LỜI NÓI ĐẦU
Gắn liền với công cuộc đổi mới & mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầu
cần giảI quyết cùng lúc như: vừa ổn định vừa phát triển KT trong nước,vừa mở
rộng giao lưu, quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài,nhu cầu mở rộng
lượng tiền cung ứng ngày càng lớn dẫn đến sự xác lập quan hệ cung-cầu mới về
tiền, trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định KT Vĩ mô với hạt nhân là ổn định
tiền tệ,tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.
Ngày nay, không còn ai có thể phủ nhận rằng: bằng việc điều chỉnh tiền tệ
cho phù hợp với nhu cầu của nền KT, là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ
chức quản lý các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ& chính sách tiền tệ phải theo
đuổi.
Sự bùng phát của lạm phát vào những tháng đầu năm 2008 ít nhất cũng
mang lại cho chúng ta một khía cạnh tích cực- làm cho nhiều người giật mình về
vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế. Lý thuyết được
thực tiễn làm sáng tỏ. Rõ ràng với chính sách tiền tệ không thể xem thường hay
thờ ơ với nó.
Bước vào thế kỉ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng KT &công
bằng XH, vì vậy việc lựa chọn giaỉ pháp nào để xây dựng &điêù hành chính
sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là 1 vấn đề khó khăn,phức tạp.
Qua quá trình học tập &rèn luyện môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, được sự
hướng dẫn của các thầy cô giáo khoa Ngân hàng tài chính, em xin mạnh dạn
trình bày Đề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ với đề tài “Chính sách tiền tệ
ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp”.
Đề án này bao gồm các phần:
Phần I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ& các công cụ của CSTT
Phần II: Thực trạng điều hành Chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
1
PhầnIII: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSTT
Vì điều kiện thời gian& kiến thức hạn chế, Em rất mong được sự đóng góp
của thầy cô trong tổ bộ môn Lý thuyết TCTT để Đề án được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
NHTW khả năng tác động có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức
tín dụng phải tự điều chỉnh hoạt động của mình theo hướng chỉ đạo của NHTW
nhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳng
trong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng.
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương
(NHTW) thông qua các hoat động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ
trong lưu thông nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong
một thời kì nhất định.
Trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồi với từng quốc gia thì việc đề ra chính
sách tiền tệ cũng có những điểm khác biệt. Xét về mặt tổng thể chính sách tiền
tệ của các quốc gia trên thế giới hướng vào các mục tiêu chủ yếu là:
a. Công ăn việc làm cao.
Mục tiêu của việc làm cao do đó không phai là một con số không thất
nghiệp mà là một mức trên số không phù hợp với việc làm đầyđủ mà tại đó cầu
lao động bằng với cung lao động.Người ta gọi đó là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm phụ thuộc chủ yếu vào tình hình tăng
trưởng KT.Tuỳ theo tình hình đó mà NHTW phải vận dụng các công cụ của
mình góp phần tăng cường mở rộng đằu tư sản xuất kinh doanh,đồng thời tham
gia tích cực vào sự tăng trưởng liên tục và ổn định,khống chế tỷ lệ thất nghiệp
không tăng quá mức tự nhiên.
4
b. Tăng trưởng KT.
Mục tiêu tăng trưởng kt quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm cao.Các
chính sách có thể tập trung kích thích đầu tư vào sx kinh doanh.
Tăng trưởng KT là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách
tiền tệ. Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng& thanh toán trong nền kinh tế
quốc dân, NHTW có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này.
NHNN Việt Nam cần bằng mọi phương thức để có thể huy dộng được hầu hết
các nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoàI nước để phục vụ cho mục tiêu này.Mục
f. Mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối:
Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia,NHTW thực hiện
các nhiệm vụ giao dịch về TC và Tiền tệ đối ngoại bằng các phương diện: quản
lý ngoại hối,lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện
các nghiệp vụ hối đoái. Tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước, xây
dựng và thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối của đất nước,tiến hành kinh doanh
ngoại hối trên thị trường ngoại hối quốc tế.Cần thiết lập mối quan hệ với các tổ
chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm tìm kiếm các nguồn vốn có thể huy động
được(viện trợ,vay nợ,vay ưu đãi,thu hút đầu tư,thu hút kiều hối..).
Chính sách tiền tệ góp phần nhiều vào việc thực hiện các mục tiêu trên lại
mâu thuẫn nhau. cụ thể chỉ có thể đạt được một mục tiêu khi chấp nhận sự cắt
giảm nhất định đối với mục tiêu khác. Chẳng hạn muốn kiềm chế lạm phát thì sẽ
phải chấp nhận nạn thất nghiệp tăng lên... Vì vậy tuỳ theo việc hướng vào mục
tiêu nào là chính mà người ta có thể coi chính sách tiền tệ là chính sách ổn định
giá cả, chính sách tạo việc làm, chính sách cân bằng cán cân thanh toán hay
chính sách tăng trưởng kinh tế.
6
Để đạt được những mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ NHTW phải
xác định các mục tiêu trung gian. Bởi lẽ NHTW sử dụng các mục tiêu trung gian
để có thể xét đoán nhanh chóng được tình hình hoạt đoọng của mình phục vụ
cho các mục tiêu cuối cùng, hơn là chờ cho đến khi thấy được kết quả cuối cùng
của các mục tiêu đó. Mục tiêu trung gian là điều tiết cung tiền thông qua chi
phối dòng tiền chu chuyển và khối lượng tiền.Tuỳ theo đIều kiện cụ thể của từng
nước mà các khối tiền tệ có thể là M1, M2, M3.
3. Nội dung của chính sách tiền tệ.
Xét cho cùng NHTW có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ phù hợp với
tình hình thực tiễn của nền kinh tế:
- Chính sách mở rộng tiền tệ: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế
nhằm khuyến khích đầu tư phát triển sản xuát tạo công ăn việc làm.
Chính sách này được đưa ra trong trường hợp nền KT trì trệ,tăng trưởng
hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách.
Ngân sách nhà nước có thể ở ba trạng thái,đó là thâm hụt ngân sách, cân
bằng ngân sách & thặng dư ngân sách.
II. CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA
NÓ.
a. Công cụ tái cấp vốn.
TáI cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các NHTM. Khi cấp
một khoản tín dụng cho NHTM một mặt NHTW đã tăng lượng tiền cung ứng,
mặt khác tạo cơ sở cho NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực
thanh toán cho họ.Các hình thức tái cấp vốn ngoài tái chiết khấu bao gồm:
8
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
- Cho vay dưới hình thức cầm cố, thế chấp, các chứng từ có giá ngắn hạn.
- Cho vay trong thanh toán bù trừ.
- Cho vay theo hình thức chỉ định.
- Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.
Qua công cụ táI cấp vốn, NHTM là người cho vay cuối cùng, kiểm tra chất
lượng tín dụng của các NHTM, bơm tiền ra lưu thông theo mức độ đã được
khống chế để kiềm chế lạm phát hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế.Đối với các
NHTM, với tư cách là người đI vay để cho vay, khi vốn khả dụng bị đe dọa thì
NHTW là chỗ dựa, là vị cứu tinh của họ.Tuy nhiên vì quyền quyết định vay hay
không vay là của NHTM nên NHTW không thể nắm chắc được kết quả của sự
điều tiết.
b. Lãi suất tín dụng
Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong việc điều
khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế, nó không trực tiếp làm tăng hay giảm
khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhưng có thể kích thích hoặc kìm hãm sản
xuất,vì vậy nó là một công cụ rất lợi hại.Với công cụ này có thể áp dụng cơ chế
điều hành gián tiếp hoặc trực tiếp.
tăng lãi suất tín dụng do vậy mức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế sẽ giảm
xuống. Việc tăng lên hay giảm xuống quỹ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hoặc tăng
lương tiền cung ứng cho nền kinh tế qua cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng.
Vì vậy đó là một công cụ tiềm tàng của chính sách tiền tệ. Ngoài ra dự trữ bắt
buộc còn đảm bảo việc thanh toán thường xuyên của các NHTM.
10
Điểm lợi chính của công cụ này là nó tác động đến tất cả các ngân hàng
như nhau và có tác dụng đâỳ quyền lực đến cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên khi dự
trữ bắt buộc không được trả lại, chúng tương đương với một khoản thuế và có
thể dẫn đến hiện tượng phi trung gian hoá. Mặt khác bự trữ bắt buộc thiếu tính
mềm dẻo bởi sẽ rất vất vả để thực hiện được những thay đổi nhỏ trong cung ứng
tiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc. Một điểm bất lợi khác nữa của việc
sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát việc cung ứng tiền tệ là việc tăng dự trữ
bắt buộc cói thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản của các NHTM,
gây ra tình trạng không ổn định cho các ngân hành. Chính vì vậy công cụ dự trữ
bắt buộc thường không được khuyến khích và ít được sử dụng.
e. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua và bán các giấy tờ có giá (như
cổ phiếu, trái khoán, công trái...) do NHNN trên thị trường tiền tệ và trong
chừng mực hạn chế nhất định cả trên thị trường vốn. Đây là môt trong những
công cụ rất quan trọng được nhiều NHNN của các nước sử dụng có hiệu quả
CSTT.
Bằng việc bán các giấy tờ có giá cho các NHTM với lãi suất hấp dẫn,
NHTW thu hồi tiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, đồng thời khả
năng cho vay của các NHTM cũng giảm và già trị tín dụng tăng lên. Ngược lại,
Bằng việc mua các giấy tờ có giá, NHTW cung cấp tiền cho các NHTM để cho
vay, làm gia tăng lượng tiền cung ứng trên thị trường. Điều quan trọng ở đây là
thời hạn cuả các giấy tờ có giá. Việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn chủ
yếu nhằm mục đích cân bằng giao động của tỷ lệ lãi suất trên thị trường tiền tệ,
trong khi đó mua bán các giấy tờ có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng
12
PHẦN II: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Ở VIỆT NAM
1. Tình hình kinh tế Việt Nam
Năm 2008, trước sự suy thoái của nền kinh tế thế giới và cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, lạm phát tăng cao, không nền kinh tế nào không bị tác
động, chỉ nhiều hay ít, sớm hay muộn mà thôi, Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động không ít và bắt đầu thực sự bước vào giai
đoạn khó khăn. Trong quý I năm 2008 với mục tiêu tăng trưởng GDP 9% nhưng
đã giảm còn 6,5%; biên độ giá của các mặt hàng dao động mạnh, lãi suất ngân
hàng liên tục thay đổi, giá dầu giảm ở mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua,…tất
cả những biến đổi đó tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và
doanh nghiệp nói riêng. Nhìn lại diễn biến nền kinh tế Việt Nam năm 2008, các
nhà phân tích chia nền kinh tế ra ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc trưng về
mục tiêu và chính sách kinh tế khá rõ nét. Cụ thế:
Giai đoạn 1: Cỗ xe kinh tế phi nước đại và ủ bệnh: Năm 2007, Việt Nam đạt
được những thành tựu kinh tế ấn tượng. Theo Tổng cục Thống kê ngày 31/12/2007,
tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế
hoạch đề ra (8,2-8,5%). Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007
theo giá thực tế ước đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra
40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp
tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và
vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD. Nền
kinh tế Việt Nam năm 2007 có sự tăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnh vực.
Tuy nhiên đây là dấu hiệu của nền kinh tế tăng trưởng nóng. Trước những thay đổi
mạnh mẽ về luồng vốn, tác động từ bên ngoài như vậy, Chính phủ đã triển khai các
biện pháp và các công trình để đạt các mục tiêu đề ra: việc phân cấp quá mức cho
chính quyền địa phương cấp tỉnh về đầu tư (trong nước và ngoài nước), việc cấp
13
đất, mở khu công nghiệp... đã tạo ra những chồng chéo và dư thừa về quá nhiều