Chính sách tiền tệ ở việt nam sau thời kỳ đổi mới - Pdf 19

1
A. LÒI MỎ ĐẨU
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, mà trong
đó Ngân hàng Trung ương, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm
soát và điều tiết khối lượng tiền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả,
sản lượng và công ăn việc làm.
Do vậy, đối bất cứ một quốc gia nào, đất nước nào cũng cần xem xét,
nghiên cứu tình hình nền kinh tế của quốc gia mình để nhằm xây dựng một chính
sách tiền tệ phù hợp, đảm bảo được tính hợp lý và thực hiện chúng một cách hiệu
quả nhất.
Qua đó, ta nhận thấy rằng chính sách tiền tệ có một vai trò nhất định trong
việc điều hành nền kinh tế của mỗi một quốc gia. Sự lựa chọn tính đúng đắn
trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ đem lại kết quả khả quan cho những
mục tiêu được đặt ra.
B.NÖIDUNG
I. MUC TIEU CÜA CHINH SACH TIEN TE Ö VIET NAM
1.1. Muc tieu cuoi cüng
Muc tieu cüa chinh säch tidn te hau nhu thöng nhä't ö cäc nuöc. Su didu
chinh lupng tidn cung üng nhäm muc tieu truöc het lä 6n dinh giä tn tidn te, tren
cö sö dö göp phän täng truöng kinh te vä cöng an vife läm.
1.1.1. Ön dinh giä cd
On dinh giä cä lä muc tieu häng däu cüa chinh säch tidn te vä lä muc tieu
däi han, trong quä trinh thuc nghiem da cho thä'y Ön dinh giä cä thi phäi Ön dinh
giä tri dÖng tidn, Ön dinh giä tn dÖng tidn lä Ön dinh süc mua cüa tidn te, dd dat
duoc didu dö Ngän häng Trung ung da dd ra muc tieu trong chinh säch tiön te lä
Ön dinh giä cä.
On dinh giä cä cö y nghia quan trong trong kinh te vi mö cüng nhu kinh te
vi mö, Ön dinh giä giüp cho Nhä nuöc hoach dinh dupe phucfng huöng phät tridn
kinh te möt each cö hieu qua hon vi loai trit dupe bien döng cüa giä cä. On dinh
giä cä giüp cho möi truöng däu tu Ön dinh göp phän thu hüt vön däu tu, khai thäc
moi nguön luc xä höi, thüc däy cäc doanh nghiep cüng nhu cäc cä nhän phät tridn

ngân sách và làm căng thẳng tình trạng ngân sách.
Chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chỉ có thể đảm bảo một tỷ lệ nhất
định, khó có thể xoá bbỏ được thất nghiệp hoàn toàn. Mỗi nước đều có một tỷ lệ
thất nghiệp tự nhiên đó là tỷ lệ được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời và tỷ
lệ thất nghiệp cơ cấu. Việc giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng là một trong
3
những mục tiêu của chinhs sách tiền tệ.
1.1.4. Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ không mâu thuẫn trong dài hạn nhưng
trong ngắn hạn có những mục tiêu mâu thuẫn thậm chí là đối nghịch nhau.
Trước hết, việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một
chính sách tiền tệ thắt chặt, điều đía dẫn đến lãi suất tăng không khuyến khích
đầu tư, làm giảm tổng cầu, thất nghiệp vì thế có xu hướng tăng lên. Trong khi
muốn duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải khuyến khích đầu tư, dân đến
thục thi chính sách tiền tệ mở rộng làm tăng giá.
Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả
còn được thể hiện qua mức cung tièn tệ tăng nhằm thoả mãn mức cầu tiền thực tế
dẫn đến giá cả hàng hoá cũng tăng.
Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh
tỷ giá, bằng việc hạ giá đồng bản tệ, các ngành công nghiệp xuất khẩu có khả
năng mở rộng, tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm kèm theo sự tăng lên của mức doanh
thu.
Thất nghiệp và tăng trưởng không có sự mâu thuẫn cả trong ngắn hạn và
trong dài hạn. Công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và sự ổn định giá cả lại tương đối
phức tạp, chúng mâu thuẫn nhau trong ngặn hạn nhưng lại bổ sung nhau trong dài
hạn.
Như vậy, trong ngắn hạn Ngân hàng Trung ương không thể đạt được tất cả
các mục tiêu trên. Phần lớn Ngân hàng Trung ương các nước coi sự Ổn định giá
cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách của chính sách tiền tệ nhưng

khả năng kiểm soát của Ngân hàng Trung ương sẽ trở nên vô nghĩa, nếu các chỉ
tiêu được lựa chọn không có ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng hoặc giá cả.
Cả lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên nhưng
ngân hàng Trung ương không thể chọn cả hai chỉ tiêu làm mục tiêu trung gian,
mà chỉ có thể chọn một trong hai chỉ tiêu đó, căn cứ vào mối liên hệ của các chỉ
tiêu này đến các mục tiêu cuối cùng. Bởi lẽ nếu đạt được mục tiêu về cung ứng
tiền tệ thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại.
Với các mục tiêu trung gian trên, Ngân hàng Trung ương không thể chủ
động tác động một cách hoàn toàn vì vậy Ngân hàng Trung ương phải lựa chọn
5
các mục tiêu hoạt động để chỉ đạo thường xuyên và trực tiếp.
1.3. Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu được Ngân hàng Trung ương lựa chọn để sao
cho Ngân hàng Trung ương sử dụng các công cụ điều tiết thì nó ảnh hưởng đến
mục tiêu trung gian. Để được lựa chọn là mục tiêu hoạt động thì nó phải đảm bảo
được các tiêu chuẩn sau:
- Chỉ tiêu đó phải đo lường được nhằm tránh những sự suy diễn thiếu chính
xác làm sai lệch dấu hiệu chính sách tiền tệ.
- Phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của chính sách
tiền tệ.
- Phải có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với các mục tiêu trung gian được
lựa chọn.
Các mục tiêu hoạt động bao gồm:
- Dự trữ của các Ngân hàng Thương mại: ảnh hưởng trực tiếp đến cung
ứng tiền tệ vì thay đổi R, ảnh hưởng đến vốn khả dụng của Ngân hàng Thương
mại do đó ảnh hưởng đến mức cung tiền.
- Lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng ảnh hưởng trực
tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó tác động đến lượng tiền cung ứng.
- Vấn đề sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng hoặc thắt chặt là vấn đề mang
tính nhạy cảm của các nhà điều hành chính sách tiền tệ . Để làm được điều này

tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế.
- Khối lượng tiền cung ứng có tính đến phạm vi tỷ lệ lạm phát.
- Khối lượng tiền cung ứng dựa vào ngoại hối trong tay người cư trú.
- Tiền cung ứng chịu ảnh hưởng bởi tốc độ lưu thông tiền tệ theo công
thức: v= GNP/M hoặc v= P.Q/M.
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm bao gồm tiền mặt, các loại
tiền gửi ở ngân hàng nhằm giành cho nhu cầu đầu tư tín dụng cho nền kinh tế,
tăng dự trữ ngoại hối và tạm ứng cho ngân sách. Khối lượng tiền cung ứng tăng
thêm chỉ là một chỉ tiêu định hướng, điều quan trọng là Ngân hàng Nhà nước
phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, giá cả và tỷ giá hối đoái để điều
chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lượng tiền tăng hay giảm không
làm ảnh hưởng tới giá cả hoặc thiếu phương tiện lưu thông gây cản trở cho lưu
thông hàng hoá. Việc điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng theo tín hiệu thị
trường thông qua nhu cầu đối ứng xuất phát từ các kênh tạo tiền (tín dụng, ngân
7
sách, thị trường ngoại hối, thị trường mở).
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế: kiểm soát lượng tiền cung ứng thông
qua chỉ tiêu hạn mức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các ngân
hàng thương mại thông qua hoạt động tái cấp vốn.
Chính sách ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp quản
lý ngoại hối bao gồm việc sử dụng tỷ giá nhằm điều tiết thị trường hối đoái; quản
lý quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Ngân hàng
Nhà nước sử dụng chính sách tỷ giá linh hoạt, có sự quản lý, phản ánh sức mua
của đồng tiền, ổn định giá cả.
2.2. Giai đoạn 1991-1995
Giai đoạn 191- 1995 là thời kỳ nền kinh tế nước ta có những chuyển biến
mạnh mẽ trong quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và đạt được những thành tựu nổi
bật tạo đà thuận lợi cho quá trình xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ. Kinh
tế thời kỳ này tăng trưởng khá cao (bình quân hàng năm 8,3%) và lạm phát được

một cách hợp lý, tốc độ tăng tín dụng phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và
tỷ lệ lạm phát dự kiến.
+ Xây dựng chính sách lãi suất theo định hướng thị trường theo nguyên
tắc người gửi có lợi, người vay chấp nhận và ngân hàng kinh doanh được, xoá bỏ
bao cấp qua lãi suất cho vay, thực hiện chính sách lãi suất thực dương, điều chỉnh
lãi suất huy động và cho vay phù hợp với biến động của chỉ số lạm phát và yêu
cầu của chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước dần dần quy định một trần lãi
suất tối đa, các tổ chức tín dụng quy định các mức lãi suất cụ thể về tiền gửi và
cho vay, từng bước khép dần khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất nội tệ và ngoại
tệ, lãi suất huy động và cho vay có thời hạn dài sẽ cao hơn huy động và cho vay
có thời hạn ngắn.
Lãi suất cho vay của Ngân hàng Nhà nước đối với Ngân hàng thương mại
theo phương pháp chiết khấu trên cơ sở lãi suất cho vay thị trường thông qua
phương thức tái cấp vốn, mức chiết khấu cụ thể theo yêu cầu điều hành chính
sách tiền tệ từng thời kỳ.
+ Chính sách quản lý ngoại hối dần từng bước đảm bảo Nhà nước nắm giữ
được ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu và ổn định giá trị đồng tiền nội tệ. Điều
9
hành tỷ giá ngoại tệ linh hoạt góp phần kiềm chế lạm phát, khuyên khích xuất
khẩu và thu hút vốn đàu tư nước ngoài. Định hướng lâu dài của chính sách ngoại
hối là trên đất Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt Nam, từng bước củng cố và nâng cao
giá trị của đồng Việt Nam và phấn đấu trở thành đồng tiền chuyển đổi.
+ Chính sách đối với ngân sách: xây dựng được tư tưởng chỉ đạo không
phát hành bù đắp thâm hụt; số thiếu hụt của ngân sách là một phần được vay
nước ngoài.
- Sử dụng các công cụ hỗ trợ để điều hành chính sách tiền tệ theo yêu cầu
và mục đích từng thời kỳ:
+ Điều chỉnh lãi suất tín dụng đối với nền kinh tế.
+ Tăng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
+ Xác định hạn mức tín dụng cho các Ngân hàng thương mại.

thức việc Nhà nước nắm ngoại tệ, thu hút ngoại tệ vào ngân hàng để phục vụ
nhập khẩu và giữ ổn định được tỷ giá ngoại tệ, khuyến khích xuất khẩu và thu hút
vốn đầu tư nước ngoài.
- Xây dựng tư tưởng chỉ đạo không phát hành cho ngân sách mà xử lý
thiếu hụt ngân sách bằng vay dần thông qua thị trường tín phiếu kho bạc và vay
nước ngoài.
Những mặt hạn chế:
- Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ chưa được hoàn thiện theo cơ
chế tr:
+ Lãi suất còn cao và chưa được điều chỉnh khéo léo, linh hoạt phù hợp với
các yêu cầu cần đặt ra của nền kinh tế và của chính sách tiền tệ.
+ Lãi suất tái cấp vốn chưa phát huy được tác dụng của điều tiết khối lượng
tiền một cách tích cực;
+ Công cụ dự trữ bắt buộc chưa theo yêu cầu của chính sách tiền tệ, các tổ
chức tín dụng chấp hành chưa đúng tỷ lệ quy định và Ngân hàng Nhà nước xử lý
chưa nghiêm minh.
+ Cán cân thanh toán còn bị thâm hụt lớn.
+ Ngân sách còn căng thẳng và điều chỉnh chưa ăn khớp với chính sách tiền
tệ, chi ngân sách theo thời vụ, thường tập trung vào cuối năm là một yếu tố gây
áp lực lên lạm phát.
- Hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn chưa phát rriển mạnh và
chưa hoànthiện, chưa nhạy cảm với nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế.
- Chưa thực hiện triệt để tư tưởng chỉ đạo là không phát hành bù đắp thâm
11
hụt ngân sách; nhưng trên thực tế vẫn phát hành cho ngân sách chitiêu, bằng cách
ngân hàng tạm ứng cho ngân sách chi, song không được hoàn trả đúng thời hạn,
dẫn đến tăng tổng phương tiện thanh toán qua mức, gây tăng lạm phát ngoài dự
kiến.
- Hình thành thị trường tín phiếu kho bạc chậm, làm cho Ngân hàng Nhà
nước chậm nắm được và điều hành công cụ này phục vụ cho nghiệp vụ thị trường

theo dõi để có những giải pháp kịp thời hạn chế sự gia tăng tín dụng khi tốc độ
tín dụng có xu hướng tăng nhanh.
Lúc này Ngân hàng Nhà nước đã chuyến việc điều hành chính sách tiền tệ
sang một số công cụ khác.
- Dự trữ bắt buộc
Kể từ khi ban hành Quyết định số 260QĐ-NHNN1 ngày 19/9/1995, mức
dự trữ bắt buộc được tính chung cho tất cả các loại tiền gửi, không phân biệt tiền
gửi không kỳ hạn hay tiền gửi có kỳ hạn 12 thanga. Quy chế dự trữ bắt buộc lần
này đã được quy định cụ thể hơn, thể hiện ở việc quy định tiền gửi dự trữ bắt
buộc tại Ngân hàng Nhà nước được tính bình quân trong cả kỳ duy trì. Năm
1998, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được áp dngj chung cho các tổ chức tín dụng và các
loại tiền gửi huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng là 10%, từ tháng 3 đến tháng
6/1999, tỷ lệ này là 7% và từ tháng 6/1999 là 6%.
Ngân hàng Nhà nước không trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc. Đối với
việc tiền gửi dự trữ vượt quá, Ngân hàng Nhà nước áp dụng lãi suất 0,2%/tháng
(bằng Việt Nam đồng) và 4,86%/năm (bằng ngoại tệ). Đồng thời, những tổ chức
tín dụng thiếu tiền dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì thì bị phạt theo mức 200%
trần lãi suất cho vay bằng USD doThống dốc ngân hàng Nhà nước quy định
trong từng thời kỳ (đối với dự trữ bắt buộc bằng USD). Những quy định này
khuyến khích các tổ chức tín dụng chủ động trong việc điều hành chính sách tiền
tệ trong giai đoạn hiện nay.
Nếu so sánh các lần tăng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các mức lạm phát
và lãi suất qua các năm ta thấy, thời kỳ có lạm phát cao hay lãi suất cao cũng là
lúc tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định ở mức cao điều này cho thấy đã có sự
phối hợpvận dụng công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các công cụ khác của chính
sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Điều này rất dễ thấy
trong diễn biến của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong năm 1999-đây là năm mà Chính
phủ mở rộng tiền tệ để kích cầu, lãi suất trần được điều chỉnh giảm 4 lần thì tỷ lệ
13
dự trữ bắt buộc cũng giảm đến 3 lần.

14
cho vay thế chấp chứng từ và cho vay thế chấp bằng tiền gửi ngoại tệ của các
Ngân hàng thương mại tại ngân hàng Nhà nước.
Trong giai đoạn trước tháng 3/1997, Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất
tái cấp vốn theo lãi suất cho vay trên từng khế ước tái cấp vốn. Chính vì vậy mà
lãi suất tái cấp vốn mang tính bị động, có sự phân biệt giữa các ngân hàng. Kể từ
tháng 3/1997, cùng với việc hoàn thiện cơ chế lãi suất, lãi suất tái cấp vốn đã
được xác định một cách độc lập, tái cấp vốn đã thực sự trở thành công cụ tiền tệ
được ngân hàng Nhà nước quan tâm hơn trong việc điều tiết cung ứng tiền. Cứ
mỗi lần thay đổi lãi suất trần thì lập tức ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh lãi
suất tái cấp vốn một cách tương ứng, công cụ tái cấp vốn chỉ có thể phát huy hiệu
quả khi nó được phối hợp với lãi suất. Nếu Ngân hàng Nhà nước muốn các tài
chính tín dụng khai thác nguồn vốn trong nhân dân thì quy định mức tái cấp vốn
cao. Ngược lại, việc quy định một mức tái cấp vốn lãi suất cao ngược với quy
định một mức tái cấp vốn lãi suất thấp, chỉ khuyến khích (có lợi) vay của Ngân
hàng Nhà nước, trong thờigian tới, khi mà thị trường mở đã đi vào hoạt động ổn
định thì đòi hỏi phải thận trong hơn nữa trong việc quy định mức lãi suất tái cấp
vôn như thế nào là họp lý. Bởi vì một mức tái cấp vốn lãi suất thấp sẽ khuyến
khích các tổ chức tín dụng vay của ngân hàng Nhà nước sau đó mua lại các giấy
tờ có giá. Trường hợp này chẳng khác nào Ngân hàng Nhà nước dùng chính tiền
của mình mua lại các giấy tờ có giá. Kết quả là nghiệp vụ thị trường mở không
có tác dụng. Như vậy, mức lãi suất tái cấp vốn hợp lý phải là mức xấp xỉ với lãi
suất các giấy tờ có giá ngắn hạn hay lãi suất tiền gửi ngắn hạn.
Năm 1998, lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh từ 1%/tháng lên 1,1
%/tháng. Năm 1999, cùng việc giảm dần lãi suất cho vay, lãi suất tái cấp vốn
cũng được giảm xuống mức 0,85%/tháng. Trong những năm 1999, 2000 và đầu
năm 2001, lãi suất tái cấp vốn liên tục được điều chỉnh giả, nhằm thực hiện chính
sách mở rộng tiền tệ phục vụ cho mục đích kích cầu của nền kinh tế.
Công cụ tái cấp vốn đã được điều hành theo hướng nới lỏng tiền tệ một
cách thận trọng, khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộg tín dụng, tiếp tục thực

thể). Với cơ chế điều hành lãi suất mới này, về mặt bản chất cũng giống như cơ
chế lãi suất trần, bởi vì lãi suất cho vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản cộng với
biên độ, chỉ khác là nó mang tính hướng dẫn, chỉ đạo cho các tổ chức tín dụng
hình thnàh các lãi suất hoạt động cho mình một cách dễ dàng hơn. tuy nhiên,
trong điều kiện hiện nay khi mà Nhà nước chưa thể thả nổi lãi suất thì viêc quy
16
định biên độ giao động là nhằm đảm bảo Nhà nước trước khi chuyển hẳn sang lãi
suất thị trường, lúc đó việc điều hành chính sách tiền tệ chủ yếu bằng công cụ lãi
suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Chính vì vậy
mang tình hình lãi suất ngân hàng đến nay hầu như không biến động so với thời
điểm trước khi điêù chỉnh.
Ngày 29/5/2001, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định số 718 v/v
thây đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay bằng USD. Theo đó, các tổ chức tín
dụng được quyền chủ động ấn định lãi suất cho vay bằng USD trên cơ sở lãi suất
thị trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước.Đây là
bước đi tự tin, táo bạo và sáng suốt, đặt tiền đề hết sức quan trọng cho quá trình
tự do hoá lãi suất ở Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đổi mới điều hành
lãi suất theo hướng điều chỉnh lãi suất cơ bản một cách linh hoạt trên cơ sở bám
sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cùng với mục tiêu điều hành chính
sách tiền tệ để khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng. Thực hiện
chủ trương kích cầu của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã 4 lần điều chỉnh lãi
suất cơ bản từ mức 0,75%/tháng xuống 0,6%/tháng. Trên thực tế việc điều chỉnh
lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2001 là phù hợp với tình hình
diễn biến lạm phát, tỷ giá, đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa lãi suất Việt Nam
đồng và ngoại tệ.
Từ tháng 6/2002, đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, cứ 3 tháng bằng
1%/năm đối với cho vay ngắn hạn lãi suất SIBOR 6 tháng bằng 2,5%/năm, đối
với cho vay trung và dài hạn, chuyển sang cơ chế tự do hoá lãi suất cho vay ngoại
tệ. Theo đó, các tổ chức tín dụng được tư do ấn định lãi suất cho vay ngoại tệ trên
cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vôn tín dụng ngoại tệ như trong

thiệp của Nhà nước, dự trữ ngoại tệ còn quá ít, kinh tế tăng trưởng nhưng chưa
thực sự vững chắc, thị trường tiền tệ chưa phát triển thì việc duy trì cơ chế tỷ giá
công bố và biên độ giao dịch như hiện nay là cần thiết. Hiện nay nhu cầu về
ngoại tệ còn rất cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong khi đó, cung ngoại
tệ thì rất hạn chế. Nhiều người thừa nhận đồng Việt Nam có giá cao, nếu cứ để tỷ
giá hối đoái theo quan hệ cung cầu thị trường sẽ tất yếu dẫn đến một sự tăng vọt
không lường, nguy cơ lạm phát và khủng hoảng sẽ xảy ra. Mặt khác ,trong nước
đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhập khẩu đang chiếm một
tỷ trọng lớn hơn so với xuất khẩu. Thực vậy, cơ cấu xuất khẩu của nước ta chủ
18
yếu là hàng nông sản, may mặc, giầy da những mặt hàng có hàm lượng chất
xám đang còn thấp; trong khi đó, cơ cấu nhập khẩu thường là máy móc, thiết bị
hiện đại, các nguyên liệu đầu vào
Do đó, lợi ích của việc nhập khẩu hiện nay là lớn hơn xuất khẩu. Ngoài ra,
nếu tỷ giá hối đoái tăng vọt sẽ làm cho các khoản nợ nước ngoài tăng. Chính vì
vậy, việc duy trì một tỷ giá hối đoái sẽ làm cho Nhà nước chủ động hơn trong
việc phân tích những lợi ích của các mức tỷ giá hối đoái mang lại.
Năm 2001, tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt bám sát biến động của lãi suất
USD trên thị trường trong nước. Ngày 8/9/2001, Ngân hàng Nhà nước đã quyết
định mở rộng kỳ hạn các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi của các tổ chức tín dụng, và
điều chỉnh mức gia tăng tỷ giá hoán đổi kỳ hạn với trần tỷ giá giao ngay. Điều
này giúp cho các tổ chức tín dụng có điều kiện thực hiện linh hoạt các giao dịch
ngoại hối, các tổ chức tín dụng chủ động hơn trong kinh doanh nhưng vẫn đảm
bảo vai trò kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước .
Trong bối cảnh diễn biến thị trường quốc tế có nhiều biến động, việc điều
hành tỷ giá linh hoạt và sự can thiệp kịp thời của Nhà nước trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng đã góp phần ổn định tỷ giá, có tác dụng khuyến khích xuất
khẩu, kiềm chế nhập khẩu. Tỷ giá bình quân giữa Việt Nam đồng và USD trên
thị trường ngoại tệ liên ngân hàng dự kiến tăng khoảng 4% so với cuối năm 2000.
Nhìn lại năm 2001, với mức tăng tổng phương tiện thanh toán dự kiến

với một số mặt hàng dệt may, giầy dép, thuỷ sản. Theo đó, dự kiến tín dụng phục
vụ mục tiêu xuất khẩu những mặt hàng này sẽ gia tăng. Nhìn chung, mức tăng tín
dụng cho nền kinh tế sẽ vào khoảng 25% so với cuối năm 2001.
Nghiệp vụ thị trường mở:
Thi trường mở nước ta chính thức hoạt động từ ngày 12/7/2002, tham gia
thị trường nàylà Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, đến nay
Ngân hàng Nhà nước chỉ cấp giấy phép hoạt động cho 12 thành viên. Hàng hoá
cho nghiệp vụ này còn rất hạn chế, chủ yếu là tín phiếu Kho bạc và tín phiếu
Ngân hàng Nhà nước. Tổng khối lượng 2 loại tín phiếu này đang được các Ngân
hàng thương mại nắm giữ khoảng 3.000 tỷ đồng, trong đó 1.000 tỷ đồng là tín
phiếu Ngân hàng Nhà nước. Trong phiên đấu thầu đầu tiên đã mở hơn một năm
nay, và cho đến nay, về phương diện pháp lý đã hoàn tất, từ việc ban hành quy
chế, quy trình nghiệp vụ thị trường mở, quy định về đăng ký gấy tờ có giá ngắn
20
hạn đến việc thành lập ban điều hành.
m- QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THựC THI CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ
3.1. Những khó khăn và tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách
tiền tệ.
Mặc dù không nằm trong "tâm điểm" của cơn bão tiền tệ Đông Nam á
nhưng thời gian gần đây diễn biến kinh tế phức tạp và ảm đạm của hàng loạt các
nước trong và cận kề ngoài khu vực (trừ Trung Quốc, Đài Loan) cho phép khẳng
định Việt Nam cũng khó có thể thoát khỏi vòng xoáy tụt dốc "đôminô" về tăng
trưởng kinh tế đang diễn ra ít nhất là trong vòng 2-3 năm kể từ cuối năm 1997.
Có tới 70% sản lượng vốn đầu tư nước ngoài và 60% kim ngạch thương mại của
Việt Nam là nhờ quan hệ với các quốc gia Châu á. Việt Nam Việt Nam đang chịu
ảnh hưởng chủ yếu bởi sự sụt giảm đáng kể trong đầu tư nước ngoài trực tiếp
(FDI) và tụt giảm nhu cầu xuất khẩu chung. Ngoài nguyên nhân do ảnh hưởng
hủng hoảng tiền tệ, sự giảm sút đầu tư nướcngoài vào Việt Nam còn bắt nguồn
sâu xa từ môi trường đầu tư chưa đủ hấp dẫn, trong khi rủi ro đầu tư tiếp tục gia

Việc tạo các công cụ và thể chế để phát triển thị trường tiền tệ ngắn hạn và thị
trường vốn dài hạn nói chung đang bắt đầu và còn gặp không ít khó khăn. Đó là
những trở ngại lớn cho NHNN trong việc tiến tới nắm bắt và sử dụng các nghiệp
vụ thị trường "mở" để kiém soát, điều chỉnh kịp thời tổng lượng tiền trong lưu
thông.
* Sự thâm hụt lớn của cán cân vãng lai do nhập siêu triền miên và gánh
nặng nợ nước ngoài chồng chất như bội chi ngân sách còn cao luôn tạo ra những
áp lực từ nhiều phía đe doạ tín ổn định, độc lập tương đối của chính sách tiền tệ,
mà bước đầu đã tạo dựng được ở giai đoạn chóng lạm phát trước đây. Thâm hụt
cán cân vãng lai chủ yếu phải bù đắp phải bù đắp bằng "nhập khẩu" vốn là
nguyên nhân chính gây ra nạn "đô la hoá", khiến VNĐ bị định giá quá cao, kích
thích tâm lý tích trữ giá trị dưới dạng ngoại tệ, không gian tiền tệ bị méo mó.
Trong khi đó, sự nôn nóng uốn nắn một cách cứng nhắc hoạt động tiền tệ, tín
dụng và ngân hàng sau một số vụ đổ vỡ tài chính làm tái phát xu hướng bao cấp
tràn lan qua hạn mức tín dụng, qua lãi suất ưu đãi, qua áp lực chỉ định cho vay
của các cấp chính quyền Đó là những trở ngại không dễ dỡ bỏ trong quá trình
hoàn thiện chính sách tiền tệ hiện nay.
22
* Căn bệnh giảm phát bộc lộ vào cuối năm 1998, tăng mạnh từ đầu năm
1999 với triệu chứng rõ nhất là sức mua nội địa giảm sút.
23
Tương quan lãi suất và tỷ giá hối đoái 1991-1999
Hàng hoá tồn đọng nhiều xuất khẩu tăng chậm lại, thậm chí mức âm (quý
1/1999 là 7,5%) con số giá cả xuống rất thấp (suốt 9 tháng đầu năm 1999 chỉ
tăng 0,2%) trong lúc tăng trưởng kinh tế giảm mạnh đang đặt ra những thử
thách lớn cho việc tìm đối sách đồng bộ, hữu hiệu để khắc phục những khó khăn
nội tại và đối phó với ảnh hưởng khủng hoảng từ bên ngoài nội bộ vào. Vấn đề
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nội địa, phát huy tốt các lợi thế so sánh đòi
hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế. Nhu cầu vốn lớn đang đặt ra
ngày càng bức bách, trong lúc bối rối cảnh thị trường vốn đầu tư quốc tế ít thuận

lược, biện pháp chỉ đạo nền kinh tế với nhiệm vụ xuyên suốt là phát triển nông
nghiệp, nông thôn, coi đây là "bệ phóng" để đẩy tới một bước công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nền kinh tế ở thập niên 2000-2010 với 2020. Theo đó, sẽ có sự
chuyển dịch căn bản về cơ cấu kinh tế, trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu dịch
vụ, dựa vào cơ cấu lại từ nguồn vốn cho đến sử dụng vốn, dành vốn ưu tiên đầu
tư nhiều hơn vào những lĩnh vực then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế. Do vây,
nội dung hoàn thiện chính sách tiền tệ không nằm ngoài những định hướng đã
nêu.
Để tiếp tục Ổn định tiền tệ trong điều kiện lạm phát thấp, trước hết có sự
tập trung cải thiện cơ bản ngân sách Nhà nước, giảm thiểu mức thâm hụt, tiết
kiệm triệt để mức tiêu dùng phi sản xuất đã tăng tỷ phần tích luỹ, dành vốn đầu
tư phát triển kinh tế ở tất cả các khu vực Nhà nước, doanh nghiệp và dân cư.
Triển khai việc cải cách thuế, áp dụng 2 loại thuế mới (thuế giá tri gia tăng và
thuế thu nhập doanh nghiệp) có hiệu lực từ ngày01/01/1999, nhằm tạo sự bình
đẳng về thuế giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với các doanh
nghiệp trong nước và giữa các thành phần kinh tế với nhau, hỗ trợ thực hiện
chính sách "kích cầu" và khuyến khích đầu tư của Nhà nước, đồng thời bảo hộ
đầu hợp lý sản xuất trong nước.
Khẩn trương chấn chỉnh hệ thống ngân hàng, nâng cao chất lượng và đảm
bảo an toàn hoạt động tín dụng. Thí điểm đưa vào hoạt động thị trường vốn (thị
trường chứng khoán) trên cơ sở khung khổ pháp lý ban đầu ( Nghị định Chính
phủ) vào cuối năm 1999. Chủ động hoàn thiện tiếp chế độ tỷ giá hối đoái và lãi
suất ngân hàng theo hướng từng bước thả nổi có điều tiết và tự do hoá có chọn
lọc (trên cơ sở tách bạch giữa tín dụng kinh doanh và tín dụng chính sách). Có
phương án an toàn giá tri tiền gửi gắn liền với kiện toàn hệ thống thanh toán qua
25
ngân hàng. Hoàn thành dứt điểm xử lý nợ nần dây dưa khu vực tài chính, giải
toả tài sản thế chấp vay ngân hàng đóng băng, đẩy manh cơ cấu vốn, tài sản
ngân hàng. Hạn chế hệ thống ưu đãi lãi suất trước đầu tư chuyển sang phương
thức tín dụng ngân hàng và chính sách ưu đãi sau đầu tư đối với một số lĩnh vực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status