Chuyên đề tốt nghiệp :“ Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” - Pdf 19

Chuyên đề tốt nghiệp
“Hoàn thiện hoạt động thanh toán
quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ tại Sở giao dịch – Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam”
11
MỤC LỤC
Lời mở đầu
1. Tính cấp bách của đề tài:
Kể từ khi Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời (năm 1990), hệ thống Ngân hàng
thương mại Việt nam đã đổi mới một cách căn bản về mô hình tổ chức và
22
hoạt động. Các nghiệp vụ và dịch vụ Ngân hàng thương mại hiện đại đã được
mở rộng và phát triển nhanh chóng, trong đó có nghiệp vụ Thanh toán quốc
tế.
Là một mắt xích không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng
chứng tỏ vị trí và vai trò quan trọng của mình. Hoạt động thanh toán quốc tế
không chỉ đơn giản là lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp hay sử
dụng một phương tiện thanh toán thông dụng nào đó. Yêu cầu đặt ra là hoạt
động thanh toán quốc tế phải được thực hiện nhanh chóng, an toàn, chính xác
và đạt hiệu quả đối với cả khách hàng và ngân hàng thương mại. Hoạt động
thanh toán quốc tế trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian chu chuyển
vốn, giảm thiểu rủi ro liên quan tới sự biến động tiền tệ, tới khả năng thanh
toán của khách hàng, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt động
ngoại thương của mỗi nước.
Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế phổ biến
nhất. Đó là phương thức giải quyết tốt nhất việc đảm bảo quyền lợi của cả hai
bên người mua và người bán, nhưng đồng thời cũng lại là phương thức xảy ra
nhiều sự tranh chấp nhất do mức độ phức tạp của nó. Tại Việt Nam, ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên thực hiện hoạt động

dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam qua các năm 2003-2005 để nghiên
cứu.
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
44
Chương 1: Phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế
của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng áp dụng phương thức tín dụng chứng từ trong
thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương.
Chương 3: Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương.
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG
THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
a. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được tổ chức, thành lập và hoạt
động dưới sự kiểm soát, quản lý, điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước, thực
hiện kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động chủ yếu và thường xuyên
là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng tiền gửi đó
để cho vay đầu tư và cung ứng các dịch vụ thanh toán khác nhằm thu lợi
nhuận trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng
nhất trong nền kinh tế, nó không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa như các doanh nghiệp thông thường khác, nhưng nó lại
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này được diễn ra một cách trôi chảy, liên
tục, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
55

Các giấy tờ này có thể là các trái phiếu của ngân hàng, các giấy chứng chỉ tiền
gửi với mệnh giá lớn (CDs) Thông thường việc phát hành các trái phiếu, tín
phiếu phục vụ cho một mục đích sử dụng nhất định, ví dụ như đầu tư cho một
dự án hay một công trình.
Ba là: Vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác.
Ngân hàng thương mại có thể đi vay các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng
nhu cầu thanh khoản của mình. Họ có thể vay qua thị trường liên ngân hàng
hay bằng hình thức vay thương mại.
Bốn là: Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
Cũng giống như trường hợp đi vay các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng
thương mại cũng chỉ vay Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản, để giải quyết những vấn đề cấp bách nảy sinh trong hoạt động ngân
hàng chứ không phải đi vay để cho vay. Vì vậy có thể nói “Ngân hàng Nhà
nước là cứu cánh của Ngân hàng thương mại”. Ngân hàng thương mại vay
Ngân hàng Nhà nước bằng cách chiết khấu hay tái chiết khấu thương phiếu,
quy mô vay bị tác động bởi lãi suất chiết khấu và lãi suất chiết khấu cao hay
thấp lại phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà Ngân hàng Nhà nước đang áp
dụng là thắt chặt hay nới lỏng.
Trên đây là các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Nếu như
các hoạt động huy động vốn làm ngân hàng phải mất chi phí thì các hoạt động
sử dụng vốn sau đây sẽ đem lại doanh thu cho Ngân hàng.
+ Các hoạt động sử dụng vốn.
Ngân hàng có các hình thức sử dụng vốn sau:
Một là: hoạt động ngân quỹ.
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động liên quan đến chi trả hàng ngày cho khách
hàng. Ngân hàng luôn phải giữ lại một khoản tiền nhất định (gọi là tiền tại
77
quỹ) để chi trả, và ngân hàng cũng có thể thanh toán với khách hàng bằng tiền
gửi ở Ngân hàng Nhà nước là tiền dự trữ bắt buộc hay tiền gửi thanh toán.
Các khoản này kém sinh lời nhất, thậm chí không sinh lời, chỉ nhằm đáp ứng

tiền hàng hóa dịch vụ cho khách hàng. Ngân hàng còn cung cấp cho khách
hàng một hệ thống công cụ thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… giúp cho khách hàng thuận tiện hơn
rất nhiều trong thanh toán, tiết kiệm được thời gian và chi phí, đồng thời đảm
bảo việc thanh toán được an toàn.
Bên cạnh thanh toán trong phạm vi quốc gia, việc thực hiện hoạt động thanh
toán quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện nền kinh tế ngày
càng có xu thế mở cửa hội nhập, quá trình trao đổi lưu thông hàng hóa giữa
các đối tác ở các nước khác nhau ngày càng nhiều. Trong hoạt động xuất nhập
khẩu, ngoài việc hỗ trợ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, ngân hàng còn
đứng ra làm trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp. Việc thanh toán
giữa hai bên được thực hiện qua hệ thống ngân hàng bằng các phương thức
được thỏa thuận thuận tiện nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi của cả hai
bên xuất nhập khẩu, góp phần mở rộng quan hệ ngoại thương giữa các nước.
Trên đây là ba hoạt động không thể thiếu của bất cứ một Ngân hàng thương
mại nào. Ngoài ra, để tăng tính cạnh tranh, Ngân hàng thương mại còn có một
số hoạt động khác.
+ Các hoạt động khác.
Hầu hết các Ngân hàng thương mại hiện nay đều thực hiện nghiệp vụ liên
quan tới chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư, tự doanh, bảo lãnh cam kết
phát hành chứng khoán, lưu trữ, thanh toán chứng khoán… Ngoài ra, theo
Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại còn được thực hiện một số
2 LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông sè 07/1997/QHX
99
hoạt động như góp vốn mua cổ phần, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại
hối, vàng và các giấy tờ có giá, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực
liên quan đến hoạt động ngân hàng, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, tư vấn,
bảo quản…
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn
nhau, trong đó hoạt động huy động vốn là cơ sở để thực hiện hoạt động sử

tệ mạnh có khả năng tự do chuyển đổi như đồng USD, đồng EUR, đồng GBP,
đồng FRF, đồng JPY, đồng DEM. Trong đó đồng USD và EUR vẫn giữ vai
trò chủ đạo trong thanh toán quốc tế bởi sự nhanh chóng và tiện lợi trong việc
thực hiện các giao dịch này.
Thanh toán quốc tế chủ yếu là thanh toán qua chứng từ, tách rời với sự di
chuyển của hàng hoá từ nước người bán đến nước người mua. Thanh toán
quốc tế có quan hệ trực tiếp đến cả bên mua lẫn bên bán. Nếu công tác thanh
toán quốc tế được làm tốt sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát
triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động ngoại thương.
Hiện nay phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiện thông
qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu).
Theo thống kê của tổ chức này thì có tới 72% các giao dịch tài chính tiền tệ
quốc tế hàng ngày được thực hiện qua SWIFT. Phần còn lại được thực hiện
thông qua con đường điện tín, bưu điện dưới hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ
lẫn nhau giữa các ngân hàng. Tỉ lệ trả bằng tiền mặt trong thanh toán quốc tế
chiếm một phần không đáng kể.
Xuất phát từ nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, các doanh nghiệp
luôn luôn có xu hướng mở rộng thị trường của mình ra bên ngoài, từ đó hình
thành các quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước khác nhau. Mỗi nước có sự
1111
khác nhau về chế độ chính trị, môi trường pháp luật, phong tục tập quán cũng
như khoảng cách địa lý, bên cạnh đó còn có những bất đồng về ngôn ngữ,
tiềm lực tài chính của các đối tác và hệ thống tiền tệ khác nhau khiến cho
quan hệ mua bán thanh toán giữa các nước rất phức tạp và thường xuyên xảy
ra rủi ro bất trắc. Để giải quyết những vướng mắc này cần có một trung gian
tài chính đứng ra đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên và Ngân hàng thương mại
với hoạt động thanh toán quốc tế của mình đã đáp ứng được đòi hỏi đó. Hoạt
động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại là một mắt xích không
thể thiếu được trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại
thương. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động

Thanh toán quốc tế giúp ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng
tài trợ xuất nhập khẩu, phát triển các nghiệp vụ liên quan như kinh doanh
ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác.
Thanh toán quốc tế đem lại khoản thu phí dịch vụ quan trọng: hoạt động
thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng về giao dịch,
từ đó tăng quy mô hoạt động và thị phần của mình trên thị trường.
Thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng: trong quá trình
thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng thương
mại luôn có một nguồn tiền tập trung chờ thanh toán. Nguồn tiền này tương
đối ổn định và phát sinh thường xuyên, là một nguồn nâng cao khả năng
thanh khoản cho ngân hàng.
Thực hiện thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại có thể tạo ra được vòng
tròn dịch vụ khép kín, từ đó đảm bảo các nghiệp vụ ngân hàng có liên quan
đến nhau như tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ
được giám sát, theo dõi kỹ lưỡng bởi nhiều phòng ban khác nhau, hạn chế rủi
1313
ro. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn nắm được tình hình kinh doanh của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý có hiệu quả
hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính sách kinh tế đối ngoại
mà Nhà nước đề ra.
Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại: thông qua việc bảo
lãnh cho khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng thương mại sẽ có quan hệ đại lý với ngân hàng và đối tác nước ngoài.
Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời gian hoạt động
nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng rộng mở.
Tóm lại, có thể khẳng định, hoạt động thanh toán quốc tế là một hoạt động
trung gian của Ngân hàng thương mại, có tác dụng mang lại thu nhập, hỗ trợ
các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại, giúp cho quá trình thanh toán
của khách hàng được nhanh chóng, đảm bảo. Điều này được thể hiện rõ hơn
khi nghiên cứu đến các phương thức thanh toán quốc tế.

- Ưu điểm: Thủ tục hết sức đơn giản, không có chứng từ phức tạp,
rườm rà, người mua và người bán không phải tiến hành thanh toán trực
tiếp với nhau.
- Nhược điểm: Độ an toàn trong thanh toán không cao, không đảm
bảo quyền lợi cho người bán, hàng đã chuyển nhưng việc trả tiền phụ
thuộc vào thiện chí của người mua. Trong trường hợp người mua chuyển
tiền trước khi giao hàng mà vì một lý do nào đấy, việc giao hàng của
người bán chậm trễ, hoặc không đúng theo yêu cầu thì người mua sẽ ứ
đọng vốn. Vì vậy, phương thức này chủ yếu áp dụng để thanh toán phi
mậu dịch, các chi phí liên quan đến trả nợ, bồi thường, còn nếu áp dụng
trong thanh toán xuất nhập khẩu thì chủ yếu đối với khách hàng quen
biết, có tín nhiệm cao.
b. Phương thức nhờ thu
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán
sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ cho khách
hàng sẽ ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên
cơ sở hối phiếu của người bán lập ra.
Các bên tham gia phương thức nhờ thu gồm có:
- Người bán tức là người hưởng lợi (Principal)
- Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận sự uỷ thác của người bán
(Remitting Bank)
NH đại lýNH chuyển tiền
Người chuyển tiền
Người hưởng lợi
1515
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người
mua. (Collecting Bank and/or Presenting Bank).
- Người mua tức là người trả tiền (Drawee)
Có hai loại nhờ thu là nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Một là: Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection).

gửi hàng và chứng từ
Người muaNgười bán
1616
• Ưu nhược điểm của phương pháp này:
Phương pháp nhờ thu không kèm chứng từ tuy có ưu điểm là thanh toán
tương đối nhanh, thực hiện đơn giản nhưng có nhược điểm là không đảm bảo
quyền lợi cho người bán vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời
khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng mà không trả tiền
hay trả tiền chậm. Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có bất
lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ thì người mua phải trả tiền ngay
trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng theo hợp đồng hay
không.
Như vậy, với phương pháp này, tính an toàn đối với cả người xuất khẩu và
nhập khẩu đều thấp, tốc độ thanh toán chậm. Do vậy, nó ít được sự dụng
trong thanh toán quốc tế, có chăng chỉ là thanh toán các chi phí vận tải, bảo
hiểm, hoa hồng, lợi tức hoặc khi hai bên mua và bán tin cậy lẫn nhau hoặc
hai bên cùng nội bộ công ty với nhau (công ty mẹ và công ty con).
Hai là: Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection)
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân
hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn
cứ vào bộ chứng từ gửi hàng gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả
tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để
nhận hàng
Trong phương thức này, điểm khác biệt cơ bản với nhờ thu phiếu trơn là
người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn khống chế
bộ chứng từ hàng hoá đối với người nhập khẩu. Với cách khống chế chứng từ
này, quyền lợi của người bán sẽ được đảm bảo hơn.
• Trình tự tiến hành:
Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu
phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ

Tóm lại, với phương thức này, việc ngân hàng khống chế các chứng từ hàng
hoá khiến cho quyền lợi của người xuất khẩu cũng được bảo đảm hơn phương
thức nhờ thu phiếu trơn và chuyển tiền, thời gian thanh toán thì ngắn hơn và
chi phí ít hơn so với phương thức thanh toán bằng thư tín dụng. Do vậy,
phương thức này được sử dụng trong phương thức xuất nhập khẩu với những
hợp đồng có giá trị nhỏ và thanh toán dịch vụ đối với các khách hàng quen và
tin cậy.
c. Phương thức tín dụng chứng từ (L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng
(ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở
thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng
lợi của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong
phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ
phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Một công cụ vô cùng
quan trọng không thể thiếu được trong phương thức tín dụng chứng từ là thư
tín dụng, nếu không mở được thư tín dụng thì phương thức thanh toán này
cũng không được xác lập.
1818
Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) là một bản cam kết dùng trong thanh
toán, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phục vụ người nhập khẩu) theo yêu
cầu của người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến cho ngân hàng ở nước
ngoài (ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) một L/C cho người hưởng (người
xuất khẩu), cam kết sẽ thanh toán một số tiền nhất định trong phạm vi thời
hạn quy định, với điều kiện người hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ
phù hợp với những nội dung, điều kiện quy định như trong Thư tín dụng.
Trên đây là những nội dung cơ bản về các phương thức thanh toán quốc tế
hiện nay. Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là do hai bên xuất nhập
khẩu quyết định dựa trên các điều kiện cụ thể nhằm thoả mãn quyền lợi của
cả hai phía. Tuy nhiên, phương thức tín dụng chứng từ vẫn chiếm ưu thế, là
một phương thức thanh toán chủ yếu. Điều này sẽ được khẳng định khi đi sâu

hưởng lợi.
1.2.2 Các hình thức thư tín dụng chủ yếu
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có ưu việt hơn hẳn những phương
thức thanh toán quốc tế khác. Tuy vậy, hiệu quả của phương thức này sẽ được
thể hiện đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại Thư tín dụng phù hợp với yêu
cầu của từng tình huống cụ thể trong mối quan hệ thương mại quốc tế nảy
sinh giữa các bên.
Theo quy ước quốc tế, Thư tín dụng bao gồm nhiều loại. Có thể phân biệt
chúng dưới các giác độ khác nhau dưới đây:
Căn cứ vào tính chất: có các loại Thư tín dụng sau:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): là thư tín dụng mà sau khi
L/C được mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hàng sửa đổi, bổ sung
2020
hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của người hưởng lợi
L/C.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): là loại Thư tín dụng
mà sau khi được mở thì người yêu cầu mở Thư tín dụng sẽ không được tự ý
sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếu không được sự đồng
ý của người hưởng Thư tín dụng . Để đảm bảo được tính chất và tác dụng của
Thư tín dụng , ngày nay hầu hết Thư tín dụng được mở theo hình thức không
huỷ ngang.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Irrevocable confirmed
L/C): là loại Thư tín dụng không thể huỷ ngang được một ngân hàng thứ ba
đứng ra đảm bảo thanh toán bên cạnh ngân hàng phát hành Thư tín dụng. Loại
Thư tín dụng này thường được dùng khi hai bên mua-bán chưa có quan hệ tín
nhiệm nhau, người bán chưa tin tưởng vào uy tín của người mua cũng như
chưa tin tưởng vào uy tín của ngân hàng phát hanh.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có thể chuyển nhượng (irrevocable
transferable L/C): là loại Thư tín dụng không huỷ ngang trong đó quy định
quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng mở Thư tín

dụng trong mua bán hàng hoá qua trung gian, khi người bán cuối cùng hoặc
người mua không chấp nhận một Thư tín dụng chuyển nhượng.
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại Thư tín dụng không thể huỷ
ngang chỉ có hiệu lực khi có một Thư tín dụng đối ứng với nó cũng được mở.
Loại Thư tín dụng thường được sử dụng khi hai bên mua bán có quan hệ mua
bán hàng đổi hàng hoặc gia công hàng hoá.
2222
(2)
Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
Người nhập khẩu Người xuất khẩu
(5)
(6)
(4)
(1) (7) (8) (3) (5) (6)
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại Thư tín dụng không thể huỷ
ngang, sau khi sử dụng xong hoặc đã hết hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị
như cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị được thực
hiện hoàn tất. Thư tín dụng tuần hoàn thường được sử dụng khi các bên tin
cậy lẫn nhau, mua hàng thường xuyên theo định kỳ.
- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại Thư tín dụng có điều
khoản đặc biệt, trong đó người hưởng Thư tín dụng thông qua ngân hàng phát
hành đồng ý ứng trước một số tiền nhất định cho người hưởng trước khi họ
xuất trình đầy đủ chứng từ hợp lệ theo đúng thời gian quy định. Loại Thư tín
dụng này thường được sử dụng trong quan hệ mua bán giữa công ty mẹ-con,
tài trợ cho người bán để chuẩn bị hàng hoá.
- Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C) là loại Thư tín dụng do ngân hàng của
người xuất khẩu phát hành trong đó cam kết với người nhập khẩu là sẽ thanh
toán cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng theo như Thư tín dụng đã quy định.
1.2.3 Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ

(1) Hối phiếu (Draft): theo công ước quốc tế về Hối phiếu (Uniform Law for
Bills of Exchange – ULB) năm 1930, Hối phiếu được hiểu là một tờ lệnh trả
tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này
khi nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày nhất định ghi trên hối phiếu phải
trả một số tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này
trả cho người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu.
(2) Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice): là chứng từ do người bán lập
để đòi tiền người mua, chứa đựng những thông tin quan trọng về chuyến hàng
như tên hàng, số lượng, đơn giá, giá trị thanh toán Đây được coi là một
trong những chứng từ quan trọng nhất, không thể thiếu trong những chứng từ
xuất trình.
(3) Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin): là chứng từ chỉ rõ nguồn gốc,
xuất xứ của hàng hoá xuất khẩu. Chứng từ này thường do Phòng Thương mại
cấp trên cơ sở kê khai của người bán hoặc một bên trung gian nào đó.
(4) Chứng nhận bảo hiểm (Certificate of Insurance): Chứng từ này do công ty
Bảo hiểm hoặc đại lý của họ lập ra để bảo hiểm cho lô hàng xuất nhập khẩu
dựa trên hợp đồng bảo hiểm và tuỳ thuộc vào điều kiện giao hàng.
(5) Chứng từ vận tải:
Vận đơn đường biển (Bill of Lading), vận đơn hàng không (Airway Bill) hoặc
vận đơn đường sắt (Railway Bill): là chứng từ được hãng vận tải phát hành, là
bằng chứng về việc giao hàng của người bán. Đối với phương thức giao hàng
bằng đường biển thì vận đơn được xem là chứng từ quan trọng nhất, vừa là
bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở, vừa là biên lai của Người chuyên
chở xác nhận đã nhận hàng, vừa là chứng từ xác thực quyền sở hữu đối với
hàng hoá. Chứng từ vận tải thường có những nội dung như tên tàu, số vận
đơn, ngày phát hành vận đơn
2525

Trích đoạn Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Đối với Ngân hàng Nhà nước Đối với khách hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status