ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY"
1
1
MỤC LỤC
2
2
ẢNHHƯỞNGCỦANHOGIÁOTẠI VIỆT NAM HIỆNNAY
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chếđộ cộng sản nguyên
thuỷđược thay thế bằng chếđộ chiếm hữu nô lệ. Những thời kỳ lớn của lịch sử
triết học là: triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ, triết học của xã hội phong
kiến, triết học của giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa
tư bản, triết học của xã hội tư bản chủ nghĩa, triết học Mác- Lênin.
Lịch sử triết học nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và sự kế tiếp nhau của
các trường phái, học thuyết, phương pháp triết học trong lịch sử. Việc nghiên
cứu lịch sử triết học không thể bỏ qua những điều kiện, tiền đề về kinh tế,
chính trị xã hội và khoa học, tôn giáo và nghệ thuật trong lịch sử có liên quan
đến triết học. Mục tiêu của lịch sử triết học là vạch ra những phát sinh, hình
thành và phát triển của hai khuynh hướng triết học cơ bản. Chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử triết học từ cổđại đến đương đại,
song đó là "đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập" trong sự phát triển
của lịch sử tư tưởng triết học.
Phương Đông là một trong những chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân
loại. Từ thiên niên kỷ thứ VIII trước Công nguyên, ấn độ và Trung hoa cổđại
đã trở thành trung tâm văn minh lớn của xã hội loài người lúc bấy giờ. Những
tư tưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý mà
thường được trình bày dươí dạng xen kẽ hoặc ẩn sau các vấn đề chính trị- xã
hội, đạo đức, nghệ thuật trong lịch sử triết học phương Đông, ít thấy có những
bước phát triển nhảy vọt về chất có tính vạch thời đại: Nho giáo, Phật giáo,
Bà la môn giáo, được hình thành từ thời cổđại nhưng đến cuối thế kỷ XIX
hoàn thiện và phát triển. Mạnh Tửtheo hướng duy tâm, Tuân Tử theo hướng
duy vật. Trong lịch sử sau này dòng Khổng Mạnh cóảnh hưởng lâu dài nhất.
Từ nhà Hán trởđi, Nho giáo được nhiều nhà tư tưởng phát triển và sử dụng
theo môi trường xã hội của nó.
Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những vấn đề về chính trị, đạo đức
của con người và xã hội.
I. TƯTƯỞNG 1: QUANĐIỂMVỀBẢNCHẤTCONNGƯỜI.
Nho giáo đặt vấn đềđi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con
người. Đức Khổng Tử và Mạnh Tửđều quan niệm bản tính con người ta sinh
ra vốn thiện. Bản tính "Thiện" ởđây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức
của con người.
Xuất phát từ quan niệm cho rằng bản tính của con người là thiện,
Khổng Tửđã xây dựng phạm trù "Nhân" với tư cách là phạm trù trung tâm
trong triết học của ông. Theo ông, một triều đại muốn thái bình thịnh trị thì
người cầm quyền phải cóđức Nhân, một xã hội muốn hoà mục thì phải có
nhiều người theo vềđiều Nhân. Chữ Nhân được coi là nguyên lýđạo đức cơ
bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ
trong gia tộc đến ngoài xã hội
5
5
Nếu Khổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người,
thì theo ông, để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu
khác là phải "hiểu biết mệnh trời" để sống "thuận mệnh". Ông viết: "Không
biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử", nhưng ông kêu gọi mọi người
trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở trong chính bản thân mỗi người, đừng
trông chờ vào trời đất quỷ thần: "Đạo người chưa biết thì làm sao biết được
đạo quỷ thần". Con người phải chú trọng vào sự nỗ lực học tập, làm việc tận
tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý trời.
Tuy nhiên trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho
rằng con người vốn có bản tính thiện thì Tuân Tửđưa ra lý luận bản tính con
Mỗi cương thay đổi xã hội loạn.
III. TƯTƯỞNG 3: QUANĐIỂMVỀGIÁODỤC.
Trước hết, Nho giáo có nêu quan điểm về một xã hội lý tưởng. Lý
tưởng cao nhất của đức Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo
là xây dựng một xã hội "Đại đồng". Khái niệm xã hội đại đồng của Nho giáo
không phải là một xã hội đặt trên nền tảng của một nền sản xuất phát triển cao
mà là một xã hội "an hoà", trong đó sựan hoàđược đặt trên nền tảng của sự
công bằng xã hội.
Để thực hiện xã hội lý tưởng, xã hội đại đồng, xã hội an hoà trên, Nho
giáo không đặt vấn đề về một cuộc cách mạng, không cầu cứu ở bạo lực, mà
tìm cứu cánh ở một nền giáo dục. Đức Khổng Tử là người đầu tiên lập ra
trường tư, mở giáo dục ra toàn dân. Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi người
mới biết phận vị của mình mà nhìn nhận hành động trong cuộc sống cho
đúng.
Nội dung của giáo dục Nho giáo, giáo dục và tự giáo dục, hướng vào
việc giáo dục những chuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa,
7
7
được nêu gương sáng trong cổ sử mà thôi nên cách dạy của Nho giáo là chỉ
dạy làm người nói chung, không hềđề cập đến khoa học, kinh tế, nghềnghiệp,
tức không hướng vào phương diện kỹ nghệ và kinh tế. Thừa thời gian mới
học đến lục nghề. Đây là một nền giáo dục thiên lệch.
Đồng thời, nguyên tắc giáo dục trong Nho giáo là nguyên tắc tự giác:
nguyên tắc tự nguyện làm sáng tỏ, thường dùng phương pháp nêu gương.
IV. TƯTƯỞNG 4: QUANĐIỂMVỀQUẢNLÝXÃHỘI (TRỊQUỐC).
Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo
nêu nguyên tắc quản lý xã hội như sau:
- Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chếđộ quân
chủ trung ương tập quyền cao độ). Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực
tập trung vào một người là Hoàng đế.
phải vì lợi và Mạnh Tử chủ trương một chếđộ "bảo dân", trong đó người trị vì
phải lo cái lo cho dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và
cuộc sống bình yên, no đủ, như thế dân không bao giờ bỏ vua. Đồng thời ông
cũng khuyên các bậc vua chúa phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ
cho dân, thu thuế của dân có chừng mực. Đặc biệt Mạnh Tử có quan điểm hết
sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền. Ông nói: "Dân vi quý, quân vi khinh,
xã tắc thứ vi", vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua. Thậm
chíông cho rằng dân có khi còn quan trọng hơn vua. Kẻ thống trị nếu không
được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn cũng sẽ phải sụp đổ, nếu vua tàn
ác, không hợp với lòng dân vàý trời thì sẽ có thể bị truất phế.
- Nguyên tắc 3: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội.
Đức Khổng Tửđã nói: "Không lo thiếu mà lo không đều,
Không lo nghèo mà lo dân không yên".
Sự không công bằng làđầu mối của loạn xã hội.
Cơ sở công bằng trong tôn giáo:
+ Theo phái Mặc gia: Công bằng theo kiểu cào bằng.
9
9
+ Theo phái Nho giáo: Công bằng trên cơ sở danh của mình. Tức là
công bằng theo danh (địa vị xã hội) trong hưởng quyền lợi phân phối theo
chức vụ, địa vị.
CHƯƠNG II
SỰẢNHHƯỞNGCỦANHOGIÁOỞVIỆTNAM
Tuy Nho giáo cũng có nhiều tư tưởng về kinh tế, quân sự, ngoại giao
nhưng không quán xuyến và sâu sắc.
Nho giáo vào Việt nam từ những năm cuối trước Công nguyên. Từ cuối
thế kỷ XIII trởđi, Nho giáo dần dần lấn át Phật giáo và trở thành quốc giáo.
Nóđược phát triển trong sựảnh hưởng của truyền thống dân tộc Việt nam và
Phật giáo. ảnh hưởng của Nho giáo đối với nước ta có cả mặt tích cực và tiêu
cực.
lịch sử Việt nam.
Nguyễn Trãi trong "Bình Ngôđại cáo" đã viết:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", và
"Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Đem chí nhân để thay cường bạo".
Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: "Dân giàu,
nước mạnh" và "Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng".
11
11
Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ
những tư tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc
bấy giờ. Chẳng hạn Khổng Tử cho rằng: "Thứ dân bất nghị" tức là dân thường
không có quyền bàn việc nước, còn Bác Hồđề cao dân chủ. Khổng Tử coi
thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương
nam nữ bình quyền.
II. ẢNHHƯỞNGTIÊUCỰCCỦA NHOGIÁOỞVIỆTNAM:
Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo thể hiện ở những điểm sau:
Nho giáo suy đến cùng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triết
học. Nó thường được sử dụng để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến trong
lịch sử. Nho giáo góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chếđộ phong
kiến ởáĐông nói chung vàở Việt nam nói riêng.
Nho giáo cũng là một trong những nguyên nhân kìm hãm sản xuất phát
triển ở Việt nam. Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống tập thểđã biến
thành chủ nghĩa gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, bất bình đẳng. Nho giáo
không thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên bởi phương
pháp giáo dục thiên lệch của Nho giáo chỉ quan tâm tới đạo đức, học và dạy
làm người mà không đề cập đến kiến thức khoa học kỹ thuật. Những mặt tiêu
cực đó phản ánh tính chất bảo thủ lạc hậu của Nho giáo ở nước ta.
Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam thì tư tưởng
chính trị - đạo đức của Nho giáo cóảnh hưởng trên các mặt sau:
14