Cơ sở lập luận trong Tuyên Ngôn Độc Lập - Pdf 20


Cơ sở lập luận trong Tuyên Ngôn Độc Lập Có thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, là học
tập cách viết và cách lập luận chặt chẽ qua từng câu chữ, mỗi trang văn chính luận.
Những văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án
chế độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng văn mẫu mực về
phong cách ngôn ngữ ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc.
Dù viết trong hoàn cảnh nào, và bằng thứ tiếng nào, văn chính luận Việt nói chung,
văn chính luận Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng, luôn luôn dựa hẳn trên hai nguyên
lí: nguyên lí nhân đạo chủ nghĩa và triết lí ái quốc chủ nghĩa. Trong cách trình bày,
người viết thiên về sự khẳng định chân lý theo sát với hai nguyên lí trên. Sự khẳng
định thường được trình bày hết sức rạch ròi giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái
xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn, điều chính nghĩa và điều phi nghĩa. Những sự
khẳng định có tính chất đối lập này được thể hiện một cách nhuần nhuyễn, sắc sảo
trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”.

Tìm hiểu cách lập luận trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta có thể nhận
ra: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tất cả những luận cứ sắc sảo nhất, đắt nhất
cho cách lập luận của mình, được thể hiện trong từng từ, từng câu, từng đoạn và
toàn bộ văn bản.
Lập luận thể hiện ở cấp độ toàn văn bản
Chúng ta đều biết, bản “Tuyên ngôn Độc lập” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết
“bằng văn xuôi hiện đại tiếng Việt, thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận, một
loại văn mang tính chính thức xã hội ở cấp Nhà nước - quốc gia, hoặc liên Nhà
nước - liên quốc gia, để nói rõ trước công chúng (trong và ngoài nước) về chính
kiến của mình trước những sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại”. [Nguyễn Nguyên

là trường hợp như thế. Quan hệ giữa đoạn mở đầu với đoạn tiếp theo trong bản
“Tuyên ngôn Độc lập” của Bác là quan hệ ngữ nghĩa đối lập: đối lập nội dung, đối
lập chữ nghĩa, đối lập về thái độ. Tất cả đã được diễn đạt trang trọng, chặt chẽ,
đanh thép, hùng hồn và xúc động. Điều này được thể hiện:

Thứ nhất, đi từ một chân lý đã biết, đã được công nhận, suy ra một chân lý tương
tự, có chung logic bên trong, đó là cách lập luận so sánh tương đồng mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh vận dụng khi đem so sánh lời trích trong bản “Tuyên ngôn Độc lập
1776 của Mĩ”, để đi đến kết luận: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do”. Cái “suy rộng ra” của Bác là cái được lấy từ chính
cái luận cứ và lí lẽ: “Lời bất hủ ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của
nước Mĩ”, nhưng đó lại là “sự bổ sung rất trí tuệ của Bác: với cuộc đời của dân tộc
mình và cuộc đời của biết bao dân tộc bị đoạ đày khác, Bác đã đưa ra một sự bổ
sung vĩ đại, góp phần xoá bỏ một vết nhơ nhục nhã trong lịch sử loài người”
[Nguyễn Nguyên Trứ, 1999; tr.160]. Ý kiến “suy rộng ra” ấy quả là “một đóng
góp đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới” [Nguyễn Đăng Mạnh - Tuyển tập văn học, Nxb. ĐHQGHN, 2006;
tr.459].

Thứ hai, đối chiếu mặt trái ngược để làm nổi bật điều mình muốn hướng tới là
phương pháp lập luận so sánh tương phản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi
đối chiếu nội dung đoạn trích “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
cách mạng Pháp năm 1789” cho kết luận hết sức thuyết phục: “Thế mà hơn 80
năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp
nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính
nghĩa”. Cơ sở lập luận của kết luận trên được xây dựng bằng lí lẽ: “Đó là những lẽ
phải không ai chối cãi được”.

Rõ ràng, xét một cách hiển ngôn, tác giả “Tuyên ngôn Độc lập” đã đánh giá lời

tay sai của đế quốc Mĩ, đã trực sẵn ở biên giới. Đây là thời điểm lịch sử quan trọng
để Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới nhằm khẳng định nền
Độc lập của nước nhà.
b) Lí lẽ (các luận cứ): Để khẳng định quyền Độc lập dân tộc của nước nhà, và lên
án tội ác của quân xâm lược, bản “Tuyên ngôn Độc lập” đã dùng đến rất nhiều
luận cứ, luận chứng (các lí lẽ) hết sức thuyết phục:
- Nội dung Bản “Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mĩ” là bất hủ.
- Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789. “Đó
là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
- “Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
- “Chúng thi hành những luật pháp dã man, ”.
- “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học, ”.
- “ trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật ”.
- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”
v.v

c) Tính biểu cảm của ngôn ngữ: Bác Hồ viết “Tuyên ngôn Độc lập” với giọng văn
chính luận hào hùng, lập luận sắc sảo, chặt chẽ, ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu,
chính xác và giàu cảm xúc. Điều này được thể hiện rõ trong văn bản qua: giọng
điệu vừa khéo léo vừa kiên quyết, lựa chọn từ ngữ chính xác, ngắn gọn, súc tích
nhưng hiệu quả. Khi nói về mình thì: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới
rằng”, “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây
dựng nên nước Việt Nam độc lập”, “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của
Pháp hơn tám mươi năm nay ”. Khi nói về địch thì: 13 lần sử dụng từ chúng với
những hành động được miêu tả khác nhau (chúng thi hành dã man, chúng thẳng
tay chém giết, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa, chúng ràng buộc, chúng cướp,
chúng bóc lột, chúng nhẫn tâm, ); còn khi trình bày những bằng chứng hiển nhiên,
ngoài nội dung miêu tả là những kết tử, tác tử lập luận được sử dụng hết sức chặt
chẽ: “thế mà”, “thậm chí”, “tuy vậy”, “bởi thế cho nên”, “vì những lẽ trên”, “suy
rộng ra”; đặc biệt, Người đã sử dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật

bạo lực, chủ nghĩa khủng bố đang diễn ra trong thời đại ngày nay, những lời suy
rộng của “Tuyên ngôn Độc lập” đang vang lên như những tiếng chuông cảnh tỉnh:
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status