Báo cáo thực tập “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền bắc” - Pdf 19

Báo cáo thực tập
“Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu
động tại xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền
bắc”
Mục lục
Trang
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
Lời nói đầu 3
Chương 1: Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
trong các doanh nghiệp 5
1. Khái niệm và kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp 5
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp 5
1.2. Khái niệm TSLĐ và sự cần thiết phải quản lý TSLĐ 6
1.3. Kết cấu TSLĐ 8
1.4. Vai trò của TSLĐ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh 8
1.5. Nguồn tài trợ TSLĐ của doanh nghiệp 9
2. Phương pháp đánh giá và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng TSLĐ 10
2.1. Hiệu quả sử dụng TSLĐ 10
2.2. Phương pháp đánh giá 11
2.2.1. Phương pháp so sánh 11
2.2.2. Phương pháp tỷ số 13
2.3. Nội dung quản lý TSLĐ 17
2.3.1. Quản lý dự trữ tồn kho 17
2.3.2. Quản lý ngân quỹ và các chứng khoán thanh khoản cao 20
2.3.3. Quản lý các khoản phải thu 25
3. Các nhân tố ảnh hưởng và những biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng TSLĐ 29
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSLĐ 29
3.2. Các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ 32
Chương 2: Thực trạng sử dụng TSLĐ tại xí nghiệp kinh doanh các

Nhận xét của đơn vị thực tập 82
Tài liệu tham khảo 83
Lời nói đầu
3
3
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong những năm gần
đây, các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đang có những bước phát triển mới
và đóng góp phần nào trong sự phát triển chung của đất nước. Riêng đối với
doanh nghiệp nhà nước, quá trình quản lý doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi
kể từ khi chuyển đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường. Trong thời kỳ bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn sản xuất
theo kế hoạch mà nhà nước giao cho nên hoạt động của nó rất trì trệ và mang
tính thụ động. Song kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh
nghiệp nhà nước phải tự định hướng cho hoạt động của mình, chủ động trong
các kế hoạch sản xuất. Với môi trường kinh doanh ngày càng mang tính cạnh
tranh và có nhiều biến động, các doanh nghiệp luôn phải có những chính sách
quản lý phù hợp để đạt được mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Trình độ quản lý là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển
doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu của mình, mỗi doanh nghiệp phải quản
lý và sử dụng nguồn vốn cũng như tài sản của doanh nghiệp mình một cách
có hiệu quả. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà trong thời gian thực tập tại xí nghiệp kinh doanh các
sản phẩm khí miền bắc, em đã đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản
lưu động và lựa chọn đề tài : “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
lưu động tại xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền bắc” với mong
muốn đưa ra được những biện pháp để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả sử
dụng tài sản lưu động tại xí nghiệp.
Trong luận văn này em đã tiếp cận vấn đề từ việc đưa ra những lý luận
về phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, rồi tìm hiểu thực

5
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
CHƯƠNG 1
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
LƯU ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
*********
1. Khái niệm và kết cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp:
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt
động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo
Luật doanh nghiệp của Việt Nam thì doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh, tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể
kinh doanh sau: kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn, công ty. Các doanh
nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp
tư nhân.
Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều
hướng tới mục tiêu là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên để
đạt được mục đích này thì không phải là dễ, đặc biệt là trong nền kinh tế thị
trường hiện nay. Mỗi doanh nghiệp đều phải chịu sự tác động của hàng loạt
các yếu tố như: sự phát triển của công nghệ tạo ra các phương thức sản xuất,
6
6
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
phương thức quản lý mới; chịu sự ràng buộc của hệ thống pháp luật bao gồm

vốn. Nó là yếu tố không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinh
doanh.
Vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang
nắm giữ. Tài sản và vốn là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận nguồn
lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh. Do
vậy quản lý vốn và tài sản trở thành một trong những nội dung quan trọng của
quản trị tài chính. Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý vốn và tài sản là đảm
bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh
tế cao nhất. Tài sản trong doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu
động, trong đó giá trị các tài sản lưu động của các doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng.
Đối với tài sản lưu động chúng ta có thể hiểu đó là những tài sản sử dụng
cho quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, có thời gian sử dụng,
luân chuyển, thu hồi trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản lưu
động liên tục vận động, chu chuyển trong chu kỳ kinh doanh nên nó tồn tại ở tất
cả các khâu, các lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất của một doanh nghiệp.
Quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động (TSLĐ) có ảnh hưởng rất
quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp đó.
Các doanh nghiệp cần phải quản lý tốt và có hiệu quả TSLĐ vì:
- TSLĐ có thời gian luân chuyển ngắn, thường xuyên biến đổi, nhạy
cảm với những biến đổi của thị trường, của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sử dụng TSLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lý tốt TSLĐ sẽ góp phần giảm chi phí giá
thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
- Xác định nhu cầu tài sản lưu động hợp lý trong mối tương quan với
nhu cầu tài sản cố định, từ đó tránh được tình trạng dư thừa hay thiếu hụt
8
8
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
TSLĐ; sử dụng TSLĐ một cách hợp lý, tiết kiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất

1.4. Vai trò của TSLĐ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh:
TSLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất.
Trong cùng một lúc, TSLĐ của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai
đoạn luân chuyển. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục doanh
nghiệp cần phải đảm bảo đủ về nhu cầu TSLĐ. Nếu không quá trình sản xuất
sẽ bị gián đoạn, gặp nhiều trở ngại, tăng chi phí hoạt động và dẫn tới kết quả
kinh doanh không tối ưu.
Trong quá trình theo dõi sự vận động của TSLĐ, doanh nghiệp quản lý
gần như được toàn bộ các hoạt động diễn ra trong chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Vì vậy mà TSLĐ có ảnh hưởng lớn đến việc thiết lập chiến lược sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Quy mô TSLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất. Với một
quy mô TSLĐ hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí, tăng hiệu
quả hoạt động, từ đó tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Ngoài ra cơ cấu TSLĐ còn thể hiện phần nào tình hình tài chính hiện tại
của doanh nghiệp. Cụ thể: khả năng sinh lời của các khoản đầu tư ngắn hạn,
tính an toàn cao hay thấp của các khoản phải thu, mức độ phụ thuộc của
doanh nghiệp đối với sự biến động của thị trường (nguyên, nhiên vật liệu,
hàng hoá,…).
1.5. Nguồn tài trợ TSLĐ của doanh nghiệp:
Để tài trợ cho TSLĐ người ta có thể sử dụng nhiều nguồn khác nhau.
Điều quan trọng là xác định hợp lý từng nguồn để có thể kiểm soát và sử dụng
một cách có hiệu quả. Sự hiệu quả được thể hiện ở việc giảm chi phí tài trợ,
tạo sự phù hợp giữa chu kỳ của TSLĐ và kỳ hạn nguồn tài trợ. Có hai nguồn
tài trợ chính cho TSLĐ của một doanh nghiệp là:
10
10
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
Nguồn tài trợ ngắn hạn: bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng, tạo vốn bằng
cách bán nợ, chiết khấu thương phiếu và các khoản vốn chiếm dụng của các

sử dụng TSLĐ. Bởi nó giúp doanh nghiệp giảm chi phí, không phải tài trợ
thêm cho TSLĐ khi mở rộng quy mô, từ đó tăng lợi nhuận và đáp ứng đầy đủ,
thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Tốc độ luân chuyển cao của TSLĐ trong quá trình sản xuất. Đây cũng là
biểu hiện của hiệu quả sử dụng TSLĐ vì khi TSLĐ có tốc độ luân chuyển cao
thì khả năng thu hồi vốn cao và nhanh, tiếp tục tái đầu tư cho kỳ sản xuất tiếp
theo, chớp được cơ hội kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh.
Mặt biểu hiện nữa là khả năng sinh lời và khả năng sản xuất của TSLĐ
phải cao, không ngừng tăng so với ngành và giữa các thời kỳ. Điều này có nghĩa
là một đồng giá trị TSLĐ phải đem lại một khoản doanh thu cao (thể hiện khả
năng sản xuất) và một khoản lợi nhuận cao (thể hiện khả năng sinh lời).
Ngoài ra hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp còn là việc doanh
nghiệp có một kết cấu tài sản hợp lý cùng với một kết cấu tối ưu của TSLĐ.
2.2 . Phương pháp đánh giá:
.2.1. Phương pháp so sánh:
Ngoài việc quan sát, thu thập, thống kê số liệu, tài liệu liên quan thì để
phân tích và đánh giá được hiệu quả sử dụng TSLĐ có nhiều phương pháp
trong đó có thể sử dụng hai phương pháp là phương pháp so sánh và phương
pháp tỷ số.
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân
tích hoạt động kinh doanh. Khi sử dụng phương pháp này thì chúng ta phải
lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh. Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ
được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh. Tuỳ theo mục
12
12
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
đích của nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp. Các gốc so sánh có
thể là:
- Tài liệu của năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát triển
của các chỉ tiêu.

hiện theo ba hình thức:
- So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan
hệ tương quan giữa các giữa các chỉ tiêu từng kỳ của các báo cáo kế toán tài
chính, nó còn được gọi là phân tích theo chiều dọc.
- So sánh theo chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định các tỷ lệ
và chiều hướng biến động giữa các kỳ trên báo cáo kế toán tài chính.
- So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu: các chỉ tiêu
riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo được xem xét trong mối
quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem
xét nhiều kỳ để cho ta thấy rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng
nghiên cứu.
Các hình thức sử dụng kỹ thuật so sánh trên thường được phân tích trong
các báo cáo kế toán tài chính, nhất là bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, bảng cân đối kế toán và bảng lưu chuyển tiền tệ là các báo cáo tài
chính định kỳ quan trọng của doanh nghiệp.
Trong chuyên đề này, việc sử dụng phương pháp so sánh để nghiên
cứu được áp dụng cả sử dụng cả so sánh bằng số tuyệt đối, tương đối với số
liệu được thu thập trong ba năm 2000, 2001, 2002; hình thức so sánh là so
sánh theo chiều ngang, so sánh kết quả năm sau so với năm trước để thấy
được tình hình hoạt động của doanh nghiệp cũng như xu hướng phát triển
14
14
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
của nó và so sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng, kết cấu của các
thành phần trong TSLĐ.
2.2.2. Phương pháp tỷ số:
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để
phân tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu
khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán - tài chính

Với thời gian của kỳ phân tích được quy ước là 1 năm tương ứng với 360
ngày; 1 quý tương ứng với 90 ngày; 1 tháng tương ứng với 30 ngày. Thời
gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn,
hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao. Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của
trình độ kinh doanh, công tác quản lý và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Khả năng sinh lời TSLĐ:

Khả năng sinh lời=

LNST
TSLĐ

TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của TSLĐ. Nó cho biết mỗi đơn
vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
- Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành:

Khả năng thanh toán=

TSLĐ
hiện hành Nợ ngắn hạn
TSLĐ ở đây thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ
chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho);
còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương

Doanh thu
Tiền + chứng khoán dễ chuyển nhượng
Tỷ số này được xác định bằng cách chia doanh thu trong năm cho tổng số
tiền và các loại tài sản tương đương tiền bình quân (chứng khoán ngắn hạn dễ
chuyển nhượng). Tỷ số này cho biết số vòng quay của tiền trong một năm. Nếu
tỷ số này càng lớn chứng tỏ trong một năm TSLĐ của doanh nghiệp quay được
nhiều vòng hơn và doanh nghiệp sử dụng TSLĐ có hiệu quả hơn.
- Thời gian vòng quay tiền:

Thời
gian vòng=

Số ngày trong kỳ
quay tiền Số vòng quay tiền
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để tiền chu chuyển được một
vòng. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao và ngược lại.
- Vòng quay dự trữ, tồn kho:
Vòng quay dự trữ

=

Doanh thu
Giá trị dự trữ bình quân
Đây là chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vòng quay dự trữ được xác định bằng tỷ số giữa
17
17

hoạt động một cách liên tục. Hàng hoá tồn kho bao gồm ba loại: nguyên liệu
thô, sản phẩm dở dang và sản phẩm hoàn thành. Nguyên liệu thô là những
nguyên liệu và bộ phận, linh kiện rời do các doanh nghiệp mua và sử dụng
trong quá trình sản xuất.
18
18
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
Trong sản xuất nếu các doanh nghiệp mua nguyên liệu với số lượng quá
lớn hay quá nhỏ đều không đạt hiệu quả tối ưu bởi nếu mua với số lượng quá
lớn thì doanh nghiệp sẽ phải chịu nhiều chi phí tồn trữ và rủi ro do hàng hoá
bị hư hao, mất mát. Mặt khác nếu mua hàng hoá với số lượng quá nhỏ có thể
dẫn đến gián đoạn sản xuất và làm tăng những chi phí không cần thiết và
không đạt hiệu quả cao.
Do đó doanh nghiệp sẽ có lợi khi mua vừa đủ nguyên liệu để tạo ra một
miếng đệm an toàn giữa cung ứng và sản xuất. Tồn kho trong quá trình sản
xuất là các loại nguyên liệu nằm trong từng công đoạn của dây chuyền chế
tạo. Thông thường không thể có sự đồng bộ hoàn toàn giữa các công đoạn sản
xuất của doanh nghiệp bởi các bộ phận sản xuất không thể có cùng công suất
hoạt động trong mọi thời điểm. Bởi vậy mỗi công đoạn sản xuất đều có một
lượng tồn kho riêng. Nếu không có một lượng nguyên liệu hay bán thành
phẩm dự trữ nào đó thì một công đoạn sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào các bộ
phận đứng trước nó. Do đó các loại nguyên vật liệu tồn kho có tác dụng tạo ra
sự thông suốt và tính hiệu quả trong quá trình sản xuất. Dây chuyền sản xuất
càng dài và các công đoạn sản xuất càng nhiều sẽ dẫn tới nhu cầu tồn kho
càng lớn.
Khi tiến hành sản xuất xong, hầu như các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ
hết sản phẩm, phần thì do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, phần
do phải có đủ lượng hàng mới xuất được. Lúc này sản phẩm hoàn thành tồn
kho tạo ra khoảng an toàn cần thiết giữa sản xuất và tiêu thụ. Những doanh
nghiệp có đặc điểm kinh doanh mang tính mùa vụ và có quy trình chế tạo tốn


Q

C
1
2
Chi phí đặt hàng (chi phí hợp đồng) bao gồm chi phí quản lý giao dịch
và vận chuyển hàng hoá. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn
định không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua. Nếu gọi D là toàn bộ
lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian (năm, quý, tháng) thì
số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q và gọi C
2
là chi phí mỗi lần đặt
hàng thì tổng chi phí đặt hàng (T
2
) sẽ là:

T
2

=

D

C
2
Q
Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta sẽ có: TC = T
1
+ T

C
1
Vậy Q
*
sẽ là lượng hàng hoá dự trữ tối ưu.
Điểm đặt hàng mới: Về mặt lý thuyết người ta có thể giả định là khi nào
lượng hàng kỳ trước hết mới nhập kho lượng hàng mới. Trong thực tiễn hoạt
động hầu như không có doanh nghiệp nào để đến khi nguyên vật liệu hết rồi
mới đặt hàng. Nhưng nếu đặt hàng quá sớm sẽ làm tăng lượng nguyên liệu
tồn kho. Do vậy các doanh nghiệp cần phải xác định thời điểm đặt hàng mới.
Thời điểm đặt hàng mới được xác định bằng số lượng nguyên liệu sử dụng
mỗi ngày nhân với độ dài của thời gian giao hàng.
Trong thực tế nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phải là số cố định
mà chúng luôn biến động không ngừng, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp
sản xuất mang tính thời vụ hoặc sản xuất những hàng hoá nhạy cảm với thị
trường. Do đó để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp cần phải
duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn là lượng
hàng hoá dự trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời điểm đặt hàng. Lượng dự trữ an
toàn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp.
2.3.2. Quản lý ngân quỹ và các chứng khoán thanh khoản cao:
2.3.2.1. Sự cần thiết của việc giữ tiền mặt:
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng. Nó được dùng để trả lương, mua nguyên vật liệu,
mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ,…
Tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt rất thấp, thậm chí tỷ lệ sinh lời trên
tiền giấy trong két của doanh nghiệp và tiền trong tài khoản bảo chi có tỷ lệ
sinh lời bằng không. Trong khi đó sức mua của tiền tệ luôn có khuynh hướng
21
21
Các chứng khoán thanh khoản cao

Như vậy chúng ta thấy tuy rằng tiền mặt tại quỹ và tiền gửi trong tài
khoản bảo chi của doanh nghiệp tại ngân hàng không sinh lời nhưng việc nắm
giữ nó là rất cần thiết và điều cần thiết là chúng ta phải giữ một lượng vừa đủ
để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì tốt đồng
thời lại không gây lãng phí cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng sinh lời cho
doanh nghiệp là lớn nhất.
2.3.2.2. Nội dung quản lý ngân quỹ và chứng khoán thanh khoản cao:
a/ Xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu (theo mô hình Baumol):
Người đầu tiên vận dụng mô hình EOQ vào quản trị tiền mặt là nhà
khoa học người Hoa Kỳ William J. Baumol (1952). Mô hình này cho rằng
mỗi doanh nghiệp đều có một dòng lưu kim thuần ổn định, là kết quả của
dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim thu nhập trên phương diện kế hoạch.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền mặt và dùng
nó để trả cho các hoá đơn một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt này hết,
doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để
lại có lượng tiền như ban đầu.
Có hai loại chi phí cần được xem xét trong trường hợp này: thứ nhất là
khoản thiệt hại tiền lãi do số tiền được giữ dưới dạng tiền mặt hoặc chính là
chi phí cơ hội cho việc lưu giữ tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp và thứ hai là
chi phí trong mỗi lần giao dịch chứng khoán.
23
23
Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thu Hồng
Nếu ta gọi M là cán cân tiền mặt thì cán cân tiền mặt trung bình (mức dự
trữ tiền mặt trung bình) là M/2. Vậy số tiền lãi bị bỏ qua do duy trì cán cân
tiền mặt trung bình (C
1
) là:
1
+ C
2
TC=

M
i +

M
n

i
2 M
Tổng chi phí sẽ nhỏ nhất khi : M
*

=

2.M
n
.C
b i
Vậy M
*

khoản phải chi trả trong tháng đó rồi tổng hợp các khoản chi đó lại.
Dựa trên số liệu về thu chi tiền mặt trong từng tháng, doanh nghiệp
có thể hoạch định ngân sách dự kiến. Doanh nghiệp sẽ tính chênh lệch
giữa tổng thu và tổng chi tiền mặt trong từng tháng rồi cộng với số dư tiền
mặt đầu tháng sẽ được số dư tiền mặt cuối tháng. So sánh số dư này với
mức tiền mặt trong quỹ cần duy trì để thấy được trong tháng đó ngân quỹ
của doanh nghiệp thừa hay thiếu so với mục tiêu để từ đó doanh nghiệp có
25
25

Trích đoạn Các nhân tố ảnh hưởng và những biện pháp nhằm nâng cao hiệu Một số kiến nghị với công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status