Đề tài “Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở Công ty Dệt 8-3” - Pdf 19

Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề tài
“Tổ chức công tác kế toán nguyên vật
liệu với việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động ở
Công ty Dệt 8-3”
1
1
Luận Văn Tốt Nghiệp
MỤC LỤC
2
2
Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải tự mình tổ chức hoạt
động sản xuất kinh doanh “lời ăn lỗ chịu”. Doanh nghiệp nào có mức giá thành
thấp hơn mức trung bình xã hội thì sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Do đó, nhà
quản lý doanh nghiệp luôn phải quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình sản
xuất, kể từ khi bỏ vốn cho đến khi thu hồi vốn về, phải lựa chọn phương án tối
ưu sao cho với chi phí thấp nhất song thu được nhiều lợi nhuận nhất.
Chi phí nguyên vật liệu là một trong những yếu tố chi phí cơ bản của quá
trình sản xuất và thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh
doanh cũng như tổng giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Từ đó buộc các
doanh nghiệp phải quản lý tốt vật liệu, tránh tình trạng cung cấp thiếu gây ngừng
trệ sản xuất hay thừa vật liệu gây ứ đọng vốn.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải quản lý vật liệu toàn diện từ khâu cung cấp,
dự trữ, bảo quản đến khâu sử dụng. Đứng trên giác độ kế toán, kế toán vật liệu
phải theo dõi và cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về tình hình biến động
nguyên vật liệu, đồng thời còn giúp nhà quản lý doanh nghiệp lập dự toán chi
phí nguyên vật liệu, đảm bảo cho việc cung cấp nguyên vật liệu được đầy đủ,
kịp thời, đúng chất lượng. Từ đó giúp cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục,

TỔ CHỨC HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT.
1-/ Đặc điểm, vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất:
Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng lao
động. Theo Mác, tất cả mọi vật thể thiên nhiên xung quanh con người mà lao
động có ích có thể tác động vào để taọ ra của cải vật chất cho xã hội, phục vụ
con người đều là đối tượng lao động. Nguyên vật liệu như sắt thép trong doanh
nghiệp cơ khí chế tạo, bông trong doanh nghiệp dệt, da trong doanh nghiệp đóng
giầy, vải trong doanh nghiệp may mặc v.v là những đối tượng lao động. Song
không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là nguyên vật liệu. Ví dụ: Quả
bông tự bản thân nó không phải là nguyên vật liệu. Nhưng nếu những quả bông
ấy được lao động của con người tác động để trở thành các sản phẩm chế biến
nhằm cung cấp cho công nghiệp dệt thì lại là nguyên vật liệu.
Như vậy, nguyên vật liệu là những đối tượng lao động được thể hiện dưới
dạng vật hoá. Xét về mặt hiện vật, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất nhất định. Và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của
lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để
tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm. Xét về mặt giá trị, khi tham gia vào sản
xuất, vật liệu chuyển dịch một lần toàn bộ giá trị của chúng vào chi phí sản xuất
kinh doanh trong kỳ.
Từ đặc điểm trên cho thấy nguyên vật liệu giữ vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất. Kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn nếu việc cung
5
5
Luận Văn Tốt Nghiệp
cấp nguyên vật liệu không đầy đủ, kịp thời. Mặt khác, chất lượng của sản phẩm
có bảo đảm hay không phụ thuộc rất lớn vào chất lượng vật liệu. Do vậy cả số
lượng và chất lượng sản phẩm đều được quyết định bởi số vật liệu tạo ra nó nên
yêu cầu vật liệu phải có chất lượng cao, đúng quy cách chủng loại, chi phí vật
liệu được hạ thấp, giảm mức tiêu hao vật liệu để sản phẩm sản xuất ra có thể

xuất dùng và sử dụng vật liệu trong sản xuất kinh doanh. Cần sử dụng vật liệu
hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức và dự toán chi. Điều này có ý nghĩa quan
trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, tăng thu nhập,
tăng tích luỹ cho doanh nghiệp.
Để tổ chức tốt công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu đòi hỏi các
doanh nghiệp phải đảm bảo những điều kiện nhất định. Điều kiện bảo quản vật
liệu, kho phải được trang bị các phương tiện bảo quản và cân, đong, đo, đếm cần
thiết, phải bố trí thủ kho và nhân viên bảo quản có nghiệp vụ thích hợp và có
khả năng nắm vững và thực hiện việc ghi chép ban đầu cũng như sổ sách hạch
toán kho. Việc bố trí, sắp xếp vật liệu trong kho phải theo đúng yêu cầu và kỹ
thuật bảo quản, thuận tiện cho việc nhập, xuất, kiểm tra theo dõi. Bên cạnh việc
xây dựng và tổ chức kho tàng của doanh nghiệp, đối với mỗi thứ vật liệu, doanh
nghiệp cần phải xây dựng định mức dự trữ, xác định rõ giới hạn dự trữ tối thiểu,
tối đa để có căn cứ phòng ngừa các trường hợp thiếu vật tư phục vụ sản xuất
hoặc dự trữ vật tư quá nhiều gây ứ đọng vốn. Cùng với việc xây dựng định mức
dự trữ, việc xây dựng định mức tiêu hao vật liệu là điều kiện quan trọng để tổ
chức quản lý và hạch toán vật liệu. Hệ thống định mức tiêu hao vật tư không
những phải đầy đủ cho từng chi tiết, từng bộ phận sản xuất mà còn phải không
ngừng cải tiến và hoàn thiện để đạt tới các định mức tiên tiến. Mặt khác, doanh
nghiệp cần phải thực hiện đầy đủ các quy định về lập sổ danh điểm vật liệu, thủ
tục lập và luân chuyển chứng từ, mở sổ chi tiết và sổ tổng hợp để hạch toán vật
liệu theo đúng chế độ quy định. Đồng thời, thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm kê
vật liệu, xây dựng chế độ trách nhiệm vật chất trong công tác quản lý sử dụng
vật liệu trong doanh nghiệp và ở từng phân xưởng, tổ, đội sản xuất.
7
7
Luận Văn Tốt Nghiệp
Việc quản lý chặt chẽ vật liệu từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ đến sử
dụng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý tài sản ở doanh nghiệp.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, kế toán vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất cần

1-/ Phân loại nguyên vật liệu
Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp các vật liệu cùng loại với nhau theo
một đặc trưng nhất định nào đó thành từng nhóm để thuận lợi cho việc quản lý
và hạch toán. Nhìn chung, nguyên vật liệu thường được phân loại theo công
dụng kinh tế. Nghĩa là xem xét vai trò và tác dụng của vật liệu trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Theo cách phân loại này, nguyên vật liệu bao gồm:
Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài): Nguyên vật
liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản
phẩm như sắt thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy. Đối với nửa thành phẩm
mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hoá như sợi
mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được coi là nguyên vật liệu chính.
Nguyên vật liệu phụ: nguyên vật liệu phụ là những vật liệu có tác dụng phụ
trong quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu
chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc sử
dụng để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc dùng để
phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý (dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm,
thuốc tẩy v.v ).
Nhiên liệu: Nhiên liệu là những thứ dùng để tạo ra nhiệt năng như than đá,
than bùn, củi (nhiên liệu rắn), xăng, dầu (nhiên liệu lỏng). Nhiên liệu trong các
doanh nghiệp thực chất là một loại vật liệu phụ, tuy nhiên nó được tách ra thành
một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu dùng nhiên liệu chiếm một tỷ trọng lớn và
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nhiên liệu cũng có yêu cầu
và kỹ thuật quản lý hoàn toàn khác với các vật liệu phụ thông thường.
Phụ tùng thay thế: Phụ tùng thay thế là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa
chữa và thay thế cho máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải
9
9
Luận Văn Tốt Nghiệp
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật liệu kết cấu, công cụ, khí cụ ) mà doanh nghiệp mua

vật liệu theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo yêu cầu trung thực, thống
nhất. Trong công tác hạch toán vật liệu ở các doanh nghiệp công nghiệp, vật liệu
được tính theo giá thực tế (giá gốc). Tuỳ theo doanh nghiệp tính thuế VAT theo
phương pháp trực tiếp hay phương pháp khấu trừ mà trong giá thực tế có thể có
thuế VAT (nếu tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp) hay không có thuế
VAT (nếu tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ)
a, Phương pháp tính giá nguyên vật liệu nhập kho:
Giá thực tế của vật liệu nhập vào được xác định theo từng nguồn nhập:
Với vật liệu mua ngoài: Giá thực tế gồm giá mua ghi trên hoá đơn người
bán cộng với thuế nhập khẩu (nếu có) và các chi phí mua thực tế (chi phí vận
chuyển, bốc dỡ, chi phí nhân viên thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập,
chi phí thuê kho bãi, tiền phạt lưu kho ) trừ khoản giảm giá hàng mua được
hưởng. Nếu chi phí mua có liên quan đến nhiều loại vật liệu thì phải phân bổ cho
từng thứ theo tiêu thức nhất định: Trọng lượng, giá trị
Với vật liệu tự sản xuất: Tính theo giá thành sản xuất thực tế.
Với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến: Giá thực tế gồm giá trị vật liệu
xuất chế biến cùng các chi phí liên quan (tiền thuê gia công, chế biến, chi phí
vận chuyển, bốc dỡ ).
Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên
doanh: Giá thực tế là giá thoả thuận do các bên xác định.
Với phế liệu: Giá ước tính thực tế có thể sử dụng được hay giá trị thu hồi
tối thiểu.
11
11
Luận Văn Tốt Nghiệp
Với vật liệu được tặng thưởng: Giá thực tế tính theo giá thị trường tương
đương.
b,Phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho:
Đối với vật liệu xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng
doanh nghiệp , yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán mà có

sau mỗi lần nhập
=
Giá thực tế vật liệu tồn trước khi nhập cộng số nhập
Lượng thực tế vật liệu tồn trước khi nhập cộng lượng nhập
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên,
vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhược điểm của phương pháp này là tốn nhiều
công sức, tính toán nhiều lần.
* Phương pháp nhập trước, xuất trước:
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì xuất
trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số
hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu
13
13
Luận Văn Tốt Nghiệp
mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá vật liệu xuất trước và do vậy giá trị
vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng.
Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng
giảm.
* Phương pháp nhập sau, xuất trước:
Phương pháp này giả định những vật liệu mua sau cùng sẽ được xuất trước
tiên, ngược với phương pháp nhập trước xuất trước ở trên. Phương pháp nhập
sau xuất trước thích hợp trong trường hợp lạm phát.
* Phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, vật liệu được xác định giá trị theo đơn chiếc hay
từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng (trừ trường hợp
điều chỉnh). Khi xuất vật liệu nào sẽ tính theo giá thực tế của vật liệu đó. Do
vậy, phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay
phương pháp giá thực tế đích danh và thường sử dụng với các loại vật liệu có giá
trị cao và có tích tách biệt.
* Phương pháp giá hạch toán:

Khi vật liệu về đến doanh nghiệp nếu cần kiểm nghiệm thì phải thành lập
ban kiểm nghiệm. Ban này có nhiệm vụ kiểm nghiệm về mặt số lượng, chất
lượng, quy cách vật liệu và lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư”. trong biên bản
ghi rõ kết luận của ban kiểm nghiệm.
15
15
Luận Văn Tốt Nghiệp
Bộ phận cung ứng trên cơ sở hoá đơn, giấy báo nhận hàng, biên bản kiểm
nghiệm vật tư (nếu có) so sánh với hợp đồng mua hàng để lập “phiếu nhập vật
tư”. Tại kho, thủ kho sau khi kiểm nhận xong ghi rõ số lượng thực nhập vào
phiếu nhập kho. Phiếu nhập kho khi đã có đủ chữ ký của người phụ trách cung
ứng, người giao và người nhận, thủ kho gửi một bản cùng biên bản thừa, thiếu
(nếu có) cho bộ phận cung ứng. Bản còn lại sau khi ghi vào thẻ kho được
chuyển cho kế toán ghi sổ kế toán, còn hợp đồng của người bán được giao cho
bộ phận tài vụ làm thủ tục thanh toán rồi chuyển cho bộ phận kế toán làm căn cứ
ghi sổ kế toán thu mua và nhập vật liệu.
b, Thủ tục xuất kho:
Trong doanh nghiệp sản xuất, vật liệu xuất dùng chủ yếu để phục vụ cho
nhu cầu sản xuất kinh doanh, ngoài ra vật liệu còn có thể xuất bán, xuất cho vay,
di chuyển nội bộ
Trong mọi trường hợp xuất kho vật liệu, bất cứ sử dụng cho mục đích gì
đều phải thực hiện đầy đủ các thủ tục chứng từ quy định và phải thực hiện
nghiêm ngặt việc cân, đong, đo, đếm tuỳ theo tính chất của từng loại vật liệu.
Trên các chứng từ xuất vật liệu đều phải ghi rõ mục đích sử dụng vật liệu (xuất
cho ai, để làm gì).
Chứng từ xuất kho vật liệu có nhiều loại, phụ thuộc vào mục đích xuất kho
vật liệu. Trong doanh nghiệp thường sử dụng các chứng từ xuất kho sau:
+ Phiếu xuất vật liệu.
+ Phiếu xuất vật liệu theo hạn mức
+ Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.

toán (chi tiết), đồng thời tránh được sự ghi chép trùng lắp không cần thiết, tiết
kiệm lao động trong hạch toán, quản lý có hiệu quả. Chính sự liên hệ này đã
hình thành nên các phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu khác nhau. Tuỳ theo
đặc điểm của từng doanh nghiệp cũng như trình độ kế toán và quản lý mà doanh
nghiệp lựa chọn 1 trong 3 phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu sau:
17
17
Luận Văn Tốt Nghiệp
-Phương pháp thẻ song song.
-Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
-Phương pháp sổ số dư.
a, Phương pháp thẻ song song.
Phương pháp hạch toán vật liệu này khá đơn giản và được áp dụng phổ
biến ở nước ta trong những năm 1970. Theo phương pháp thẻ song song.
Ở kho: Hàng này căn cứ vào các chứng từ nhập kho, xuất kho thủ kho ghi
số lượng thực nhập, thực xuất vào các thẻ kho liên quan và sau mỗi nghiệp vụ
nhập, xuất hoặc cuối mỗi ngày tính ra số tồn kho trên thẻ kho. Mỗi chứng từ ghi
một dòng vào thẻ kho. Thẻ kho được mở cho từng danh điểm vật liệu. Định kỳ
(có thể là 3 đến 5 ngày 1 lần) thủ kho phải kiểm tra đối chiếu số lượng tồn trên
thẻ kho và lượng tồn thực tế.
Ở phòng kế toán: Kế toán vật liệu mở thẻ kế toán vật liệu chi tiết cho từng
danh điểm vật liệu tương ứng với thẻ kho mở ở kho. Thẻ này có nội dung tương
tự thẻ kho, chỉ khác là nó theo dõi cả số lượng và giá trị (thẻ kho chỉ theo dõi về
số lượng vật liệu). Hàng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được các chứng từ nhập-
xuất kho do thủ kho chuyển tới, nhân viên kế toán vật liệu phải kiểm tra, đối
chiếu và ghi đơn giá hạch toán và tính ra số tiền. Sau đó, lần lượt ghi các nghiệp
vụ nhập, xuất vào các thẻ kế toán chi tiết vật liệu có liên quan. Cuối tháng, tiến
hành cộng thẻ và đối chiếu với thẻ kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và chi tiết, nhân viên kế toán
phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho

toán tổng hợp.
Áp dụng đối chiếu tổng mức luân chuyển công việc ghi chép kế toán chi
tiết theo từng danh điểm vật liệu được giảm nhẹ nhưng toàn bộ công việc ghi
19
19
Luận Văn Tốt Nghiệp
chép, tính toán, kiểm tra đều phải dồn hết vào ngày cuối tháng, cho nên công
việc hạch toán và lập báo cáo hàng tháng thường bị chậm trễ.
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU THEO
PHƯƠNG PHÁP ĐỐI CHIẾU LUÂN CHUYỂN
(3)
(3)
(4)
(2)
(2)
(1)
(1)
CHỨNG TỪ NHẬP
CHỨNG TỪ XUẤT
THẺ KHO
SỔ ĐCLC
BẢNG KÊ NHẬP
BẢNG KÊ XUẤT
c, Phương pháp sổ số dư.
Phương pháp sổ số dư là một bước cải tiến căn bản trong việc tổ chức hạch
toán chi tiết vật liệu. Đặc điểm nổi bật của phương pháp này là kết hợp chặt chẽ
việc hạch toán nghiệp vụ của thủ kho với việc ghi chép của phòng kế toán.
Ở kho: Giống các phương pháp trên. Định kỳ, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho
phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng thứ vật liệu
quy định. Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các

BẢNG LUỸ KẾ NXT
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
21
21
Luận Văn Tốt Nghiệp
3-/ Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu:
3.1-/ Phương pháp hạch toán nguyên vật liệu tồn kho
Để hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu, kế toán có thể áp dụng phương
pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ. Việc sử dụng
phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, vào
yêu cầu của công tác quản lý và trình độ cán bộ kế toán.
a, Phương pháp kê khai thường xuyên:
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh
tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên,
liên tục trên các tài khoản phản ánh hàng tồn kho. Phương pháp này có độ chính
xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhật. Theo
phương pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào, kế toán cũng có thể xác định được
lượng nhập- xuất- tồn kho từng loại hàng tồn kho nói chung và nguyên vật liệu
nói riêng.
b, Phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả
kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán tổng
hợp rồi từ đó tính ra giá trị vật tư, hàng hoá đã xuất trong kỳ theo công thức:
Trị giá vật tư hàng hoá xuất
=
Tổng giá trị vật tư hàng hoá nhập
±

TK 133- Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ.
TK 133 dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào khấu trừ được hoàn lại.
23
23
Luận Văn Tốt Nghiệp
Kết cấu TK133:
Bên Nợ: Tập hợp số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Các nghiệp vụ làm giảm thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (đã
khấu trừ, trả lại hàng mua, giảm giá hàng mua, được hoàn lại).
Dư Nợ: Phản ánh số thuế GTGT đầu vào còn được khấu trừ sẽ được hoàn
lại nhưng chưa nhận.
c)TK 611 - Mua hàng (Tiểu khoản 6111- Mua nguyên vật liệu) Phương
pháp kiểm kê định kỳ.
TK 611 dùng để theo dõi tình hình mua, tăng, giảm nguyên vật liệu, công
cụ, dụng cụ theo giá thực tế.
Kết cấu TK611
Bên Nợ: Phản ánh giá thực tế nguyên vật liệu , công cụ, dụng cụ tồn kho
đầu kỳ và tăng thêm trong kỳ.
Bên Có: Phản ánh thực tế vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất dùng, xuất bán,
thiếu hụt khác trong kỳ và tồn kho cuối kỳ.
Ngoài ra, trong quá trình hạnh toán, kế toán còn sử dụng một số TK liên
quan như: 331, 111, 112
3.3-/Hạch toán tình hình biến động nguyên vật liệu theo phương pháp
kê khai thường xuyên
Hạch toán tình hình biến động tăng nguyên vật liệu:
Đối với các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ:
Các cơ sở kinh doanh đã có đủ điều kiện tính thuế VAT theo phương pháp
khấu trừ (thực hiện việc mua, bán hàng hóa có hoá đơn, chứng từ, ghi chép kế
toán đầy đủ), thuế VAT đầu vào được tách riêng, không ghi vào giá thực tế của
vật liệu. Như vậy, khi mua hàng, trong tổng giá thành phải trả cho người bán,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status