Luận văn : THỬ NGHIỆM ĐIỀU CHẾ AUTO-VACCINE PHÕNG TIÊU CHẢY DO E. coli TRÊN HEO CON SAU CAI SỮA part 4 - Pdf 19



11
ii. Miễn dịch chủ động là loại miễn dịch mà tự bản thân cơ thể sinh vật tạo ra
khi cơ thể tiếp xúc với kháng nguyên. Nếu miễn dịch chủ động mà trong đó có
sự tham gia của con ngƣời nhƣ trƣờng hợp chủng ngừa vaccine để phòng
bệnh, đƣợc là miễn dịch chủ động nhân tạo. Miễn dịch chủ động do cơ thể tiếp
thu tự nhiên trong môi trƣờng sống đƣợc gọi là miễn dịch chủ động tự nhiên.
Trƣờng hợp này xảy ra khi thú qua khỏi sau đợt dịch bệnh, có khả năng không
mắc lại bệnh đó khi bị tái nhiễm.
Cũng nhƣ trong hệ thống miễn dịch tự nhiên, miễn dịch thu đƣợc cũng có miễn
dịch dịch thể và miễn dịch tế bào:
Miễn dịch tế bào (còn gọi là quá trình miễn dịch trung gian tế bào): đƣợc
biểu thị bởi sự hoạt hóa lympho bào T thuộc đặc hiệu của kháng nguyên. Nhƣ
vậy trong miễn dịch trung gian tế bào, lympho bào T đóng vai trò quan trọng.
Miễn dịch dịch thể: kháng thể chủ yếu có trong huyết thanh. Kháng thể
đặc hiệu cũng có cấu tạo giống nhƣ kháng thể không đặc hiệu và nằm trong 5
lớp A, D, G, E, M nhƣng nó chỉ đƣợc tạo ra khi có kháng nguyên đặc hiệu tác
động và đƣợc sự hỗ trợ của lympho bào T. Lympho bào B chịu trách nhiệm
trong miễn dịch dịch thể.
2.3.3. Khái niệm về kháng nguyên (antigen) và kháng thể
(antibody)
2.3.3.1. Kháng nguyên (antigen)
Là những protein lạ mà khi vào cơ thể sẽ kích thích cơ thể tạo ra kháng thể kết
hợp đặc hiệu với nó. Tất cả kháng nguyên đều có hai tính chất: tính sinh miễn dịch
của kháng nguyên và tính đặc hiệu của kháng nguyên.
i. Tính sinh miễn dịch của kháng nguyên: là khả năng tạo sự miễn dịch
của cơ thể đối với kháng nguyên. Tính chất này phụ thuộc các điều kiện sau :
 Bản chất hoá học của kháng nguyên: thƣờng là những protein lạ đối với
cơ thể vật chủ. Các kháng nguyên bản chất hoá học là protein thƣờng là
kháng nguyên hoàn toàn và mạnh vì nó kích thích cơ thể tạo ra nhiều kháng

có tính kháng nguyên vì ở đây chuỗi peptide đƣợc lặp lại nhiều lần với 13
cùng một loại acid amin, do đó không chứa yếu tố lạ đặc trƣng. Các
dipolypeptide và đặc biệt là tripolypeptide có tính kháng nguyên mạnh.
 Các nhóm quyết định kháng nguyên (epitope): nhóm quyết định kháng
nguyên là những điểm thụ thể nằm trên bề mặt kháng nguyên mà tại nơi đó
kháng thể gắn vào. Trên mỗi phân tử kháng nguyên có khoảng 10.000
nhóm quyết định kháng nguyên.
 Trọng lƣợng phân tử của kháng nguyên: phân tử kháng nguyên càng lớn
thì trên đó có nhiều “nhóm quyết định kháng nguyên”, chúng là những
kháng nguyên mạnh. Bán kháng nguyên có trọng lƣợng phân tử nhỏ do đó
có ít nhóm quyết định kháng nguyên.
2.3.3.2. Kháng thể (antibody)
Là những globulin miễn dịch (immunoglobulin-Ig) có trong huyết thanh và dịch
chiết tại chỗ. Chúng là 1 loại protein có mang thêm 1 glucid nên còn gọi là
glycoprotein.
Cấu trúc kháng thể: phân tử kháng thể gồm 4 chuỗi protein trong đó gồm 2 chuỗi
nặng (gọi là chuỗi H-heavy) và 2 chuỗi nhẹ (gọi là chuỗi L-light). Trọng lƣợng của
kháng thể từ 15 KDa trở lên.
Các chuỗi H và L nối với nhau bằng cầu nối disulfide (-S-S-). Chuỗi nặng gồm 4
đoạn polypeptide và chuỗi nhẹ gồm 2 đoạn polypeptide, mỗi đoạn có 110 - 120 acid
amin. Trên chuỗi nặng và chuỗi nhẹ có vùng Fab và Fv kết hợp đƣợc với kháng
nguyên, vùng Fc mang tính kết hợp bổ thể. Sự khác nhau giữa các loại kháng thể
nằm ở vùng siêu biến V còn vùng hằng định C thì giống nhau. Nhiều kháng nguyên
có nhiều yếu tố xác định và do đó phải có 1 bộ kháng thể tƣơng ứng mới tƣơng tác
đƣợc với kháng nguyên ấy. Vì vậy, số lƣợng kháng thể hết sức lớn.
Phân loại kháng thể: tất cả các kháng thể đƣợc xếp vào 5 lớp Ig. Mỗi lớp phân
biệt với các lớp khác nhờ những trình tự acid amine đặc trƣng ở vùng hằng định

Chúng dễ dàng bị biến tính bởi nhiệt và bị phân giải bởi enzyme. Có vai trò
trong miễn dịch tại chỗ, thƣờng xuất hiện nhiều trong bệnh nhân có bệnh mãn
tính. Tốc độ tổng hợp của IgD kém hơn IgG khoảng 100 lần nhƣng dị hóa lại 15
nhanh hơn hàng chục lần. IgD tăng trong các trƣờng hợp nhiễm khuẩn mãn
tính, nhƣng không đặc hiệu cho loài. IgD có trong kháng thể kháng tuyến giáp
trạng, kháng insulin, kháng penicillin. IgD không kết hợp với bổ thể, không
gây phản vệ thụ động trên da chuột lang, không đi qua nhau thai.
Chức năng sinh học của IgD còn đƣợc biết rất ít, có lẽ IgD có vai trò nhƣ
thụ thể cho kháng nguyên vì nó gắn trên bề mặt tế bào lympho B để tạo điểm
thụ thể giữa lympho B với kháng nguyên tƣơng ứng.
v. IgE: có chuỗi nặng là epsilon (ε). IgE có nồng độ trong huyết thanh thấp
0,025mg/100ml, dễ biến tính khi xử lý bằng nhiệt ở 56
0
C/30 phút. IgE có khả
năng hoạt hóa đại thực bào và bạch cầu ái toan, tăng cƣờng thực bào hay tăng
cƣờng độc tính của bạch cầu trung tính đối với giun sán. IgE có ít trong huyết
thanh và dễ bị phân huỷ.
IgE đóng vai trò trung gian trong phản ứng quá mẫn, trực tiếp gây ra những
triệu chứng nhƣ sốt mùa hè, hen suyễn, sốt phát ban, và shock quá mẫn.
 Sự hình thành kháng thể: nhờ phƣơng pháp đánh dấu kháng thể bằng đồng vị
phóng xạ hay chất huỳnh quang, ngƣời ta thấy các kháng thể đƣợc tổng hợp ở tủy
đỏ và ở các nang của lách, ở các nang và dây tuỷ của các hạch bạch huyết, ở tuỷ
xƣơng, mảng Peyer và những tổ chức lympho khắp cơ thể (phổi, gan…). Một trong
những tổ chức quan trọng nhất tham gia vào việc tổng hợp kháng thể là “trung tâm
mầm” của lách và hạch bạch huyết. Trung tâm mầm xuất phát từ những “clone” là
những tế bào gốc ở tuỷ xƣơng. Ban đầu khi chƣa tiếp xúc với kháng nguyên,
“clone” ở trạng thái “ngủ”, khi tiếp xúc với kháng nguyên, “clone” bị kích thích và

tăng sức miễn dịch và kéo dài thời gian miễn dịch. 17
2.4.2.3. Các "toxoid”
Là các hợp chất độc bất hoạt đƣợc trích từ các vi sinh vật (trong trƣờng hợp
chính các độc chất này là phƣơng tiện gây bệnh của vi sinh vật). Chúng đƣợc tiêm
cho vật chủ khác (nhƣ ngựa) để tạo kháng thể, rồi chiết lấy kháng thể này để chữa
bệnh. Ví dụ: các huyết thanh ngừa uốn ván và bạch hầu.
2.4.2.4. Vaccine từng phần hay vaccine dƣới đơn vị (subunit)
i. Vaccine tái tổ hợp: gen mã hoá kháng nguyên đƣợc chuyển nạp vào genome
của tế bào nấm men, tế bào vi khuẩn hoặc tế bào động vật thích hợp để tạo ra
nhiều kháng nguyên tinh khiết nhờ phƣơng thức nhân bản. Quá trình chuyển nạp
gen mã hoá kháng nguyên đƣợc thực hiện qua yếu tố trung gian plasmid.
ii. Sử dụng protein tinh sạch hay glycoprotein của virus.
2.4.2.5. Một số loại vaccine mới đang nghiên cứu
i. Vaccine DNA trần (naked DNA vaccine): gen mã hoá cho một kháng nguyên
của tác nhân gây bệnh cũng có thể tách rời rồi đƣa vào vật chủ thông qua
vectơ là plasmid hay virus.
ii. Vaccine peptide: trên đó có epitope bảo vệ. Peptid có thể liên kết với một
protein tải để tăng tính phụ thuộc tế bào lympho T.
iii. Vaccine liên kết: chất polysaccharid liên kết với protein có phân tử lƣợng cao
để tiếp cận dễ dàng với tế bào lympho T. Ví dụ: virosomes …
iv. Vaccine khảm hay vaccine lai ghép (hydrid vaccine): là kết quả của sự kết
hợp kĩ thuật tái tổ hợp và kĩ thuật di truyền sử dụng một sinh thể quen biết để
hạn chế hiện tƣợng "phản tác dụng". Chủng vi sinh vật vaccine đƣợc cấy
ghép gen mã hoá kháng nguyên lấy từ vi sinh vật gây bệnh. Vi sinh vật đƣợc

Có thể đƣợc sử dụng để phòng ngừa những tác nhân gây bệnh ở dạng phân tử
(nhƣ prion…)

2.4.5.2. Nhƣợc điểm
Quy trình sản xuất auto-vaccine rất khó khăn vì cần phải tinh sạch kháng
nguyên. 19
Hạn chế trong việc sử dụng rộng rãi, chỉ đƣợc sử dụng tại nơi mà mầm bệnh
đƣợc phân lập để sản xuất auto-vaccine.
Chi phí sản xuất cao, giá thành phẩm cao.
Khó để thƣơng mại hóa auto-vaccine thành phẩm.
2.5. Chất bổ trợ
Ngày nay các hãng sản xuất vaccine luôn bổ sung chất bổ trợ vào sản phẩm của
mình. Sử dụng chất bổ trợ nào để đem lại hiệu quả cho vaccine là bí quyết riêng của
mỗi công ty. Vậy chất bổ trợ là gì? Chúng có những tác dụng gì để nâng cao hiệu
quả của vaccine?
2.5.1. Định nghĩa chất bổ trợ
Chất bổ trợ là một tác nhân đƣợc bổ sung vào vaccine có tác dụng tăng cƣờng
kích thích hệ miễn dịch, tạo nên sự đáp ứng với vaccine mạnh và dài hơn, qua đó
nâng cao hiệu quả của vaccine.
Một trong những chất bổ trợ đƣợc sử dụng nhiều và sớm trong vaccine, đặc biệt
là vaccine cho ngƣời, là muối nhôm. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy
chất bổ trợ nhôm là nguyên nhân gây chết các neuron vận động sau khi tiêm.
Một số chất bổ trợ đƣợc sử dụng trong vaccine thú y và tác dụng của chúng:
 Muối nhôm: kéo dài sự biểu hiện của kháng nguyên.
 Yếu tố bề mặt (saponin, lysolecithin…): hoạt hóa sự biểu hiện của kháng
nguyên.
 Nhũ dầu: kéo dài sự biểu hiện kháng nguyên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status