mà một máy tính xách tay nhỏ bé ngày nay có công suất vượt xa
máy tính nhanh nhất của những năm 1960. Những phát minh này là những ví
dụ đặc sắc nhất về thay đổi công nghệ. Tuy nhiên thay đổi công nghệ trên
thực tế là một quá trình liên tục bao gồm những cải tiến lớn, nhỏ. Những cải
tiến nhỏ là bộ phận của sự tiến bộ đều đặn của nền kinh tế.
Tiến bộ công nghệ có tầm quan trọng lớn trong việc nâng cao mức
sống, các nhà kinh tế từ lâu đã suy nghĩ làm thế nào để khuyến khích tiến bộ

vụ của Chính phủ trong mỗi thời kỳ.
Thứ hai là tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước được thể
hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu
quả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao. Chính vì vậy, trong công tác quản
lý tài chính, một yêu cầu đặt ra là: Khi xem xét, đánh giá về các khoản chi
ngân sách nhà nước, cần sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu định tính và các chỉ
tiêu định lượng, đồng thời phải có quan điểm toàn diện và đánh giá tác dụng,
ảnh hưởng của các khoản chi ở tầm vĩ mô.
10
10
Thứ ba là xét về mặt tính chất phần lớn các khoản chi ngân sách nhà
nước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao
cấp. Chính vì vậy các nhà quản lý tài chính cần phải có sự phân tích, tính toán
cẩn thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu để tránh
được những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà
nước.
Tuỳ theo yêu cầu của việc phân tích, đánh giá và quản lý ngân sách
trong từng thời kỳ người ta có thể phân chia các khoản chi ngân sách nhà
nước theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở
nước ta trước đây, nộ dung các khoản chi ngân sách nhà nước được phân loại
dựa trên các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Đây là cách phân loại chủ
yếu thời kỳ này.
Theo chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, nội dung chi tiêu ngân sách
nhà nước bao gồm, chi kiến thiết kinh tế, chi văn hoá- xã hội, chi quản lý
hành chính, chi an ninh quốc phòng và các khoản chi khác. Trong các nền
kinh tế thị trường và ở nước ta hiện nay, cách phân loại nội dung chi tiêu ngân
sách nhà nước theo tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng phổ
biến. Đây cũng là cách phân loại quan trọng nhất, nó trình bày nội dung chi
tiêu của chính phủ để qua đó người ta có thể nhận rõ và phân tích, đánh giá

pháp nhân kinh tế công hay tư để thực hiện các nhiệm vụ đồng loại với các
nghiệp vụ nêu trên, nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế của nhà
nước.
II. VẤN ĐỀ NSNN ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Để bắt đầu nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế dài hạn, chúng ta cần nhìn
vào thực tế của một số nền kinh tế trên thế giới.
Ở Nhật vào thời kỳ 1890 thu nhập thực tế bình quân đầu người là 1196
đô la, đến 1997 là 23400 đô la ta nhận thấy tỉ lệ tăng trưởng hàng năm là 2,82.
Ở Brazin năm 1900 có mức thu nhập thực tế bình quân đầu người đầu
kỳ là 619 đô la, năm 1997 là 23400 có tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 2,41.
12
12
Ở Mêhicô năm 1900 mức thu nhập là 922 đô la, nưm 1997 là 8120 có
mức tăng trưởng là 2,27.
Ở Đức là 1,99; Canađa là 1,95; Trung Quốc là 1,91; Áchentina là 1,76;
Mỹ là 1,75; Anh là 1,33 và Ấn Độ là 1,34.
Nhìn vào các số liệu trên ta thấy mức tăng trưởng kinh tế nhanh ảnh
hưởng đến sự phát triển của mỗi nước. Lúc đầu Nhật không phải là một nước
giàu. Nhưng vì sự tăng trưởng thần kỳ của nó mà giờ đây Nhật đã trở thành
siêu cường kinh tế với thu nhập bình quan chỉ thua Mỹ một chút.
Vì sự khác biệt trong tỷ lệ tăng trưởng, vị trí xếp hạng của các nước
theo thu nhập thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Như chúng ta đã thấy Nhật là
nước đã vươn lên trên nhiều nước khác. Một nước tụt hậu lại sau là Anh.
Mỗi một nước lại có thể chế khác nhau, nên vấn đề chi ngân sách nhà
nước cũng không giống nhau ở mỗi nước. Nếu chính phủ mỗi nước điều tiết
được thu chi ngân sách hợp lý thì sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tránh thâm
hụt ngân sách. Thực tế cho thấy Nhật hiện tại là một nước thu chi ngân sách
hợp lý. Mỹ thời Bil Clinton còn làm tổng thống, thu chi ngân sách nhà nước
ổn định, thậm chí còn có thặng dư. Nhưng từ khi Bush kế nhiệm, ngân sách
nhà nước lại bất ổn, mất cân bằng. Làm sao để quản lý, điều tiết ngân sách

chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Sự thống nhất này có khác với các nước
khác ở chỗ: dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách hàng năm trình quốc
hội là bao gồm tất cả các khoản thu chi của ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương. Ở địa phương, dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách
địa phương hàng năm trình hội đồng nhân dân tỉnh là bao gồm tất cả các
khoản thu chi của tỉnh và huyện. Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách nhà nước ở
nước ta chưa hoàn chỉnh, vì toàn bộ các khoản thu và chi của ngân sách xã
chưa được tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước.
2. Tình hình sử dụng công cụ ngân sách nhà nước của Việt Nam
nhằm thúc đẩy kinh tế
2.1. Những kết quả đạt được
14
14
Ngày 25/4/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới về việc khoán
thu, chi đối với các đơn vị sự nghiệp, công lập. Việc này có ảnh hưởng tích
cực tới việc thu chi ngân sách của nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với
các đơn vị sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành
lập. Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán
độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định
của luật kế toán. Ngoài ra, đơn vị sự nghiệp thực hiện quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong việc xác định nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và tổ chức các
hoạt động. Việc này giúp các đơn vị tự xác định nhiệm vụ hoạt động của
mình, tăng tính cạnh tranh và do đó tăng thu của ngân sách nhà nước.
Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, việc này sẽ tạo điều
kiện cho Việt Nam phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, một điều
nhận thấy rằng gia nhập WTO chỉ thực hiện mang lại kết quả cho doanh
nghiệp nào biết tận dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhưng trong tình
hình sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém, thì

còn nhiều bất cập nhưng đã giúp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế rất cao,
GDP thực tế bình quân trên đầu người tăng lên nhanh chóng.
VD: Người Việt Nam đã vay 1.766 tỷ động xây dựng thủy điện bản vẽ
(nhờ 3 ngân hàng: công thương Việt Nam, ngoại thương Việt Nam và ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn).
(Công ty công nghiệp tàu thủy Sài Gòn đầu tư 287 tỷ đồng đóng tàu
xuất khẩu…).
* Ngân sách Nhà nước không chỉ điều tiết lĩnh vực kinh tế mà còn điều
tiết trong lĩnh vực xã hội. Sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy Nhà
nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y
tế, văn hóa có ý nghĩa quyết định. Việc thực hiện các nhiệm vụ này về cơ bản
thuộc về Nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng những dịch
vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng, nhưng nguồn tài trợ
16
16
để thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ ngân sách Nhà nước. Như
vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, ngân
sách Nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cùng với việc
thực hiện nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội , hàng năm chính phủ vẫn
có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Chúng ta có thể
nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trực tiếp giành cho những người
có thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, các
loại trợ cấp giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giúp cho các mặt hàng thiết yếu
(lương thực, điện, nước…), các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số,
chính sách việc làm) các chương trình quốc gia lớn về chống mù chữ, chống
dịch bệnh, các chi phí cho việc cung cấp và hàng hóa khuyến dụng, hàng hóa
công cộng… Tuy rằng mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng các dịch vụ này,
nhưng hiện nay ở nước ta, tỷ lệ người nghèo còn chiếm phần lớn trong dân
cư, nên phần được hưởng của người nghèo cũng lớn hơn.
Bên cạnh các khoản chi Ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã

hay BB = T - G
BB =tY - G
Trong đó: BB là cán cân ngân sách
Tx là tổng nguồn thu nhập
Trlà chuyển giao thu nhập
G là chi tiêu chính phủ mua khóa và dịch vụ
T là thuế ròng tức
Khi thu nhập lớn hơn chi tiêu, chính phủ có thặng dư ngân sách. Khi
chi tiêu lớn hơn thu nhập, điều mà diễn ra đối với hầu hết các quốc gia trong
lịch sử hiện đại, thì chính phủ có thâm hụt ngân sách. Khi thu nhập và chi tiêu
bằng nhau, chính phủ có cân bằng ngân sách.
Một vấn đề phát sinh khi chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để
kích cầu là các biện pháp này lại làm tăng thâm hụt ngân sách. Ngược lại,
chính phủ tài khóa thắt chặt qua việc cắt giảm chi tiêu chính phủ hoặc tăng
thuế nhằm kiềm chế lạm phát lại làm giảm thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên
18
18
ngân sách chính phủ phụ thuộc vào nhiều yếu tố và thay đổi có thể vì những
lý do chẳng liên quan gì đến chính sách tài khóa. Chẳng hạn, với mức chi tiêu
cố định là 250 và thuế bằng 25% của thu nhập, thì ngân sách chính phủ sẽ cân
bằng khi thu nhập là 1000 như được minh họa ở hình vẽ. Tại những mức thu
nhập thấp hơn 1000, ngân sách sẽ bị thâm hụt và ngược lại, tại những mức thu
nhập cao hơn 1000, ngân sách sẽ có thặng dư.
NS cân bằng
Thặng dư NS
T = 0,25Y
1000
Thâm hụt NS
0
Y

sản lượng cao hơn mức tự nhiên.
2. Tài trợ cho thâm hụt ngân sách chính phủ
Nhìn chung, có 4 cách để tài trợ cho thâm hụt mà chính phủ có thể
chọn sử dụng: (i) vay tiền từ ngân hàng trung ương hay "tiền tệ hoá thâm
hụt"; (ii) vay tiền từ hệ thống ngân hàng thương mại; (iii) vay tiền từ khu vực
phi ngân hàng trong nước; và (iv) vay tiền từ nước ngoài, hay giảm dự trữ
quốc tế. Sau đây chúng ta sẽ điểm qua từng cách tài trợ.
(i) vay tiền từ ngân hàng trung ương (hay tiền tệ hóa thâm hụt). Việc cổ
phần vay tiền từ ngân hàng tương đương với việc tạo thêm cơ sở tiền tệ. Việc
tạo tiền này với 1 tốc độ nhanh hơn nhu cầu về tiền tại mức giá hiện hành sẽ
tạo ra lượng tiền dư thừa trong lưu thông và cuối cùng sẽ đẩy lạm phát tăng
lên. ở nhiều nền kinh tế chuyển đổi, một bộ phận lớn thâm hụt ngân sách
20
20
chính phủ được tài trợ bằng cách phát hành tiền và điều này được coi là
nguyên nhân chính gây ra lạm phát.
(ii) vay tiền từ hệ thống ngân hàng thương mại sẽ làm giảm chi tiêu tư
nhân chủ yếu thông qua sức ép làm tăng lãi suất.
(iii) vay ngoài ngân hàng: Một cách tài trợ thâm hụt không dẫn đến
tăng lượng tiền trong lưu hành và chính phủ phát hành nợ đối với công chúng
trong nước. Việc vay mượn ngoài ngân hàng cho phép chính phủ có thể duy
trì thâm hụt mà không cần tăng cơ sở tiền tệ hay giảm dự trữ quốc tế. Vì vậy,
biện pháp này được coi là một biện pháp hiệu quả để kiềm chế lạm phát. Tuy
nhiên việc đi vay ngoài hệ thống ngân hàng chứa đựng những rủi ro nếu sử
dụng chúng quá thường xuyên. Thứ nhất, việc tài trợ cho thâ hụt bằng nợ,
trong khi không gây ra lạm phát trước mắt thì nó lại làm tăng áp lực lạm phát
trong tương lai nếu như tỷ l nợ so với GDP liên tục tăng. Thứ hai, giống như
vay ngân hàng, vay từ công chúng trực tiếp làm giảm khả năng của khu vực
tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong
nước.

được rất nhiều số liệu phản ánh mức sống khác nhau của các nước trong các
thời kỳ khác nhau.
Trong suốt thế kỷ qua, thu nhập bình quân đầu người của Mỹ tăng
khoảng 2% mỗi năm. Với tỷ lệ tăng trưởng như vậy thì nghĩa là cứ sau 35
năm, thu nhập bình quân đầu người lại tăng lên gấp đôi. Với mức tăng trưởng
đó, thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Mỹ tăng gấp 8 lần so với 100
năm trước.
Sự tăng trưởng kinh tế dẫn đến sự khác biệt về mức sống, chính vì thế
nhà nước đã đề ra nhiều chính sách hỗ trợ, phát triển nó. Chính sách chi ngân
sách nhà nước tạo đà kích thích tăng trưởng đem lại nhiều hiệu quả tốt cho sự
phát triển nền kinh tế các nước.
Như vậy tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân của sự khác biệt giữa các
nước, giúp nước giàu có thể duy trì mức sống, nước nghèo có thể nâng cao
mức sống. Và nó là vấn đề quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô.
23
23

24
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status