Đề tài
"Nâng cao chất lượng tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân
hàng Công thương Thanh Xuân"
1 1
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 1
Chương I-Tín dụng ngân hàng và Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với
DNV&N 3
1.1_Khái quát về DNV&N 3
1.1.1_Khái niệm 3
1.1.2_Đặc điểm 4
1.1.3_Vai trò của DNV&N 6
1.2_Tín dụng ngân hàng 10
1.2.1_Tín dụng- một hoạt động chủ yếu của các NHTM 10
1.2.2_Các hình thức tín dụng ngân hàng 12
1.3_Chất lượng tín dụng đối với DNV&N 14
1.3.1_Khái niệm 14
1.3.2_Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 15
1.3.3_Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 20
Chương II_Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNV&N ở NHCT
Thanh Xuân 27
2.1_Khái quát về ngân hàng 27
2.1.1_Lịch sử hình thành và phát triển 27
2.1.2_Cơ cấu tổ chức 27
2.1.3_Sơ lược về hoạt động kinh doanh 31
2.2_Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNV&N tại NHCT Thanh Xuân
40
2.2.1_Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 40
2.2.2_Quy mô và chất lượng tín dụng đối với DNV&N tại NHCT TX 42
BIỂU ĐỒ 1 - Biểu đồ Tồng nguồn vốn huy đồng 32
BIỂU ĐỒ 2 - Biều đồ lợi nhuận hàng năm 39
BIỂU ĐỒ 3 - Biểu đồ thể hiện tỷ trọng TDDNV&N/ Tổng dư nợ 43
BIỂU ĐỒ 4 - Biểu đồ Nợ có đảm bảo bằng tài sản 46
BIỂU ĐỒ 5_ Biểu đồ Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động cho vay 50
4 4
Lời mở đầu
Trong những năm vừa qua, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ không
ngừng tăng lên và đang dần khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc
dân. Hàng năm các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp khoảng 26% GDP, 31%
tổng sản lượng công nghiệp, thu hút 26% lực lượng lao động. Doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm 97% tỷ trọng số lượng các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đây là
khu vực được đánh giá là rất có tiểm năng phát triển kinh tế.
Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 23-11-2002 của Chính phủ về trợ giúp phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nêu :" Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là
một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát tiển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa vả nhỏ phát huy tính chủ động sáng tạo,
nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học-công nghệ và nguồn lực "
Nhận thức được điều này, trong thời gian qua các ngân hàng thương mại
đã chú trọng quan tâm đến các doanh nghiệp này. Nhất là khi môi trường kinh
doanh giữa các ngân hàng này càng trở nên khốc liệt thì việc nhắm tới các doanh
nghiệp vừa và nhỏ như là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng là chiến lược
phát triển tất yếu của các ngân hàng thương mại.
Nắm được chủ trưởng của Đảng và Nhà nước cũng như để bắt kịp với xu
hướng vận động của nền kinh tế, ngân hàng Công Thương Thanh Xuân trong
thời gian qua đã đẩy mạnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Và hoát
động này đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ nhưng cũng bộc lộ nhiều khó
khăn, hạn chế đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực tìm cách giải quyết để ngân hàng có
thể phát triển hơn nữa và tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy sau một
doanh nghiệp vừa và nhỏ thì 2 tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số lượng
lao động trung bình và tổng sổ vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm về
doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ đơn thuần phản ánh qui mô của doanh
nghiệp mà nó còn bao chùm nội dung về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý và
tiến bộ khoa hoc công nghiệp. Tuỳ theo thực trạng về quy mô của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, trình độ phát triển của mỗi
nền kinh tế có tính đến xu hướng phát triển trong thời gian tới mà các nước có
7 7
tiêu chí xác định riêng của mình. Như vậy việc phân loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ chỉ mang tính tương đối và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Đối với Việt Nam, sau một thời gian nghiên cứu yêu cầu thực tế và học
hỏi kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, ngày 23/11/20011, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP quy định lại tiêu chí để xác định doang nghiệp
vừa và nhỏ, như sau: " Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh
đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ".
1.1.2_Đặc điểm
Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là mối quan tâm của các
NHTM vì đây là đối tượng khách hàng ngày càng có vai trò quan trọng trong
hoạt động của các ngân hàng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ bên cạnh những hạn
chế còn có những mặt tích cực. Việc tìm hiểu đặc điểm của doanh nghiệp vừa và
nhỏ sẽ giúp cho hoạt động giữa NHTM và các doanh nghiệp này đạt được hiệu
quả cao.
a_Quy mô hoạt động nhỏ
Quy mô hoạt động của một doanh nghiệp thường được đánh giá dựa trên
hai tiêu chí cơ bản là số vốn hoạt động và số lượng lao động trung bình. Đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đăng kí là dưới 10 tỷ đồng và số lượng lao
động trung bình không quá 300 người. Do đó, có thể nói quy mô hoạt động của
những doanh nghiệp này là không lớn khi so sánh trong tương quan nền kinh tế.
Quy mô vốn nhỏ bé, nên hầu hết các doanh nghiệp này đều gặp khó khăn
Bên cạnh những những khuyết điểm kể trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn
có một số ưu điểm nổi bật như bộ máy tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, có tính năng
động, sự linh hoạt cao và khả năng thích ứng cao hơn các doanh nghiệp lớn trước
những biến động của thị trường.
Vì chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài nên trong hoạt động sản
xuất kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính nhạy cảm cao đối với sự
thay đổi không ngừng của thị trường. Họ luôn phải cập nhật các thông tin từ thị
trường, từ các doanh nghiệp lớn và từ đối thủ.
Bên cạnh đó, chỉ cần một lượng vốn bổ sung không nhiều, các doanh
nghiệp này có thể dễ dàng đổi mới thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh
nghiệp lớn. Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ứng dụng được các kĩ
thuật tiên tiến kết hợp tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ công, trên cơ sở
đó từng bước đổi mới công nghệ. Do đó các doanh nghiệp này có thể thay đổi
một cách linh hoạt theo xu hướng của thị trường mà không cần quá nhiều vốn
đầu tư. Tuy nhiên, vốn lại luôn là vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp này, vì
vậy nếu được đánh giá đúng khả năng, có dự án khả thi thì việc đầu tư cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đem lại lợi nhuận cao cho các NHTM
1.1.3_Vai trò của DNV&N
Khi nói đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia, chúng ta thường nghĩ
ngay đến các doanh nghiệp khổng lồ quen thuộc. Chẳng hạn như khi nói đến
nền kinh tế Nhật Bản thì người ta nghĩ ngay tới Mitsubishi, Toyota; nói đến Hàn
Quốc là Samsung Trong khi đó, trên thực tế thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại
đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
a_Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
Do có lợi thế là chỉ cần một lượng vốn nhỏ cũng có thể thành lập được
công ty, nhà xưởng, mở văn phòng với chi phí thấp, tính năng động và tính linh
10 10
hoạt cao, có khả năng thích ứng với những nhu cầu thường xuyên thay đổi của
thị trường nên ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam số lượng doanh
nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn chiếm khoảng hơn 90% tổng số các doanh nghiệp.
hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát
triển kinh tế địa phương. Quy mô hoạt động cũng như trình độ công nghệ của
các doanh nghiệp này rất thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ
công như ngành chế biến thuỷ-hải sản, may mặc, da giày, mà đây lại là những
ngành đem lại nhiều kim ngạch xuất khẩu cho cả nước. Đặc biệt với ngành thủ
công mỹ nghệ truyền thống, ngành mà việc sử dụng các công nghệ hiện đại và
sản xuất hàng loạt là rất khó khăn, thêm vào đó là việc phân bố rải rác ở khắp các
vùng nông thôn, thì doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong việc thu gom, tiêu thụ sản phẩm không chỉ với thị trường trong nước mà
còn xuất khẩu ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, do lợi thế của mình các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích
hợp với khu vực kinh doanh thương mại-dịch vụ bán lẻ. Trong khi đó các doanh
nghiệp lớn khó có thể tổ chức được một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá
của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chính vì vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng kể cả ở những nơi xa xôi, cơ sở hạ tầng thấp kém một cách nhanh chóng
thuận tiện, do đó mà rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, góp phần
làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều trên toàn lãnh thổ.
Thu hút được một lượng vốn lớn nhàn rỗi trong dân, khai thác tận dụng
được các tiềm năng thế mạnh của từng vùng, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế. Theo số liệu của UNDP thì doanh nghiệp
12 12
vừa và nhỏ đã đóng góp 26%GDP. Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đã góp phần đáng kể trong việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội, giải quyết
công ăn việc làm, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, đóng góp phần lớn trong giá
trị GDP mà nền kinh tế tạo ra hàng năm.
d_Tạo sự linh hoạt cho nền kinh tế
Trên thực tế, tỷ trọng số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước luôn
chiếm trên 90%. Với ưu thế về yêu cầu vốn không lớn, và linh hoạt trong hoạt
nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài
chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất
về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ
vàng. Người làm nghề đổi tiền thường là người giàu có. Họ thực hiện cất trữ hộ,
việc cất trữ hộ nhiều nghười khác là điều kiện để thực hiện thanh toán hộ. Điều
này đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn. Do tính chất vô danh của tiền,
nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay.
Hoạt động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền- kẻ cho vay
nặng lãi- thành nhà buôn tiền- Ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi
của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu
hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền.
Tóm lại: đứng trên góc độ các loại hình mà ngân hàng cung cấp thì ngân
hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
14 14
nền kinh tế. Như vậy, ngay từ khi mới được hình thành cho đến nay, hoạt động
tín dụng luôn là hoạt động nòng cốt của các ngân hàng thương mại.
Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy
nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc các trung
gian khác)- ví dụ như tín dụng ngân hàng- thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng
cho vay.
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khă năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể
hoá trong các qui định của ngân hàng Nhà nước và các NHTM. Ba nguyên tắc cơ
bản như sau:
Thứ nhất: khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian
xác định. Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản
tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có
Tín dụng ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng
vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất, và phục vụ nhu
cầu sinh hoạt của cá nhân.
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín
dụng trung hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng
với qui mô nhỏ, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ hay để đầu tư cho các dự
án trung hạn. Ngoài ra, ngân hàng còn cấp tín dụng trung hạn cho người
tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như
nhà cửa, phương tiện vận chuyển.
16 16
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng
này được sử dụng nhằm cấp vốn cho các dự án lớn, đầu tư xây dựng cơ
bản, cải tiến khoa học công nghệ
Tại các NHTM, tín dụng ngắn hạn thường được ưu tiên hơn và chiếm tỷ
trọng cao hơn tín dụng trung, dài hạn do nguồn vốn dành cho tín dụng
trung, dài hạn thường đắt và khan hiếm hơn. Hơn thế nữa, tín dụng trung,
dài hạn lại thường có rủi ro cao hơn. Việc phân chia các loại hình tín dụng
theo thời gian giúp cho ngân hàng có thể tính toán một cách tương đối rủi
ro có thẻ xảy ra, khả năng sinh lời của tài sản. Điều này cung liên quan
mật thiết đến công tác quản lý thanh khoản của các NHTM.
b_Căn cứ vào đối tượng khách hàng
Căn cứ vào đối tượng khách hàng, tín dụng ngân hàng được chia làm 2
loại như sau:
Tín dụng cho khách hàng là các tổ chức kinh tế- xã hội: các tổ chức kinh
tế-xã hội bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các tổ chức tín
dụng khác, các hộ sản xuất kinh doanh
Tín dụng cho khách hàng cá nhân: là loại tín dụng chỉ cấp cho nhu cầu của
từng cá nhân nhỏ lẻ.
Hiện nay, các ngân hàng thường phân chia các đối tuong khách hàng thành
khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng doanh
thu được lợi nhuận tối đa.
1.3_Chất lượng tín dụng đối với DNV&N
1.3.1__Khái niệm
18 18
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững
và phát triển thì việc cải thiện chất lượng tín dụng là điều thiết yếu. Trong ba yếu
tố chất lượng, giá cả và lượng hàng bán thì yếu tố chất lượng là quan trọng nhất
vì chất lượng được nâng lên giá thành sẽ hạ, đảm bảo thoả mãn cho khách hàng
cả về chất lượng và giá cả, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường.
Có thể hiểu chất lượng tín dụng như sau: chất lượng tín dụng là sự đáp
ứng yêu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm
bảo sự tồn tại , phát triển của ngân hàng.
Như vậy, chất lượng tín dụng được thể hiện trên các phương diện sau:
Đối với khách hàng: tín dụng được cấp phải phù hợp với mục đích sử
dụng và đáp ứng được vốn của khách hàng, với lãi suất kì hạn hợp lý, thủ
tục đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm
bảo nguyên tắc tín dụng. Khoản tín dụng này phải giúp cho khách hàng
tạo ra lợi nhuận đủ để chi trả lãi cho khoản vay và tăng được giá trị tài sản
sở hữu cho khách hàng.
Đối NHTM: phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực
của bản thân ngân hàng và đảm bảo được không chỉ mức độ an toàn của
vốn vay mà còn cả tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả
đầy đủ,đúng hạn và có lãi khi kết thúc hợp đồng tín dụng.
Đối với sự phát triển của kinh tế- xã hội: tín dụng phục vụ sản xuất lưu
thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn, việc làm, khai thác những
tiềm năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản
xuất, đáp ứng được những mục tiêu chung của Nhà nước về phát triển
kinh tế xã hội.
1.3.2_Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
a_Chỉ tiêu định tính
cộng dồn các khoản vay trong một niên độ kế toán. Chỉ tiêu này
phản ánh lượng vốn mà các ngân hàng đã giải ngân cho các trong
nghiệp vừa và nhỏ trong một thời kì nhất định.
Tỷ lệ dư nợ đối với DNV&N trên tổng dư nợ: phản ánh tỷ trọng dư
nợ tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng dư nợ của ngân
hàng.
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đối với DNV&N: được tính bằng cách
lấy dư nợ cuối kì trừ đi dư nợ đầu kì, rồi chia cho dư nợ đầu kì.
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng đối
với đối tượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như uy tín của ngân
hàng đối với đối tượng khách hàng này. Các chỉ tiêu trên càng cao càng thể hiện
được khả năng của ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu này không phản ánh hết được chất lượng tín dụng,
mà nó chỉ có thể phản ánh được quy mô, tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng tín dụng
vì đằng sau các khoản tín dụng đó còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tín dụng là khoản
mục đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động đem
lại nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, khi đánh giá chất lượng tín dụng không chỉ dựa vào
nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng mà còn phải sử dụng một số nhóm chỉ tiêu khác
nhằm có sự đánh giá toàn diện hơn.
Nhóm chỉ tiêu về nợ có đảm bảo:
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm giữa nợ có tài
sản đảm bảo trên tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm nhất
21 21
định. Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng nợ có tài sản đảm bảo là lớn
hay nhỏ đối với tổng dư nợ.
Tài sản đảm bảo có thể giúp ngân hàng giảm thiểu được thiệt hại khi rủi ro
tín dụng xảy ra. Trong thực tế, các khoản vay cần có tài sản đảm bảo thì giá trị
của khoản vay đó không được vượt quá 70% giá trị tài sản đảm bảo. Các ngân
hàng đặc biệt là các NHTM Nhà nước đang cố gắng tăng dần tỷ trọng dư nợ có
của khách hàng, mà chỉ cố gắng giảm chỉ tiêu nợ quá hạn nhằm tạo ra chất lượng
tín dụng giả tạo thì nợ gia hạn chính là nguy cơ lớn đối với ngân hàng, thậm chí
nó có thể dẫn ngân hàng đến tình trạng mất khả năng thanh toán.Vì vậy, trong
nhóm chỉ tiêu này ta có thể sử dụng cả chỉ tiêu nợ quá hạn như sau:
Tỷ lệ nợ gia hạn: là tỷ lệ phần trăm giữa nợ gia hạn trên tổng dư nợ
của ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Tỷ lệ này càng thấp thì
chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao.
Những chỉ tiêu trên phản ánh mức độ an toàn vốn của ngân hàng. Những
chỉ tiêu này càng thấp thì phản ánh chất lượng tín dụng càng cao. Mặc dù mục
đích cao nhất của ngân hàng trong kinh doanh là an toàn, nhưng khi nói một
ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt thì không thể không nói đến khả năng sinh
lãi của các khoản tín dụng đó. Vì vậy, để có được sự đánh giá chính xác hơn về
chất lượng tín dụng thì không thể bỏ qua chỉ tiêu về lợi nhuận.
Chỉ tiêu về lợi nhuận từ hoạt động tín dụng:
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng là lợi nhuận hàng năm từ hoạt động cho
vay của ngân hàng thường được tính tại thời điểm cuối năm. Chỉ tiêu này cao
phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt và ngược lại. Vì bên cạnh mục
23 23
tiêu an toàn thì bất kì ngân hàng nào cũng phải hướng đến mục tiêu lợi nhuận
đặc biệt trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh.
Tóm lại: để có thể đánh giá chất lượng tín dụng một cách toán diện nhất
thì cần phải đánh giá đồng bộ các chỉ tiêu. Bởi vì mỗi chỉ tiêu chỉ có thể đánh giá
được chất lượng tín dụng là tốt hay xấu trên một phương diện nhất định.
1.3.3_Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
a_Nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, đảm bảo
hoạt động tín dụng của ngân hàng đi đúng quĩ đạo. Nó có ý nghĩa quyết định đến
sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Căn cứ vào tình hình cụ thể của
mỗi thời kì mà ngân hàng hoạch định cho mình một chính sách tín dụng phù
vào đó mà ngân hàng đưa ra quyết định có tài trợ hay không. Đây là công tác có
ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng. Nếu kết quả thẩm
định không chính xác sẽ dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. Như khi dự án vay vốn
có tính khả thi, doanh nghiệp có năng lực sử dụng vốn vay nhưng kết quả thẩm
định lại đánh giá không chính xác tính khả thi của dự án, đưa đến quyết định
ngân hàng không cho vay; điều này khiến cho ngân hàng mất một khoản lợi
nhuận hơn thế nữa là mất một khách hàng tốt. Ngược lại, nếu thẩm định mà
không đánh giá hết rủi ro của dự án thì quyết định cho vay sẽ khiến ngân hàng
gặp rủi ro khó có thể thu hồi được vốn, giảm chất lượng tín dụng.
Công tác thẩm định phải chính xác, thận trọng nhưng không mất quá nhiều
thời gian vì điều này sẽ kéo dài thời gian thực hiện dự án, giảm hiệu quả sản xuất
25 25