Cơ sở lập luận trong Tuyên Ngôn
Độc Lập
Có thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch
Hồ Chí Minh, trước hết, là học tập cách viết và cách
lập luận chặt chẽ qua từng câu chữ, mỗi trang văn
chính luận. Những văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án chế độ thực
dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng
văn mẫu mực về phong cách ngôn ngữ ngắn gọn,
chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc.
Dù viết trong hoàn cảnh nào, và bằng thứ tiếng nào,
văn chính luận Việt nói chung, văn chính luận Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói riêng, luôn luôn dựa hẳn tr
ên hai
nguyên lí: nguyên lí nhân đạo chủ nghĩa và triết lí ái
quốc chủ nghĩa. Trong cách trình bày, người viết
thiên về sự khẳng định chân lý theo sát với hai
nguyên lí trên. Sự khẳng định thường được trình bày
hết sức rạch ròi giữa cái thiện và cái ác, cái tốt v
à cái
xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn, điều chính
Trong bản “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhân danh Chính phủ lâm thời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế
giới rằng: “Nước Việt có quyền hưởng tự do và độc
lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.
Toàn th
ể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do và độc lập ấy”. Đó là một kết luận quan
trọng được rút ra từ những luận cứ (lí lẽ) có tính lịch
sử xác thực:
Luận cứ 1: Bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mĩ:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.
Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm
phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Luận cứ 2: Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta
sinh ra tự do và bình đẳng và quyền lợi và phải luôn
luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Ở đây, xét về mục đích soạn thảo văn bản, bố cục là
hình thức nhưng cũng là nội dung; và trong bố cục
của một loại hình văn bản nào thì sự mở đầu lúc nào
cũng quan trọng, cũng là kết quả của những sự cân
nhắc thuộc chiến lược ngôn hành. Mở đầu bản
“Tuyên ngôn Độc lập”, ngay trong đoạn mở đầu, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã trích d
ẫn ngay hai nội dung quan
trọng trong hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm
với cuộc đời của dân tộc mình và cuộc đời của biết
bao dân tộc bị đoạ đày khác, Bác đã đưa ra một sự
bổ sung vĩ đại, góp phần xoá bỏ một vết nhơ nhục
nhã trong lịch sử loài người” [Nguyễn Nguyên Trứ,
1999; tr.160]. Ý kiến “suy rộng ra” ấy quả là “một
đóng góp đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối
với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”
[Nguyễn Đăng Mạnh - Tuyển tập văn học, Nxb.
ĐHQGHN, 2006; tr.459].
Thứ hai, đối chiếu mặt trái ngược để làm n
ổi bật điều
mình muốn hướng tới là phương pháp lập luận so
sánh tương phản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng
khi đối chiếu nội dung đoạn trích “Bản Tuyên ngôn
Nhân quyền và Dân quy
ền của cách mạng Pháp năm
1789” cho kết luận hết sức thuyết phục: “Thế m
à hơn
80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do,
bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng
bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo
và chính nghĩa”. Cơ sở lập luận của kết luận trên
được xây dựng bằng lí lẽ: “Đó là nh
ững lẽ phải không
ai chối cãi được”.
Rõ ràng, xét một cách hiển ngôn, tác giả “Tuyên
ngôn Độc lập” đã đánh giá lời trích dẫn Tuyên ngôn
của nước Mĩ là “bất hủ” (nghĩa là không khi nào cũ,
n
hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì ch
ẳng qua cũng chỉ
để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà
thôi. Điều này định hướng đúng đắn cho ngư
ời nghe,
người đọc khi tiếp nhận văn bản “Tuyên ngôn Độc
lập” để chỉ ra cái hay, cái tài của tác giả. Cách dùng
từ ngữ (luận chứng), cách sắp xếp luận cứ (lí lẽ) và
mục đích, thái độ, tình cảm của người viết chính là
những cơ sở của những lập luận sắc sảo trong bản
“Tuyên ngôn Độc lập”. Khi tác giả soạn thảo bản
“Tuyên ngôn Độc lập” đã hội tụ đầy đủ 4 yếu tố bắt
buộc của màn thuyết phục theo lý thuyết văn bản đã
nêu ở trên:
a) Cơ hội (thời cơ nói): Khi Bác Hồ đọc bản “Tuyên
ngôn Độc lập” thì ở miền Nam, thực dân Pháp nấp
sau quân đội Anh (thay mặt quân Đồng Minh vào gi
ải
giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, còn
ở phía Bắc thì bọn Tù Tư
ởng, tay sai của đế quốc Mĩ,
đã trực sẵn ở biên giới. Đây là th
ời điểm lịch sử quan
trọng để Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân
dân thế giới nhằm khẳng định nền Độc lập của nước
nhà.
b) Lí lẽ (các luận cứ): Để khẳng định quyền Độc lập
dân tộc của nước nhà, và lên án t
Pháp hơn tám mươi năm nay ”. Khi nói về địch thì:
13 lần sử dụng từ chúng với những hành động được
miêu tả khác nhau (chúng thi hành dã man, chúng
thẳng tay chém giết, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa,
chúng ràng buộc, chúng cướp, chúng bóc lột, chúng
nhẫn tâm, ); còn khi trình bày những bằng chứng
hiển nhiên, ngoài nội dung miêu tả là những kết tử,
tác tử lập luận được sử dụng hết sức chặt chẽ: “thế
mà”, “thậm chí”, “tuy vậy”, “bởi thế cho nên”, “vì
những lẽ trên”, “suy rộng ra”; đặc biệt, Người đã sử
dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật là ”,
“sự thật là ” như một điệp khúc của bản cáo trạng,
lời văn khẳng định đầy rắn rỏi và đanh thép.
d) Thái độ người nghe: Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn
Độc lập” cho ai nghe? Rõ ràng, Bác đọc “Tuy
ên ngôn
Độc lập” cho toàn thể đồng bào cả nước v
à nhân dân
thế giới. Điều này ai cũng biết. Nhưng vấn đề nằm ở
chỗ, Người viết không chỉ cho đồng bào và thế giới
chung chung, vì như thế không cần nhiều đến những
lời lẽ lập luận chặt chẽ, đanh thép đến vậy. Ở đây,
người nghe là kẻ thù xâm lược Pháp và Mĩ mới là đ
ối
tượng Bác hướng tới. Từ đó ta mới hiểu, trong màn
thuyết phục này, dù “Tuyên ngôn Độc lập” đã dùng
đầy đủ lí lẽ nhưng người nghe vẫn có thái độ cố
chấp, không đủ trí tuệ để nhận thức đúng, đầy đủ
những nội dung, giá trị trong lòng người nói. Thế mới