Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ C HÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌ C
ooo0ooo
Đề tài 33:
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD : PHẠM QUANG HUY
Lớp : Kế toán ngày – K20
cấp quản lý ngân sách nhà nước cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách nhà nước được tốt hơn,
điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như quan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt
hơn để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của ngân sách nhà nước. Đồng thời, phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn
thiện hơn.
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày
16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Đây là một Luật quan trọng trong hệ thống
pháp luật về tài chính của nước ta. Qua hơn 6 năm thực hiện Luật NSNN đã phát huy được nhiều
mặt tích cực, nâng cao được hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước, nâng cao tính
chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, củng cố kỷ luật tài chính, tăng cường tích
lũy, sử dụng tiết kiệm NSNN, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong
quá trình thực hiện, phâp cấp quản lý ngân sách là một vấn đề nổi cộm cần phải được tổng kết, phân
tích, đánh giá để sửa đổi cho phù hợp nhằm hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách tài chính phục vụ
mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy nền kinh tế nước ta hội
nhập với nền kinh tế thế giới, đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và việc điều hành ngân
sách nhà nước nói riêng.
Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền
Nhà nước trung ương và các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và
điều hành ngân sách nhà nước đúng đắn và hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý ngân
sách nhà nước.
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
3
II. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Nhà
nước về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước.
4
Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân sách phải căn cứ vào yêu cầu
cân đối chung của cả nước, cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa
các vùng lãnh thổ.
III. NỘI DUNG CỦA PHÂN CẤP Q UẢN LÝ NGÂN SÁC H NHÀ NƯỚ C
Dựa trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
được quy định rõ trong chương II và III của luật ngân sách nhà nước bao gồm:
Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều hành ngân sách nhà nước từ trung
ương đến địa phương trong việc ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát về chế độ, chính
sách.
Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và điều hành ngân sách nhà nước
trong việc ban hành hệ thống biểu mẫu, chứng từ về trình tự và trách nhiệm của các cấp chính quyền
trong xây dựng dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách và tổ chức thực hiện kế hoạch ngân sách nhà
nước.
Về các khoản thu ngân sách nhà nước:
Hiện nay, theo luật ngân sách nhà nước sửa đổi, việc phân chia nội dung thu ngân sách nhà nước
không dựa vào tính chất sở hữu, tổ chức của cơ sở kinh tế mà theo cơ chế:
* Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu được hưởng 100%. Như vậy, có thể giúp chính quyền địa
phương chủ động bố trí cân đối ngân sách cấp mình
* Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân sách.
Hiện nay, luật quy đinh:
* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách từng tỉnh do Chính
phủ quyết định và nó được áp dụng chung đối với tất cả các khoản thu được phân chia và được xác
định riêng cho từng tỉnh.
Các khoản thu được phân chia gồm:
Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hoá nhập khẩu và thu từ hoạt động xổ
số kiến thiết.
trợ không hoàn lại của Chính phủ
các nước
8.các khoản phí, lệ phí theo quy
định
9.thu kết dư NSTƯ
10.các khoản thu khác.
1.ti
ền cho thu
ê đ
ất
2.tiền cho thuê và bán nhà
thuộc sở hữu Nhà nước
3.lệ phí trước bạ
4.thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết
5.viên trợ không hoàn lai của
nước ngoài trực tiếp cho địa
phương
6.các khoản phí, lệ phí theo quy
định
7.các khoản đóng góp tự
nguỵện của cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nước
8.thu kết dư NSĐP
9.thu bổ sung từ NSTƯ
10.các khoản thu khác theo quy
định.
Các kho
ản thu phân chia theo tỷ
6
Theo luật ngân sách nhà nước, nội dung chi ngân sách nhà nước được phân loại theo tổ chức kinh tế,
từ ngân sách trung ương đến ngân sách các cấp địa phương đều có các khoản chi cơ bản giống nhau:
Chi thường xuyên: là những khoản chi hết sức cần thiết và không thể trì hoãn, phải thực hiện thường
xuyên hàng tháng, hàng năm để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước.
Chi đầu tư, phát triển: là những khoản chi để hình thành tài sản cố định như mua sắm tài sản cố định,
đầu tư xây dựng các công trình kinh tế mũi nhọn, xây dung cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, xây dựng nhà
cửa, đầu tư vào các động sản tài chính, sửa chữa lớn tài sản cố định, chi trả nợ gốc tiền vay… những
khoản chi này gắn với việc điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước, tạo môi trường và điều kiện cho các TPKT
hoạt động và phát triển.
Sự khác nhau cơ bản giữa hai nhóm chỉ tiêu trên thể hiện ở chỗ: chi thường xuyên có tính chất tiêu hao
trực tiếp, còn chi đầu tư phát triển có tính chất thu hồi trong những điều kiện nhất định.
Theo thứ tự ưu tiên thì chi thường xuyên được ưu tiên trước hết, sau đó mới đến chi đầu tư phát triển.
Thứ tự ưu tiên này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối vì nếu cứ ưu tiên chi thường xuyên dễ dẫn đến phá
vỡ cơ cấu kinh tế, và nếu cứ ưu tiên chi đầu tư phát triển dễ đẫn đến làm tăng thâm hụt ngân sách nhà
nước.
Cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đều có hai khoản chi trên, tuy nhiên, giữa chúng
cũng có sự khác nhau về quy mô, phạm vi của các khoản chi. Chi đầu tư phát triển của ngân sách
trung ương là những khoản chi có quy mô lớn, có tác dụng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các
khoản chi này nhìn chung là khó xác định chủ đầu tư và các công trình phúc lợi công cộng. Còn các
khoản chi của ngân sách địa phương chỉ đầu tư cho những công trình, mục tiêu được thực hiện trong
phạm vi địa phương đó. Ngoài ra, có một số khoản chi thuộc đặc thù chức năng của ngân sách trung
ương thì ngân sách trung ương đảm nhiệm: trả nợ vay, chi an ninh quốc phòng, chi về ngoại giao…
Về số bổ sung từ nhân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới:
Gồm hai loại:
* Số bổ sung để cân đối ngân sách gồm số bổ sung ổn định trong suốt thời kỳ nhất định và số bổ sung
tăng thêm hàng năm một phần theo tỷ lệ trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế
* Số bổ sung theo mục tiêu.
Có thể nói, với những nội dung trên, hệ thống ngân sách nhà nước và chế độ phân cấp và quản lý ngân
nước ngaòi.Hầu hêt NSTƯ đảm
nhiệm.
NSĐP đảm nhận các công trình
hạ tầng cơ sở do địa phương
quản lý.Các xí nghiệp do địa
phương quản lý.Trả nợ trong
nước, địa phương đảm nhận
phần huy động xây dựng cơ sở
hạ tầng.
1.C hi quản lý Nhà nước.2.Chi sự
nghiệp kinh tế nông nghiệp, thuỷ
lợi Lâm nghiệp Giao thong Kiến
thi
ết thị chính.3.Chi sự nghiệp giáo
dục phổ thong Chi hoạt động
thường xuyên giáo dục Chi
chương trình mục tiêu 4.Chi sự
nghiệp đào tạo Các trường đại học.
Các trường trung học 5.Chi y tế
6.Chi nghiên cứu khoa học 7.Chi
văn hoá thông tin 8.Chi thể dục,
thể thao 9.Chi quốc phòng, an ninh
10.Chi hỗ trợ Đảng, đoàn, hội
11.Chi trợ cấp ngân sách xã
12.Chi
khác
T
oàn b
ộ bộ máy quản lý Nh
phương quản lý Dân quân du
kích và tuyển quân Các tổ chức
thuộc địa phương Tuỳ thuộc
vào phân bổ của NSTƯ
III. VIỆC PHÂN C ẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH SAU 10 NĂM THỰC HIỆN LUẬT NGÂN
SÁC H:
1. Những kết quả đạt được qua 10 năm thực hiện Luật Ngân sách nhà nước
Thứ nhất: Luật Ngân sách nhà nước đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việc quản lý chặt chẽ, tiết
kiệm, hiệu quả Ngân sách nhà nước; tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại; nâng cao thẩm
quyền của Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; trách nhiệm và quyền hạn chính
phủ, các bộ ngành trung ương, các địa phương và đơn vị sử dụng Ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Luật Ngân sách nhà nước đã tạo điều kiện cho việc thực hiện quản lý tập trung thống
nhất Ngân sách nhà nước; bảo đảm quyền quyết định của Quốc hội và việc điều hành thống nhất
của Chính phủ đối với Ngân sách nhà nước; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương
đồng thời tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho
chính quyền địa phương. Việc phân cấp quản lý, sử dụng ngân sách tương đối rõ ràng, cụ thể góp
phần nâng cao trách nhiệm, quyền hạn của các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương và các
đơn vị trong quản lý, sử dụng Ngân sách nhà nước.
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
8 Thứ ba: Cải cách và đổi mới toàn diện trong từng khâu của quá trình ngân sách (lập, chấp hành,
kế toán và quyết toán ngân sách). Vai trò của dự toán trong việc quản lý điều hành ngân sách đã
Luật Ngân sách nhà nước đã qui định rõ thẩm quyền thuộc về địa phương. Phân cấp nguồn thu cho
ngân sách xã cũng chưa hợp lý, các xã đều được hưởng tối thiểu 70% của 5 khoản thu (thu thuế
chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà, đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử
dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất) dẫn đến quá trình thực hiện một
số xã thừa nguồn để thực hiện nhiệm vụ chi trong khi có xã nguồn thu chưa đảm bảo được nhiệm
vụ chi.
- Về ngân sách địa phương hỗ trợ cho các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn: Luật Ngân sách
nhà nước qui định không được dùng ngân sách của cấp này để chi nhiệm vụ của cấp khác, trừ
trường hợp đặc biệt theo qui định của Chính phủ. Tuy nhiên trong thực tế, hầu hết các địa phương
còn phải hỗ trợ thêm kinh phí cho các cơ quan trung ương ở địa phương (cơ quan tư pháp, công an,
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
9
quân đội…) để thực hiện nhiệm vụ chung trên địa bàn. Việc hỗ trợ không được qui định cụ thể dẫn
đến giữa các địa phương hỗ trợ cho đối tượng không thống nhất và gây áp lực về ngân sách của địa
phương, nhất là đối với những tỉnh còn phải nhận hỗ trợ của ngân sách trung ương. Mặt khác khó
khăn trong việc kiểm tra, kiểm soát và kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm toán trong công tác
quản lý sử dụng kinh phí này.
- Về bố trí và sử dụng dự phòng: Luật Ngân sách nhà nước không quy định các cơ quan nhà nước
ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán (trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế…) khi
phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc được để lại dự phòng để đáp ứng thực hiện các
nhiệm vụ phát sinh đột xuất trong năm. Trong quá trình triển khai, do gặp khó khăn trong việc chủ
động thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến phòng, chống thiên tai, dịch bệnh một số bộ, ngành và
cơ quan khi giao dự toán đã lập quĩ dự phòng để phục vụ nhu cầu bất thường trong năm. Mặt khác
Luật Ngân sách nhà nước chưa qui định chặt chẽ, cụ thể các khoản được phép chi từ nguồn dự
phòng, dẫn đến nhiều địa phương đã sử dụng dự phòng để điều hành ngoài dự toán khoản chi “bất
thường” mang tính chất mua sắm, chi hoạt động thường xuyên.
sách các cấp chính quyền địa phương thực hiện trong thời kỳ ổn định.
Có thể thấy quyền tự chủ của HĐND tỉnh thông qua việc quyết định phân cấp các khoản thu trong
phạm vi địa phương theo Luật NSNN đối với khoản thu được hưởng 100%. Các cấp ngân sách huyện
và xã chỉ được thu theo quyết định phân cấp quản lý nguồn thu theo Nghị quyết của HĐND tỉnh. Nên
thực chất, có thể nói việc tự chủ của các cấp ngân sách trong tỉnh còn bị hạn chế.
Do các địa phương có các điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau cũng như có các nhiệm vụ phát triển
kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng khác nhau nên việc thống nhất tỉ lệ điều tiết giữa NSTW
và NSĐP được giao trong thời kỳ ổn định là khó khăn. Hiện nay, công thức tính tỉ lệ phân chia là một
loại công thức gián tiếp mang tính tổng thể. Việc tính toán tỉ lệ điều tiết, mức bổ sung cho mỗi cấp có
nhiều phức tạp do cách tính mức thiếu hụt cần bổ sung cho ngân sách tỉnh bao gồm cả mức thiếu hụt
của các cấp huyện, xã trong tỉnh. Đến nay chưa có sự thẩm định nào nhất quán về tính hợp lý của các
dự toán do cấp dưới lập. Do đó việc kéo dài hỗ trợ ngân sách mang tính cảm tính[1] . Thực tế này cho
thấy sự khác biệt trong việc áp dụng qui định pháp luật về phân cấp quản lý NSNN theo Luật Ngân
sách nhà nước đối với từng địa phương.
2.2. Về phân cấp nhiệm vụ chi
Về nguyên tắc, Luật NSNN qui định các hạng mục chi phân cấp cho NSTW và NSĐP. Tổng chi trong
Dự toán NSNN hàng năm của mỗi cấp ngân sách được Quốc hội quyết định cùng với khoản bổ sung
cân đối cho NSĐP.
- Về chi cho đầu tư phát triển
Luật NSNN qui định nhiệm vụ chi đầu tư phát triển cho đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu
hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn do cấp trung ương hoặc địa phương quản lý.
Luật NSNN qui định thẩm quyền của Quốc hội trong quyết định các dự án, các công trình quan trọng
quốc gia được đầu tư từ NSNN (Điều 15 khoản 5) còn Chính phủ thực hiện tổ chức và điều hành
NSNN được Quốc hội quyết định, kiểm tra việc thực hiện NSNN trong đó có các dự án và công trình
quan trọng quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, các dự án và công trình xây dựng cơ
bản khác (Điều 20, Khoản 5). Chính phủ với tư cách là cơ quan điều hành NSNN có quyền phân cấp
việc quản lý đầu tư xây dựng các công trình, dự án có sử dụng NSNN.
Luật NSNN qui định nhiệm vụ chi đầu tư phát triển trong đó có hạng mục chi đầu tư và hỗ trợ cho các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh
vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước. Đây là qui định mở cho
sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về tổng thu và chi NSTW và NSĐP, Thủ tướng Chính phủ căn
cứ vào đề nghị của các cơ quan quản lý, cơ quan ban ngành liên quan quyết định các chương trình dự
án cụ thể trong đó cơ quan địa phương được ủy quyền thực hiện việc dự án thuộc nhiệm vụ chi của
NSTW.
Chi thường xuyên chủ yếu phục vụ cho việc trả lương, trong đó mức lương của công chức nhà nước
được hưởng chế độ ngạch bậc lương thống nhất, việc phân bổ kinh phí cho các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước và Đảng, đoàn thể theo chỉ tiêu biên chế nên khó kiểm soát việc chi NSNN gắn với kết
quả công việc. Còn trong phân bổ chi thường xuyên cho các lĩnh vực như chi cho sự nghiệp giáo dục
tuy trên thực tế có phân biệt đô thị, đồng bằng, miền núi vùng cao, nhưng mức chênh lệch trong định
mức phân bổ không lớn, vẫn mang tính chất cào bằng[3].
Hiện nay, chi cho giáo dục, y tế, giao thông là nhiệm vụ chi quan trọng trong đó nhà nước đóng vai trò
chính trong việc cung cấp dịch vụ. Việc phân cấp cụ thể cho các địa phương căn cứ vào mức chi cho
giáo dục trên đầu người, trừ một số địa phương như Bà Rịa, Vũng Tầu, thành phố HCM, nơi thu nhập
bình quân chi cho đầu người cao nhất nên trên thực tế, các tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp
nhận được mức đầu tư cho giáo dục trên đầu người cao hơn so với các tỉnh khác[4].
Nhìn chung, chi thường xuyên cũng giống như chi đầu tư phát triển vẫn mang nặng tính công bằng,
tính bình quân, chưa thực sự có tính định hướng rõ ràng về chiến lược, đầu tư mũi nhọn. Bởi vậy, vấn
đề đặt ra là phải làm thế nào điều chỉnh việc phân cấp nguồn thu đáp ứng nhiệm vụ chi trên cơ sở phát
Đề tài 33: PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
12
huy lợi thế của các địa phương trong tạo nguồn thu, hỗ trợ các địa phương theo yêu cầu thực tế tránh
phân cấp công bằng mang tính hình thức.
IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1. Đảm bảo quyền tự chủ tài chính của địa phương
Hiện nay, quyền tự chủ của địa phương gắn với việc phân định lợi ích các khoản thu 100% NSĐP
được hưởng và khoản thu điều tiết cũng như khoản cân đối bổ sung của NSTW cho NSĐP.
Trên thực tế, việc qui định khoản chi bổ sung cho NSĐP dễ làm phát sinh tình trạng bội chi của
NSTW. Bởi vậy, phân cấp nguồn thu với tỉ lệ điều tiết cố định sẽ giảm bớt gánh nặng cho NSTW buộc
13
mục tiêu xóa đói giảm nghèo, giảm bớt sự khoảng cách phát triển giữa các địa phương là cần thiết, tuy
nhiên, cần thường xuyên đánh giá hiệu quả đầu tư của NSNN cho mục đích này, công khai hóa các
chương trình, nguồn ngân sách thực hiện trước khi quyết định triển khai để gắn hiệu quả sử dụng
NSNN với mục tiêu của chương trình, đảm bảo quyền giám sát của cơ quan và người dân nói chung
cũng như nghĩa vụ điều chỉnh phân cấp khoản thu chi hàng năm nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội
của các dự án.
3. Bảo đảm chất lượng quyết định Dự toán ngân sách nhà nước hàng năm
Kết quả của phân cấp quản lý NSNN được ghi nhận trong Dự toán NSNN do Quốc hội thông qua hàng
năm và còn kết quả chấp hành Dự toán NSNN chính là tiền đề để điều chỉnh phân cấp quản lý NSNN.
Do thẩm quyền quyết định NSNN tập trung cho Quốc hội nên chất lượng kỳ họp của Quốc hội quyết
định quan trọng đến Dự toán NSNN phù hợp với các nguyên tắc cũng như các qui định về phân cấp
quản lý NSNN.
Hiện nay, Quốc hội trong 1 năm chỉ họp 2 lần, Đại biểu Quốc hội đa số hoạt động kiêm nhiệm, nên
khó có thể xem xét các vấn đề một cách thực chất, Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đóng
vai trò quan trọng trong thẩm tra, thảo luận và giám sát các vấn đề trước khi trình lên Quốc hội.
Thông thường, Quốc hội thảo luận và biểu quyết từng phần hoặc toàn bộ nhiệm vụ tài chính, giải pháp
tăng thu, tăng chi, phương án thu phí, lệ phí, định mức phân bổ. Nhiều vấn đề mang tính chủ trương,
qui hoạch, kế hoạch, xem xét hiệu quả, xem xét vấn đề nợ đọng được đưa ra, tuy nhiên, các giải trình
ngay còn thiếu tính hợp lý và căn cứ khoa học, bởi vậy, những vấn đề được Đại biểu Quốc hội đưa ra
cần được cơ quan chức năng rà soát, kiểm tra và báo cáo kết quả thực hiện trong các kỳ họp của Quốc
hội, việc thẩm tra chính xác mới có ý nghĩa trong thông qua Dự toán NSNN sát với thực tế, điều chỉnh
phân cấp quản lý NSNN và tránh thất thoát lãng phí tài sản của nhân dân. Ngoài ra, giám sát chấp
hành NSNN trên thực tế cũng như thực hiện quyền cắt giảm đầu tư cho các chương trình, dự án không
có hiệu quả của Quốc hội là giải pháp tốt nhất cho việc thực thi có hiệu quả quyền đại diện của nhân
dân cũng như nâng cao vị trí, vai trò của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN
Nhìn chung Luật NSNN cần được sửa đổi theo hướng tăng quyền tự chủ về tài chính cho NSĐP, qui
định những nguyên tắc cơ bản chi đầu tư phát triển và cơ chế điều chỉnh phân cấp chi thường xuyên để
Xem thêm: Luật Ngân sách nhà nước sau 10 năm thực hiện