Luận văn
Đề tài “Thực trạng cải cách hành chính và
các giải pháp, phương hướng của cải cách
hành chính trong giai đoạn hiện nay”
MỤCLỤC
Trang
MỞĐẦU
2
CHƯƠNG I: CƠSỞLÝLUẬNCỦACẢICÁCHHÀNHCHÍNH
3
I. Cải cách hành chính Nhà nước 3
II. Mục tiêu cải cách hành chính Nhà nước 4
1. Mục tiêu chung 4
2. Những mục tiêu cụ thể 5
III. Quan điểm của Đảng về cải cách hành chính Nhà nước 6
CHƯƠNG II: ĐÁNHGIÁTHỰCTRẠNGCỦACẢICÁCHHÀNHCHÍNH NHÀNƯỚC
12
1. Thực trạng cải cách hành chính ở Việt Nam 12
2. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém 16
CHƯƠNG III. GIẢIPHÁPCẢICÁCHHÀNHCHÍNHỞ VIỆT NAM
18
KẾTLUẬN
21
MỞĐẦU
Ngày nay, trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và văn hoá, cải cách hành
chính trở thành một trào lưu, là một nhu cầu tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc
gia trên thế giới, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng
2
2
động, hiệu quả, giảm phiền hà, một nền hành chính lấy đối tượng phục vụ làm
tôn chỉ, mục đích chủ yếu,để từđó xây dựng, phát triển vàhoàn thiện nền hành chính.
nhất. Song, do quan điểm vềý thức hệ và tình hình thực tế của các nước khác
nhau nên nội dung, mục tiêu cải cách hành chính cũng khác nhau. Tuy vậy, cải
cách hành chính đều xuất phát từ thực tiễn và phát sinh chủ yếu do nguyên nhân
sau: yêu cầu tất yếu của phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu tất yếu của việc cải
tạo, điều chỉnh của cơ cấu hành chính, kết quả tất yếu của sự tác động của tiến
bộ khoa học vào quản lý hành chính. Những yêu cầu của cải cách hành chính
liên quan mật thiết với nội dung cải cách hành chính, đồng thời liên quan chặt
chẽ với tính chất của cải cách hành chính. Về tính chất, cải cách hành chính là
một sự biến đổi hay cách mạng trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc và quan hệ
sản xuất, có tính chất chính trị và giai cấp rõ rệt. Tuy nhiên, từ góc độ hành
chính thì cải cách hành chính phải phục tùng nhu cầu khách quan của sự phát
triển lực lượng sản xuất xã hội và thúc đẩy khoa học hoá sự quản lý công việc
của toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước, nên nó có tính cộng đồng xã hội nhất
định. Tuy nhiên, tính chất của cải cách hành chính ở các nước có chếđộ xã hội,
kinh tế khác nhau, vẫn có sự khác biệt về bản chất. Tính chất khác biệt chủ yếu
về mặt chính trị, tính cộng đồng biểu hiện ở các khía cạnh sau đây:
- cải cách để thúc đẩy việc khoa học hoá, hiệu suất hoá công việc quản lý
hành chính;
- Cải cách làđể kích thích nhiệt tình công tác và tính tích cực của cán bộ,
công chức, phát huy đầy đủ năng lực sáng tạo của họ.
- Cải cách làđể xây dựng hệ thống quản lý Nhà nước có cơ cấu hợp lý,
công năng đầy đủ, chức năng rõ ràng, tinh giản mà hiệu quả cao, có pháp chê
hoàn bị và cơ chế tự kiểm soát để thích ứng với sự thay đổi phát triển của tình
hình kinh tế xã hội và
Từ những phân tích trên đây, cải cách hành chính có thểđược hiểu một
cách khái quát, chung nhất, đó là:
Cải cách hành chính là hoạt động của Chính phủ căn cứ vào yêu cầu
phát triển kinh tế, chính trị của xã hội mà hiện đại hoá, khoa học hoá, hiệu suất
hoá thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, chếđộ công tác, phương thức quản lýđể
4
tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.
5
5
- Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề
cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát huy
dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy
phạm pháp luật.
2.2. Mục tiêu thứ hai.
Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà,
gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính
mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.
2.3. Mục tiêu thứ ba.
Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch
vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức phi chính phủđảm nhận.
2.4. Mục tiêu thứ tư.
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản
lýđa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã
hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.
Bộ máy của các Bộđược điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức
năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách,
cung cấp dịch vụ công.
2.5. Mục tiêu thứ năm.
Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định
mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương vàđịa phương,
giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền
và tổ chức bộ máy chính quyền ởđô thị và nông thôn.
Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được
do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nền hành chính phải được tổ chức
thành một hệ thống thống nhất ổn định, hoạt động thông suốt, trên cơ sở phân
công, phân cấp và chếđộ trách nhiệm rành mạch, có kỷ cương nghiêm ngặt, cơ
quan hành chính và cán bộ, công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ của
7
7
nhân dân. áp dụng các cơ chế, biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa những hành vi mất
dân chủ, tự do, tùy tiện, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho
dân. Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽ với
bước đi của đổi mới kinh tế, với yêu cầu phát triển đất nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiện
các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật
tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao
đời sống của nhân dân. Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp đòi
hỏi có tầm nhìn bao quát với những giải pháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ cải cách
hành chính với đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách tư pháp. Cải cách hành
chính phải được tiến hành từng bước vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, lựa
chọn khâu đột phá trong từng giai đoạn cụ thể.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã mở ra một
kỷ nguyên mới trong xây dựng, đổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ ngghĩa, mở rộng hợp tác quốc tế. Trên cơ sởđánh
giá, xác định đúng những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế- xã
hội trầm trọng, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã chỉ rõ nguyên nhân
của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc
cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại
hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn
nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà
nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề, đòi hỏi tiếp tục được cải cách, đổi mới.
Tại Đại hội toàn quốc lần VII, đã thông qua nghị quyết chỉ rõ việc tiếp tục
phải cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ cho Nhà nước về sửa
dân chủ, văn minh. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt 3 việc:
- Cải cách thể chế của nền hành chính nhằm đáp ứng từng bước yêu cầu
tăng cường quan hệ gắn bó giữa nhân dân với chính quyền và bảo đảm sự quản
lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
- Chấn chỉnh tổ chức, bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành
chính theo phương hướng và nguyên tắc: Chính phủ và cơ quan hành chính các
9
9
cấp cần được sắp xếp tinh gọn, tập trung làm tốt công tác quản lý nhà nước, phát
triển kinh tế, chăm lo giải quyết các vấn đề văn hoá,xã hội, bảo vệ môi trường,
giữ gìn an ninh và củng cố quốc phòng, mở rộng hoạt động đối ngoại; tăng
cường công tác thanh tra, kiểm tra để mọi thành phần kinh tế kinh doanh đúng
pháp luật.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính. Trong đội ngũ cán bộ,
công chức, ngoài sốđược dân cử theo nhiệm kỳ, lực lượng đông đảo làđội ngũ
cán bộ, công chức cần được tuyển chọn và sử dụng theo hướng chuyên nghiệp
hoá, ổn định, làm việc tận tuỵ và công tâm, cóđủ trình độ, năng lực đáp ứng tiêu
chuẩn quy hoạch cho từng chức danh.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII đã mở ra một giai đoạn
mới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta. Có thể
nói Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII) cóý nghĩa quan trọng thúc đẩy tiến
trình cải cách hành chính của 20 năm đổi mới vừa qua.
Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính
đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện
các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm
1996-2000.
Với tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính được đề ra trong Nghị quyết
Trung ương 8 (khoá VII), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương 3 đặc
biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và
năng lực, coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng bộ máy nhà nước. Cán bộ
lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, được bố trí, điều
động theo nhu cầu và lợi ích của đất nước.
11
11
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII),
đã biểu thị một quyết tâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành cải cách
hành chính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị.
Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã đi đến
khẳng định, trong điều kiện một đảng cầm quyền, việc đổi mới chưa đồng bộ,
toàn diện các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc cải
cách hành chính ở nước ta trong thời gian qua. Không thể tiến hành cải cách
riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của
Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
Cũng không thể cải cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi
mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp.
Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) đề ra chủ trương
tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính
trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả. Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức
trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền
lương.
Tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), bên cạnh
việc tiếp tục khẳng định nhất quán mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước
dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoáđã đưa ra một loạt chủ
trương, giải pháp cóý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới
như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ,
nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan
bộ, công chức khi xử lý công việc, chứng tỏ sự thay đổi về tư duy đó và đang
diễn ra rất tích cực. Hệ thống luật pháp ngày càng chú trọng nguyên tắc công
bằng, bình đẳng giữa cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, cá nhân chịu sự
điều chỉnh. Thói quen nhờ đỡ các mối quan hệ quen biết để giải quyết công việc
cho nhanh gọn của người dân và doanh nghiệp cũng dần hạn chế bởi các chế
13
13
định đã quy định chặt chẽ thời hạn giải quyết công việc và có xu hướng rút dần
thời gian xuống mức thấp nhất.
* Về bộ máy, tổ chức.
- Chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính từ
Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương đến ủy ban nhân dân các cấp đã có nhiều
thay đổi tiến bộ, tập trung nhiều hơn vào quản lý nhà nước;
- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp
được sắp xếp, điều chỉnh, thay đổi theo hướng tinh gọn hơn. Bộ máy hành chính
từ Trung ương đến cơ sở vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn, cùng với
chủ trương hạn chế biên chế từ mấy năm nay, giảm số lượng đầu mối (nơi phát
sinh các thủ tục hành chính) cấp bộ, ngành từ Trung ương đến cơ sở và trong
từng cơ quan, đơn vị. Vấn đề tiền lương cũng được nhìn nhận một cách công
bằng hơn, chế độ tiền lương được cải thiện từng bước trong khả năng của ngân
sách, chính là cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện cải cách hành chính.
- Một số cơ quan Nhà nước đó đi tiên phong trong áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo động lực đáng kể trong cải tiến hoạt
động của bộ máy hành chính Nhà nước.
* Vềđội ngũ cán bộ, công chức.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ công chức bộ máy hành chính nhà nước đã được
nâng lên về mọi mặt, cả về trình độ chính trị lẫn chuyên môn. Việc quản lý, sử
dụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước theo các quy định của Pháp
lệnh Cán bộ, công chức: từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khen
thưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng. Chếđộ, chính sách tiền lương bước đầu
hành chính đã cản trở, gây phiền hà cho nhân dân trong việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác quốc tế, gây ra tệ
cửa quyền, tệ giấy tờ trong guồng máy hành chính và là ''miếng đất'' thuận lợi
cho nạn tham nhũng, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền.
ý thức chấp hành pháp luật hành chính của một bộ phận cán bộ, công chức còn
15
15
yếu, quen giải quyết công việc theo ''lệ'' chứ chưa theo luật, pháp chế xã hội chủ
nghĩa chưa được đảm bảo.
*Về tổ chức, bộ máy hành chính.
- Bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều cửa,
nhiều dấu, chức năng của một số cơ quan còn chồng chéo, chưa rõ ràng, nhiều
khi cản trở lẫn nhau, hạn chế hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính. Có lĩnh
vực thìôm đồm, bao biện, có lĩnh vực và có nơi thì buông lỏng quản lý, dẫn đến
một số cá nhân lợi dụng để trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và
nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ,
sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật rành mạch, triệt để,
cụ thể và phù hợp. Tình trạng chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan cùng
cấp, cấp trên và cấp dưới còn chồng chéo, nhiều khi hạn chế lẫn nhau, dẫn đến
hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp.
- Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với
dân, không nắm chắc được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng,
bịđộng khi xử lý các tình huống phức tạp.
- Phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân
tán, chưa thông suốt; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với
hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ
công;
* Vềđội ngũ cán bộ, công chức.
Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần
bộ của nhiều cơ quan hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhà
nước ở trung ương vàđịa phương; ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, bao
cấp còn đè nặng lên nếp nghĩ, cách làm của không ít cán bộ, công chức; cuộc cải
cách chưa được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng.
17
17
- Bốn là, các chếđộ, chính sách về tổ chức và cán bộ, về tiền lương còn
nhiều điều chưa phù hợp, chưa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách.
- Năm là, những thiếu sót trong công tác chỉđạo của Chính phủ, các Bộ,
ngành trung ương vàủy ban nhân dân các địa phương trong việc tiến hành cải
cách hành chính; sự chỉđạo thực hiện các chủ trương đãđề ra thiếu kiên quyết và
chưa thống nhất.
- Sáu là, cải cách hành chính diễn ra chậm, thiếu sự kiểm tra, đánh giá sát
sao; nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh từđội ngũ cán bộ, công chức từ cấp cao
đến cấp cơ sở chậm được phát hiện xử lý nghiêm minh, kịp thời. Hiện tượng
phát sinh tiêu cực cả một tập thể, ngay từ chính những cán bộ chủ chốt cảở hệ
thống bộ máy Đảng và chính quyền có nơi, cóđịa phương xả ra trầm trọng, gây
bất bình trong dư luận, giảm lòng tin của nhân dân vào chếđộ.
18
18
CHƯƠNG III
GIẢIPHÁPCẢICÁCHHÀNHCHÍNHỞ VIỆT NAM
1. Tiếp tục cải cách, đổi mới hệ thống thể chế hành chính ở các lĩnh vực,
tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, các
lĩnh vực liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế.
- Một là, tập trung hoàn thiện thể chế và phương thức điều hành ở tầm vĩ
mô, tạo môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp thông lệ quốc tế để tạo động lực
lớn cho cơ sở. Đó là tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật, xoá bỏ những quy
định phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế và không phù hợp kinh tế thị
trường. Xây dựng khung khổ pháp luật cạnh tranh, trước hết là các luật cạnh
máy quản lý được gọn nhẹ, năng động, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, bảo
đảm sự điều hành thống nhất, tập trung và thông suốt từ Trung ương đến chính
quyền cấp cơ sở.
3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp, các ngành từ Trung
ương đến cơ sở phù hợp với yêu cầu quản lý hành chính hiện đại, đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế, tận tâm, tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Để xây dựng được đội ngũ cán bộ công chức có lập trường chính trị vững
vàng, trình độ chuyên môn, ý thức và đạo đức nghề nghiệp cao, phù hợp với nền
hành chính hiện đại cần phải tiến hành tích cực các biện pháp sau:
- Một là, tiến hành ngay công tác tuyển chọn, thu hút nhân tài; giản biên
chế những cán bộ công chức không đáp ứng yêu cầu; đào tạo và đào tạo lại để
thường xuyên nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ, công chức, bố
trí lại công việc phù hợp với năng lực và sở trường của từng người. Thường
xuyên có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức cả về lý luận
chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, phục vụ cho hội nhập
kinh tế quốc tế của nước ta.
- Hai là, làm chuyển biến, nâng cao ý thức và thái độ, văn hoá hành chính
phục vụ nhân dân, thực hiện triệt để phương châm ''Dân biết, dân đề xuất, dân
bàn, dân quyết định, dân làm và dân kiểm tra''; tăng cường giám sát đội ngũ cán
20
20
bộ công, chức theo quy định của pháp luật, nâng cao vai trí giám sát nhân dân
của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đối với đội ngũ cán bộ,
công chức đang sinh hoạt tại các địa bàn dân cư.
- Ba là, phải chuẩn hoá lại đội ngũ cán bộ, công chức nhằm thúc đẩy tiến
trình cải cách hành chính. Một trong những “phương thuốc” được xem là khá
hữu hiệu hiện nay là áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 (bộ tiêu chuẩn về quản lý
chất lượng do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ban hành). Bộ tiêu chuẩn này đòi
hỏi mỗi cán bộ, công chức phải được đào tạo căn bản, có hệ thống, đủ trình độ
kỹ năng thích hợp để giải quyết nhanh nhạy, khoa học vấn đề, đáp ứng yêu cầu
thủ tục hành chính không còn phù hợp, cũng như giám sát các cơ quan, cán bộ
cụng chức trong việc chấp hành thủ tục hành chính và quy chế công vụ đã ban
hành. Người dân sẽ cảm nhận hiệu quả của việc cải cách hành chính từ chính
khả năng, thái độ làm việc của cán bộ, công chức hành chính, những người trực
tiếp đúng vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính. Cho nên,
không chỉ là cải tạo cơ sở vật chất, loại bỏ thủ tục rườm rà không cần thiết, làm
trong sạch bộ máy hành chính , cải cách hành chính còn là việc nâng cao khả
22
22
năng chuyên môn, nghiệp vụ và tư tưởng cho bộ máy nhân sự trong các cơ quan
hành chính.
TÀILIỆUTHAMKHẢO
1. Chính phủ, Nghị quyết số 38/CP về cải cách một bước thủ tục hành chính trong
việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức ngày 4/5/1994.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá VIII) ngày 18/6/1997.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá VIII) ngày 16/8/1999.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá IX), ngày 18/3/2002.
5. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg về tiếp tục đẩy mạnh công
các cải cách hành chính, ngày 05/4/2004.
6. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 ngày 17/9/2001.
7. Thủ tướng Phan Văn Khải, Mấy vấn đề lớn về phát triển kinh tế - xã hội năm
2005, Bài phát biểu tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Quốc hội khóa XI.
23
23