Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A
1
PHN 1
M U
I. T VN
Trong xu th phát trin của nền nông nghiệp thế giới, những năm gần
đây nền nông nghiệp nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn. Sản xuất
gạo không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nớc mà còn xuất khẩu đến các
nớc lớn trên thế giới nh Mỹ. Ngoài cây lơng thực, cây công nghiệp, các
cây thực phẩm cũng phát triển mạnh mẽ trong sản xuất. Song sản xuất nông
nghiệp cũng gặp không ít khó khăn nh thời tiết bất lợi, dịch hại do sâu
bệnh, cỏ dại, chuột, ốc bơu vàng, đã làm giảm năng suất và phẩm chất
nông sản. Theo thống kê của FAO (1984) hàng năm bệnh hại cây trồng
không những làm giảm năng suất, phẩm chất cây trồng mà còn làm tăng chi
phí sản xuất. Bởi vậy để bảo vệ sản xuất, chúng ta phải áp dụng hàng loạt các
biện pháp nh canh tác, cơ giới vật lý, đặc biệt biện pháp hiện đang đợc
sử dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp hoá học đã gây ra
hàng loạt vấn đề ảnh hởng tới môi sinh, môi trờng nh ô nhiễm nguồn
nớc, đất, d lợng vợt quá ngỡng cho phép. Vì vậy tìm kiếm biện pháp
phòng trừ bệnh hại tối u là một trong những hớng đi đúng đắn và cần thiết
cho một nền nông nghiệp sạch và bền vững.
Một số cây thực phẩm trồng trên cạn nh cây cà chua, cây da chuột,
cây đậu tơng là những cây có giá trị dinh dỡng cao, đem lại hiệu quả
kinh tế. Nhng hàng năm cây thực phẩm thờng bị nhiều loại bệnh gây hại
làm tổn thất khá nặng nề trong sản xuất do vậy việc nghiên cứu các bệnh hại
cây thực phẩm để tìm ra các biện pháp phòng trừ bệnh có hiệu quả là rất cần
thiết.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A
3
II. MụC ĐíCH YÊU CầU
1. Mục đích
- Điều tra bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) hại một số cây trồng
cạn vụ hè thu năm 2007 ở vùng Gia Lâm Hà Nội.
- Tìm hiểu ảnh hởng của một số yếu tố liên quan tới sự phát triển của
bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) trên đồng ruộng.
- Sử dụng thuốc hoá học và chế phẩm sinh học nấm đối kháng
Trichoderma viride để phòng chống bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum).
2. Yêu cầu
- Mô tả, nhận xét triệu chứng và chụp ảnh bệnh héo vàng (Fusarium
oxysporum).
- Theo dõi sự phát sinh, phát triển và đánh giá mức độ thiệt hại của bệnh
héo vàng (Fusarium oxysporum)
- Xác định nguyên nhân gây bệnh và các đặc điểm hình thái sinh học
của nấm gây bệnh Fusarium oxysporum (nhiệt độ, pH môi trờng ,)
- Tìm hiểu ảnh hởng của một số yếu tố tới sự phát triển của bệnh héo
vàng (Fusarium oxysporum) trên đồng ruộng (giống, thời vụ, chân đất, luân
canh, mật dộ trồng).
- Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo trên cây trồng trong điều kiện bán đồng
ruộng để xác định mức độ gây bệnh của nấm Fusarium oxysporum, xác định
thời kỳ tiềm dục của bệnh.
- Khảo sát hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma
viride trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A
4
5
và Fusarium semitectum, loài nấm Fusarium oxysporum xuất hiện ở hầu hết
các mẫu phân lập (Burgess and Summerell,1992).
Theo Burgess và cộng sự (1994), các loài nấm Fusarium xuất hiện ở
hầu hết các vùng đó là loài nấm Fusarium chlamydosporum, Fusarium
moniliforme, Fusarium solani, Fusarium tricinetum, các loài nấm khác nh
Fusarium subglutinans, Fusarium porotichisides, Fusarium culmorum,
Fusarium evenacerum, Fusarium acuninatum thờng thấy xuất hiện ở vùng
ôn đới. Theo Martuy (1984) cho biết, bệnh héo vàng cây da tây do nấm
Fusarium oxysporum gây ra đợc mô tả đầu tiên ở Mỹ. Nấm Fusarium
vasinfectum gây bệnh héo vàng cây bông, là bệnh héo vàng đầu tiên đợc
công bố có phạm vi rất rộng. Vùng đông nam nớc Mỹ, đồng bằng châu thổ
sông Nile, phía đông và nam hồ Victoria của Tanzania và một số vùng khác
thuộc ấn Độ.
Theo N.S.Smith, O. L.Ebbels, R.H. Garber và A.J. Kappelmen (1981),
Kelman và Cock (1981) đều công bố rằng bệnh này gây hại lớn đối với các
vùng trồng bông ở Trung Quốc. Nh vậy nấm Fusarium oxysporum có phạm
vi ký chủ rất rộng lớn và tồn tại nhiều dạng khác nhau trong đất. Mặt khác,
thành phần và sự phân bố của nấm Fusarium oxysporum trong đất có liên
quan chặt chẽ với sự xuất hiện và mức độ gây hại trên cây ở mỗi vùng sinh
thái khác nhau.
Nấm Fusarium equiseti gây bệnh thối bầu bí khi quả tiếp xúc với đất
(Burgess et al, 1988). Nấm Fusarium oxysporum gây bệnh thối nõn ngô
(Nelson et al, 1988) và gây thối nõn dứa (Bolkan et al, 1974). Cũng theo
Burgess và các cộng sự (1998) nấm Fusarium oxysporum là tác nhân gây
bệnh héo và thối rễ, thân, mầm cây. Theo Binder và Hutchison (1959) cà
chua bị bệnh sẽ bị chết nhanh hơn và thiệt hại nhanh hơn khi cùng bị tuyến
trùng (Meloidogin incognita) xâm nhập vì tuyến trùng đã làm giảm khả năng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A
giữa các loài Fusarium oxysporum, Snyder và Hanser đã đề nghị giảm số
lợng xuống còn 9 loài.
Theo Burgess (1983 1985) khi nghiên cứu về độc tố của nấm
Fusarium oxysporum cho thấy chỉ có một số ít loài nấm có khả năng gây độc
nh Fusarium compactum là loại nấm hoại sinh nhng sản sinh ra hàm lợng
độc tố cao thuộc nhóm Trichothecene (Wing et al, 1993). Hay nh loài nấm
Fusarium proliferatum cũng sinh ra độc tố nhóm Fumonisin gây bệnh chảy
máu bán cầu đại não ở gia súc (Ross et al, 1990). Ngoài ra loài Fusarium
proliliforme tiết ra độc tố có thể gây ung th thực quản ở ngời (theo
Mazasass, 1972).
Theo Amstrong (1952), 4 chủng nấm Fusarium oxysporum f.sp.
conglutinan cũng gây hại trên họ hoa thập tự, nhng ở mức độ khác nhau.
1) Chủng 1: Gây hại ở hầu hết các loài hoa thập tự, đặc biệt hay gặp
trên su hào, cải bắp, súp lơ.
2) Chủng 2: Gây hại trên củ hành.
3) Chủng 3: Gây hại ở cây cải củ Califormia.
4) Chủng 4: Chỉ gây hại ở cải củ NewYork.
ở úc nấm Fusarium oxysporum có 3 chủng (race) sinh lý:
1) Chủng 1: Phổ biến ở các vùng của Queensland.
2) Chủng 2: Chỉ có ở vùng Bowen.
3) Chủng 3: Phân bố rộng ở Bowen và ở Bermett (O Bien R.G và
CTV, 1994).
Theo Finley (1950) nấm có hai dạng sinh học phân biệt dễ dàng trên
môi trờng nhân tạo và có tính gây bệnh khác nhau. Dạng I không gây bệnh
cho cây cà chua có gen kháng bệnh bắt nguồn từ cà chua dại (Lycopersicum
pimpinenlifolium) mà chỉ gây bệnh cho các giống khác. Dạng II có thể gây
bệnh cho cả hai nhóm trên. Martin Duckes (1966) đã xác định đợc sự sai
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A
8
bệnh, Một nhóm các nhà khoa học ngời Mỹ nghiên cứu gen kháng bệnh do
nấm Fusarium oxysporum f. sp. Niveccum trên cây da hấu đã cho kết quả
rất khả quan.
Theo N.S.Smith, O.L.Ebbels, R.H. Garber và A.J Kappelmen (1981),
Kelman và Cock (1981) cũng đều cho rằng bệnh này gây hại lớn đối với các
vùng trồng bông ở Trung Quốc.
Trong quá trình nghiên cứu bệnh trên cây bông, các nhà khoa học đã
phát hiện thấy giống Ghisutum có khả năng chống bệnh héo do nấm
Fusarium oxysporum gây ra. Tính kháng bệnh của gen này đợc quy định
bởi một gen trội khi lai giữa hai giống Coker 100 Ga và Half cho thấy các
giống bông nhiễm bệnh héo do nấm Fusarium oxysporum ở thế hệ F
2
và F
3
(Smith and Drick, 1960). Khi nghiên cứu hiện tợng kháng, chịu thuốc hoá
học, một số tài liệu đã khẳng định rằng nấm Fusarium vorcum biến chủng
Sambicicum có khả năng chống chịu với thuốc Thiazendogon (B. Tivoli, A.
Cletour, O. Metet, 1986). Ngoài việc tạo ra các giống có khả năng chống
bệnh thì kỹ thuật thâm canh cũng đem lại hiệu quả cao nh bón phân hợp lý,
thay đổi pH đất làm giảm khả năng tồn tại các nguồn bệnh trong đất do nấm
Fusarium oxysporum gây ra.
2. Tình hình nghiên cứu nấm Fusarium oxysporum trong nớc
ở nớc ta nấm Fusarium oxysporum đã đợc đề cập nghiên cứu từ lâu
nhng vẫn cha đem lại hiệu quả thực tiễn. Nấm Fusarium oxysporum đợc
cho là nguyên nhân gây bệnh héo vàng trên cà chua, khoai tây (Vũ Triệu
Mân, 1987). Đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về loài nấm này đợc
biểu hiện triệu chứng nh héo bó mạch, thối gốc củ quả.
Nớc ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, ma nhiều rất thuận lợi
cho nấm Fusarium oxysporum có điều kiện phát triển gây hại. Năm 1943