………… o0o…………
TIỂU LUẬN
Đề tài “Một số vấn đề lý luận về KTNN” Trang 1
MỞ ĐẦU
Việt nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội (CNXH) và theo
lý luận của Lenin về nền kinh tế trong thời kỳ quỏ độ vận dụng vào kinh tế, có
phải nó ý nghĩa là chế độ hiện nay có những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản
(CNTB) lẫn CNXH không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có, song cũng không
Trang 2
thành một thể chế chớnh trị. Ta định hướng xây dựng CNXH thỡ phải phỏt
triển thành phần kinh tế nhà nước thật vững chắc ,làm sao để nó thể hiện vai
trũ chủ đạo của KTNN, nắm được quy luật vận động khách quan của kinh tế
để từ đó có cách tác động để KTNN thể hiện được vai trũ trọng yếu của nú,
để đất nước ta đi đúng theo định hướng đó chọn.
Việc nhiờn cứu (NC), tỡm hiểu rồi đến nắm bắt bản chất cũng như vai trũ
của KTNN sẽ giỳp mỗi chỳng ta thấy được tầm quan trọng, tính thiết yếu phải
phát triển KTNN ở nước ta hiện nay nhận thức được những đường lối, chính
sách phát triển mà đảng và chính phủ đưa ra nhằm cải tổ và xây dựng nền
kinh tế XHCN tiến kịp với thế giới, nhưng cũng đồng thời thôi thúc mỗi
chúng ta cần phải góp sức mỡnh vào cụng cuộc đất nước bằng cách dựa trên
những gỡ mà ta đó đạt được và chưa làm được để đưa ra những giải pháp
kiến nghị hữu ích cho việc đưa KTNN lên nắm vai trũ chủ đạo cũng là để xây
dựng nền kinh tế nước nhà ổn định, phát triển và bền vững.
Đồ án của tôi sẽ đi sâu vào NC về một số vấn đề sau:
Phần I: Khát quát về một số vấn đề lý luận về KTNN, vai trũ chủ đạo
của KTNN, giải thích vỡ sao sự hỡnh thành KTNN là một tất yếu và sự cần
thiết của vai trũ chủ đạo của KTNN trong chế độ của chúng ta hiện nay.
Phần II: Thực trạng về vấn đề đưa KTNN giữ vai trũ chủ đạo trong nền
kinh tế ở nước ta hiện nay đó đạt được thành quả gỡ và cũn những tồn tại,
yếu kộm nào cần khắc phục - nguyên nhân của thực đó.
Phần III: Một số giải phỏp và kiến nghị nhằm phỏt huy những gỡ đó đạt
được ,khắc phục những hạn chế ,thiếu sót trong việc đưa KTNN lên nắm vai
trũ chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Do trỡnh độ hiểu biết và lý luận cũn rẩt hạn chế , đề án NC của tôi cũn rất
nhiều hạn chế và thiếu sút. Tụi rất mong nhận được sự thông cảm cùng những
ý kiến đóng góp để mỗi chúng ta sẽ được nâng cao hơn tầm nhận thức hiểu
biết nhằm phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp đổi mới và phỏt triển kinh tế xó hội
Thành phần KTNN đó xuất hiện như thế nào trong nền kinh tế Việt Nam?
Ta sẽ trở lại từ những ngày đầu giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt
tay vào xó hội mới với một nền kinh tế mới. Đảng ta đó lónh đạo nhân xây
dựng đất nước theo con đường XHCN, thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước
mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ và văn minh”. Để xây dựng nền chính trị
XHCN thỡ đũi hỏi phải cú nền kinh tế đặc trưng cho hỡnh thỏi chớnh trị ấy -
một nền kinh tế cú thành phần chớnh hỡnh thành trờn chế độ công hữu. Trong
lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam dựa trên chế độ tư hữu, đó là sở hữu tư
nhân của những người sản xuất nhỏ và sở hữu tư nhân của CNTB. Đối với
hỡnh thức này, Nhà nước đó tiến hành cải tổ, sắp xếp để phát triển thành phần
kinh tế cá thể tiểu thủ công nghiệp và thành phần kinh tế tư bản tư nhân - là
đại diện của quan hệ sản xuất cũ CNTB. Vậy để xây dựng một nền kinh tế
mới XHCN, nhà nước đó đầu tư xây dựng các doanh nghiệp của mỡnh trong
cỏc nghành kinh tế, kết quả là hỡnh thành nờn một thành phần kinh tế mới –
KTNN.
Trang 4
Từ đó ta khái niệm được thành phần KTNN là gỡ? Đó là thành phần kinh
tế dựa trên sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước). Việc tổ chức kinh doanh
tiến hành theo nguyên tắc hoạch toán kinh tế và thực hiện phân phối theo lao
động.
Như vậy, đặc điểm cơ bản của thành phần KTNN với các thành phần kinh
tế khác đó là hỡnh thức sở hữu và nguồn vốn hỡnh thành. Cú thể toàn bộ vốn
đều thuộc sở hữu nhà nước hoặc có thể phần vốn đóng góp của nhà nước
chiếm tỷ lệ khống chế (>50% vốn).
1.2 Phõn loại KTNN:
KTNN bao gồm ba thành phần cơ bản đó là: các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), các tổ chức nhà nước, những tài sản thuộc sở hữu toàn dõn.
*Về Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Khái niệm: DNNN là doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước hoặc Doanh
vụ công như : An ninh, quốc phũng, giao thụng, giỏo dục, ytế…
*Về cỏc tổ chức KTNN:
Các tổ chức KTNN là các tổ chức hoạt động gắn với chức năng quản lý
(kiểm tra, kiểm soỏt) như tài chính ngân hàng, bảo hiểm, kho bạc nhà nước,
các quỹ dự trữ quốc gia…các tổ chức này có thể do nhà nước cung cấp 100%
vốn hoặc giữ một phần vốn cố định để đảm bảo sự hoạt động ổn định cho các
tổ chức này. Thành phần này cũng có nột vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân.
*Về cỏc tài sản thuộc sở hữu nhà nước:
Các tài sản thuộc sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước) được xem là
thành phần của kinh tế nhà nước. Khi Nhà nước nhận được lợi ích kinh tế do
quuền sở mang lại như: đất đai, tài nguyên thiên nhiên,…
2. Sự cần thiết của kinh tế Nhà nước và vai trũ chủ đạo của kinh tế
Nhà nước trong nền kinh tế
2.1. Sự cần thiết có kinh tế Nhà nước trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xó hội
của đất nước.
Với mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước từ ngày bắt tay vào xây dựng Chủ
nghĩa xó hội ở miền Bắc cho đến hôm nay, kinh tế Nhà nước đó được hỡnh
thành, phỏt triển với những vcị trớ khỏc nhau trong nền kinh tế nhằm thực
hiện những nhiệm vụ kinh tộ nhất định của từng giai đoạn. Tuy vậy, trong
suốt cả thời kỳ lịch sử ấy, kinh tế nhà nước luôn luôn là lực lượng chủ đạo,
nũng cốt, là cụng cụ duy nhất để Nhà nước đưa đất nước đi lên theo con
đường Xó hội chủ nghĩa(1955).
Sau khi hoà bỡnh lập lại ở miền Bắc(1955), đảng và nhà nước đó chủ
trương xây dựng xó hội chủ nghĩa ở miền Bắc theo cơ chế kế hoạch hoà tập
trung bao cấp để tạo cơ sở ban đầu cho một Nhà nước xó hội chủ nghĩa tương
lai khi giải phóng miền Nam và thống nhất nước nhà. Xuất phát điểm từ một
nền kinh tế được xây dựng trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, vỡ vậy bước
đầu tiên khi bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xó hội là thực hiện cụng cuộc cải
chính trị xó hội, thỡ KTQD luụn là lực lượng tiến bộ xó hội, là đội quân tiên
phong trong việc mở rộng QHSX XHCN.
Từ năm 1975 đến 1980: Cơ chế kế hoạch hoá tập trung thuần tuý vẫn
được duy trị. Sau khi thống nhất đất nước. với định hướng đưa cả nước đi lên
XHCN, nhưng có sự chênh lệch giữa hai miền Nam-Bắc, vỡ vậy Đảng ta chủ
trương tiếp tục mở rộng QHSX XHCN và công nghiệp hoá XHCN ở miền
Bắc, đồng thời tiến hành công cuộc cải tạo XHCN ở miền Nam. Thi hành chủ
trương đó số lượng các XNQD trên tất cả các lĩnh vực kinh tế (Công nghiệp,
Trang 7
nông nghiệp, thương nghiệp) tăng lên một cách nhanh chóng trên khắp cả
nước. Mặc dù so với giai đoạn trước đó sức đóng góp của KTQD trong giai
đọan này đó giảm sỳt, song KTQD vẫn đóng vai trũ chủ đạo, tuyệt đối quan
trọng công cuộc xây dựng và phát triển QHSX mới CNXH.
Từ 1980-1985: Giai đoạn này nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, năng
lực sản xuất của KTQD không được sử dụng tối đa do thiếu vật tư một cách
nghiêm trọng. Với quan điểm định hướng xây dựng CNXH nên KTQD vẫn
được nhà nước rất chú trọng tỡm giải phỏp thỏo gỡ giai đoạn này cơ chế kế
hoạch hoá tập trung đó cải tiến dần sang phi tập trung hoỏ trong quản lý kinh
tế, tuy vậy KTQD vẫn giữ vai trũ quan trọng tuyệt đối, trong sự phát triển
kinh tế - xó hội của đất nước, thể hiện ở chỗ các XNQD vẫn nắm giữ các
ngành then chốt như điện, hoá chất, luyện kim, xi măng…
Giai đoạn từ1986 đến nay:
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đó đưa ra chính sách kinh tế mới làm
nên một bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh tế ở nước ta, đó là chính sách
đổi mới cơ chế kinh tế : xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ
chế thị trường định hướng XHCN. Trong quá trỡnh hỡnh thành cơ chế kinh tế
mới, công tác quản lý KTQD vẫn cũn tiếp tục được cải tiến theo hướng phi
tập trung hoá, kế hoạch hoá và quản lý và quản lý đối với KTQD, đồng thời
các thành phần kinh tế khác được hỡnh thành và chỳ trọng phỏt triển, đó là
XHCN mà nước ta đang vận dụng là gỡ? Đó là nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường, tức là bất kể thành phần kinh tế nào (hay đơn vị kinh tế nào)
của nền kinh tế cũng phải chịu sự điều tiết của cơ chế thị trường, nhưng đồng
thời phải tuân thủ các nguyên tắc của chế độ XHCN dưới sự quản lý của nhà
nước XHCN. Từ khái niệm này ta có thể hiểu nôm na rằng, xây dựng nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN tức là xây đựng một nền kinh tế thị
trường hướng tới chế độ XHCN, hướng tới thực hiện mục tiêu của XHCN đó
là mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ văn
minh.
Đặc điểm cơ bản của cơ chế thị trường là cơ chế tự phát, các nhân tố kinh
tế của cơ chế đó tự tác động qua lại theo quy luật kinh tế khách quan mà dẫn
đến sự biến đổi, phát triển của nền kinh tế. Đặc điểm đó vừa là ưu điểm, vừa
là hạn chế của cơ chế này. Nó có thể mang lại một nền kinh tế phát triển với
tốc độ nhanh, nhưng đồng thời mang lại những khuyết tật về xó hội đó là
phân biệt giàu nghèo, bất công, tệ nạn xó hội gia tăng…
Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo
hướng XHCN dưới sự quản lý của nhà nước tức là muốn dựa trên ưu điểm
của cơ chế thị trường để khắc phục những khó khăn của nền kinh tế kém phát
triển của nước ta, đồng thời đảm bảo tiến được mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xó hội cụng bằng, dõn chủ ,văn minh.
Ở các phần trên ta đó rỳt ra được rằng để xây dựng một nền kinh tế theo
chế độ XHCN thỡ nhất định kinh tế nhà nước phải luôn nắm vai trũ chủ đạo,
bởi nó là lực lượng kinh tế đại diện cho quan hệ sản xuất mới XHCN, nó là
công cụ để nhà nước dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế đi đúng hướng đó chọn, nú
Trang 9
đóng vai trũ quan trọng trong việc mở đường và hướng đẫn cho nền kinh tế
phát triển. Cũn trong cơ chế kinh tế thị trường thỡ sao?
Nếu nền kinh tế thị trường được để phát triển một cách tự do, không sự
quản lý của nhà nước thỡ sẽ bộc lộ rừ ngay những hạn chế, yếu kộm, những
trong việc dẫn dắt nền kinh tế nước ta hiện nay là vỡ trong nền kinh tế luụn
luụn cú những ngành, lĩnh vực rất khú cú khả năng sinh lời hoặc cũn rất nhiều
Trang 10
vựng kinh tế cú cơ sở hạ tầng thấp kém khó đầu tư sản cuất, do đó mà các
thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có khả năng kinh doanh thỡ
kinh tế nhà nước phải tham gia vào hoạt động trong các ngành kinh tế hay các
vùng kinh tế để tạo dựng được những cơ sở vật chất ban đầu, thu hút dần các
phần tử kinh tế khác cùng tham gia vào hoạt động. Có như thế thỡ mới hỡnh
thành nờn một cơ chế kinh tế hợp lý trong nền kinh tế thị trường định hướng
xó hội chủ nghĩa ở nước ta đó là tạo nên một nề kinh tế có các ngành, lĩnh vực
được đầu tư, phát triển một cách cân bằng, có các vùng kinh tế phát triển song
song với nhau.
Thứ ba, để xây dựng nền kinh tế phát triển đúng hướng XHCN thỡ đũi hỏi
phải cú sự quản lý của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế bằng pháp luật.
Những nhà hoạt động sản xuất kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu quan
trọng nhất đó là làm sao tối đa hoá được lợi nhuận. Nhưng tỡnh hỡnh nước ta
hiện nay, các chủ thể kinh hoanh có thể có trỡnh độ hiểu biết về ý thức, về
quản trị kinh doanh rất khác nhau, có người tham gia vào kinh doanh chỉ vỡ
họ cú vốn nhưng lại thiếu hẳn các ý thức và kiến thức cần thiết, điều đó dễ
dẫn đến những sai phạm về pháp luật và thường chỉ vỡ lợi nhuận cỏc nhõn mà
quyờn mất lợi ớch của xó hội. Kinh tế nhà nước với lực lượng kinh tế luôn
được nhà nước chú trọn về khâu đào tạo cán bộ có ý thức pháp luật, do đó
trong giai đoạn hiện nay đương nhiên kinh tế nhà nước phải là thành phần
gương mẫu để các thành phần kinh tế khác học tập để hoạt động có hiệu quả
hơn.
Từ ba lý do trờn mà ta thấy kinh tế nhà nước đương nhiên phải là thành
phần kinh tế nắm vai trũ chủ đạo trong nền kinh tế với tư cách là lực lượng đi
đầu trong quá trỡnh hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, là đội quân mở
đường cho các thành phần kinh tế khác cùng tham gia mở rộng hoạt động sản
Kinh tế nhà nước phải tạo được động lực thúc đẩy, tạo đà và dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác mà cơ bản nhất là thành phần kinh tế tư bản tư nhân
và thành phần kinh tế cá thể (mà chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh)
cũng đóng góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế. Muốn thực hiện được chức
năng này thỡ kinh tế nhà nước phải cần được chú trọng tron các ngành lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế - bởi chỉ khi các ngành kinh tế này được phát
triển thỡ mới đủ khả năng đưa nền kinh tế phát triển theo. Tuy nhiên, trong
mỗi thời kỳ phát triển các lĩnh vực, ngành then chốt sẽ có sự thanh đổi, luân
chuyển từ ngành này sang ngành khác, do đó việc xác định ngành lĩnh vực
then chốt cho từng thời kỳ mà phải tính đến cả xu hướng hội nhập cũng như
tiềm năng kinh tế của đất nước là quan trọng. Khi nhà nước đầu tư phát triển
đúng hướng thỡ kinh tế nhà nước sẽ hoạt động có hiệu quả, thu hút dần các
thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào – như thế là kinh tế nhà nước đó
tạo đà và dẫn dắt được các thành phần kinh tế phát triển, cùng góp phần vào
việc tăng trưởng kinh tế.
Để tạo động lực, hỗ trợ các thành phần kinh tế khỏc phỏt triển thỡ kinh tế
nhà nước phải đi đầu trong việc chuyển giao công nghệ, áp dụng công hiện
đại và sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong các lĩnh vực mà trước đây ít được
Trang 12
đầu tư do ít có khả năng sinh lời, nhưng là lực lượng duy nhất có đủ điều kiện
về vốn, lao động nên doanh nghiệp nhà nước phải đi đầu về cải tiến kỹ thuật
công nghệ sản xuất để từđó mở đờng cho các doanh nghiệp dân doanh mạnh
dạn cùng tham gia đầu tư phát triển.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của cỏc doanh nghiệp ngày nay cũn gắn
liền với việc bảo vệ môi trường hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường, do đó
đay cũng là mọt tiêu thức của phát triển mà doanh nghiệp nhà nước phải đi
đầu, làm gương để các thành phần kinh té khác đi theo. Việc giảm thiểu ô
nhiễm môi trườngcó liên quan đến vấn đề công nghệ và vấn đề lợi nhuận của
các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dân doanh thường với số vốn ít ỏi thỡ
của nền kinh tế quốc dân, để từ đó các thành phân kinh tế khác có được chỗ
dựa vững mà cùng phát triển, đi lên.
Mặt khác, trong cơ chế thị trường, lợi nhuận luôn là mục tiêu mà các
doanh nghiệp theo đuổi, do đó các thành phần khác thường tập trung kinh
doanh ở những ngành kinh tế hoặc những vùng có khả năng đưa đến lợi
nhuận cao một cách nhanh chóng mà ít rủi ro nhất, do đó sẽ tạo ra lỗ hổng là
những ngành và vùng kinh tế kém tiềm năng hoặc đũi hỏi đầu tư lớn: đó là
các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển có cơ sở hạ tầng thấp kém. Để
khắc phục tỡnh trạng đó, đồng hởi mở đường kích thích các thành phần khác
cùng tham gia vào hoạt động sản xuất thỡ kinh tế nhà nước phải có mặt để
xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển là điều
kiện tiên đề tạo thuận lợi trước mắt thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế.
Đó cũng là một chức năng thể hiện vai trũ chủ đạo, mở đường, hỗ trợ các
thành phần kinh tế phát triển theo đúng đinh hướng XHCN, bởi nó cân bằng
được trỡnh độ phát triển giữa các vùng kinh tế, giảm bớt hố ngăn cách giữa
thành thị và nông thôn.
Phát triển theo đúng định hướng XHCN cũn thể hiện ở việc tuõn theo
phỏp luật mà nhà nước XHCN đó đề ra. Thực tế hiện nay cho thấy khụng ớt
chủ cỏc doanh nghiệp dõn doanh chỉ vỡ lợi nhuận cỏ nhõn mà bất chấp cả
phỏp luật, hoặc cỏo những hoạt động thiếu ý thức pháp luật. Tất yếu đấy là
vấn đề mà nhà nước phải có biện pháp giải quyết, và DNNN là một trong
những công cụ mà nhà nước dùng để hạn chế vấn đề này. Vỡ vậy, DNNN
phải là tấm gương mẫu mực trong việc tuân theo phát luật để các doanh
nghiệp khác cùng noi theo.
* Thứ ba : KTNN là lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết nền kinh tế
vĩ mô.
Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đó là : các đơn
vị kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, nhà nước đóng vai trũ điều tiết
nền kinh tế theo định hướng XHCN.
Các đơn vị kinh tế luôn phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản đó là sản
thuộc sở hữu chung của tập thể, của toàn dân, không một cá nhân nào được
biến TLSX thành tài sản riờng của mỡnh. Đó được coi là chế độ sở hữu tiến
bộ nhất trong lịch sử phát triển của xó hội loài người. Khi xem xét về nguồn
gốc hỡnh thành KTNN ta đó biết rằng KTNN được xây dựng dựa trên hỡnh
thức sở hữu toàn dõn, cũn kinh tế tập thể được xây dựng dựa trờn hỡnh thức
sở hữu tập thể, trong thời kỳ quỏ độ lên CNXH của nước ta thỡ đây là hai
hỡnh thức sở hữu được xem là tiến bộ nhất, nó đại diện cho QHSX mới
XHCN. Vỡ vậy để xây dựng nền kinh tế XHCN thỡ KTNN cựng kinh tế tập
thể cú vai trũ là nền tảng cơ bản .
II. Thực trạng KTNN và việc thực hiện vai trũ chủ đạo của KTNN trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN hiện nay.
Trang 15
1. Những bước chuyển biến chủ yếu của KTNN trong thời kỡ đổi mới:
Từ giai đoạn đầu thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, chuyển từ kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN (Giai đoạn 1986 – 1990), một nền kinh tế đa phần được
hỡnh thành, nhưng cũng ngay từ đây KTNN đó giữ vững và khẳng định được
vai trũ chủ đạo của nó. Năm 1990 KTNN tạo ra 66% tổng sản phẩm xó hội
với số lượng DNNN là 1200 doanh nghiệp.
Sang thập niên 90 – là giai đoạn Đảng và Nhà nước ta thực thi nhiều
chính sách, biện pháp lớn mạnh nhằm cải tổ và sắp xếp lại cơ cấu lại các
doanh nghiệp nhà nước để hoạt động hiệu quả hơn.
Với các chính sách, cơ chế đổi mới để DNNN tự chủ trong cơ chế thị
trường, về kế hoạch, các doanh nghiệp được chủ động xây dựng và tổ chức
thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ mà
Nhà nước giao cho đó là kế hoạch sản xuất, cung ứng vật tư kỹ thuật, đầu tư
xây dựng cơ bản, tài chính, lao động… trên cơ sở tính toán nhu cầu thị trương
về sản phẩm, dịch vụ của Doanh nghiệp mỡnh. Về tài chớnh Doanh nghiệp
41,23% năm 1998. Tỷ lệ nộp vốn ngân sách trên vốn nhà nước năm 1993 là
6,8% và năm 1999 là 12,31%. Năm 1999 các doanh nghiệp làm 40,2% GDP
trên 50% giá trị xuất nhập khẩu, đóng góp 39,25% ngân sách Nhà nước. Từ
1995 đến nay, hằng năm DNNN đóng góp từ 26 – 28% nguồn thu thuế nội
địa.
Từ thập niên 90 trở lại đây, Nhà nước đó sắp xếp, tổ chức, củng cố và
phỏt triển cỏc DNNN, cỏc tổng cụng ty Nhà nước: Chính phủ đó liờn tục chỉ
đạo và thực hiện sắp xếp lớn các DNNN đó là đợt 2 (1990 – 1993), đợt 2
(1994 – 1997), đợt 3 (1998 – 1999), qua mỗi đợt sắp xếp đó là các DNNN đó
cú sự đổi mới về quy mô, về cơ cấu tổ chức quản lý bằng cỏch sỏt nhập, giải
thể phỏ sản cỏc doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ kéo dài, chuyển doanh
nghiệp nhà nước thành các công ty cổ phần hoặc giao, bán, khoán, cho thuê
DNNN có quy mô nhỏ. Kết quả sau 3 đợt sắp xếp đổi mới đó là hiệu quả hoạt
động của các DNNN tăng lên, mặc dù số DN giảm xuống rất nhiều từ 12000
doanh nghiệp (năm 1990) xuống cũn 5280 doanh nghiệp (năm 2000).
Hiện nay có 17 tổng công ty 91 và 77 tổng công ty 90 đang hoạt động,
các tổng công ty này được tập trung xây dựng hầu hết trong tất cả các lĩnh
vực kinh tế của đất nước. Các tổng công ty nhà nước có 1605 DN thành viên,
chiếm 28,4% tổng số doanh nghiệp nhà nước, 65% vốn nhà nước và 61% lao
động. Năm 2000, các tổng công ty đó cung cấp cho nền kinh tế quốc dõn 98%
sản lượng điện, 97% sản lượng than, 54% sản lượng xi măng, 52% sản lượng
thép, các ngân hàng thương mại giữ 70% thị phần vốn vay.
Một bộ phận DNNN đó được cổ phần hoá mà Nhà nước không cần nắm
giữ 100% vốn và DNNN đầu tư một phần vốn để thành lập mới công ty cổ
phần. Tính đến năm 2001, cả nước đó cổ phần hoỏ được 529 DN và 102 bộ
phận DN bằng 11% tổng số doanh nghiệp hiện có so với tổng số vốn Nhà
nước khi đánh giá lại khi cổ phần hoá các doanh nghiệp là 2714 tỷ đồng bằng
1,97% tổng số vốn Nhà nước trong các DNNN. Sau một thời gian hoạt động,
Trang 17
đang từng bước được nâng lên, giúp KTNN thực hiện được vai trũ chủ đạo
của nền kinh tế quốc dân, chi phối được các ngành lĩnh vực then chốt, là lực
lượng nũng cốt trong tăng trưởng kinh tế, trong xuất khẩu và đóng góp cho
ngân sách Nhà nước, bảo đảm cân đối vốn và góp phần quan trọng trong ổn
định kinh tế vĩ mô, là lực lượng rất quan trọng trong việc bảo đảm các sản
phẩm chủ yếu của nền kinh tế.
Trang 18
1.2 Kết quả bước đầu phát huy vai trũ chủ đạo của KTNN từ những bước
đổi mới:
Thứ nhất, hệ thống kinh tế Nhà nước các thể chế thống nhất đang làm đũn
bẩy thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá.
Thứ hai, trong những năm lại đây, hoà chung vào xu thế toàn cầu hoá nền
kinh tế thế giới, kinh tế hợp tác, liên doanh với nước ngoài rất được phát triển
mà chủ yếu là với thành phần KTNN. Điều đó khẳng định là thành phần kinh
tế đi đầu trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở đường cho
các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo xu hướng chung của nền
kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới.
Thứ ba, KTNN phát triển ổn định là một nhân tố cơ bản, quan trọng giúp
Nhà nước giải quyết được một số vấn đề kinh tế vĩ mô và vấn đề xó hội như
giảm thất nghiệp, bảo hiểm cho người lao động, trợ cấp mất việc hay thôi
việc, góp phần xóa đói giảm nghèo, cân bằng kinh tế, phát triển văn hoá, giáo
dục…
Thứ tư, KTNN đang tạo ra lực lượng vật chất tối thiểu cần thiết để Nhà
nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, ổn định xó hội, hạn chế
khuyết tật của kinh tế thị trường.
Thứ năm, KTNN phát triển, vừa tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của
các thành phần kinh tế khác, vừa là tấm gương để các thành phần kinh tế khác
đi theo trong việc quản lý, tuõn thủ phỏp luật, bảo vệ mụi trường… Nhờ đó
kinh tế của nhà nước, thể hiện sự chỉ đạo hết sức kiên trỡ của chớnh phủ cỏc
cấp, cỏc ngành.
Thứ ba, sự cố gắng phấn đấu của các DNNN, của đội ngũ cán bộ, quản lý
và người lao động trong cơ chế mới mà Đảng đề ra đũi hỏi cỏc DNNN cũng
như các cán bộ quản lý người lao động, phải có một sự thay đoỏi nhất định,
đáp ứng được những đũi hỏi của cơ chế kinh tế mới. Càng ngày ta nhận thấy
tính năng động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của nhiều cán bộ, công nhân
viên ở các DNNN được nâng cao. Các DNNN đó cú những việt làm nhằm
đưa hoạt động của sản xuất của mỡnh hiệu quả hơn như đổi mới công nghệ,
đào tạo đội ngũ cán bộ….
Thứ bốn: Hợp tác đa phương, đa hỡnh thức, hướng về xuất khẩu, của các
DNNN được phát triển cả về quy mô và hiệu quả, nhờ đó mà tranh thủ sự đầu
tư, giúp đỡ của quốc tế, của các DN nước ngoài, không chỉ cho thành phần
KTNN mà cũn cho cỏc thành phần kinh tế khỏc về thị trường, về đổi mới
công nghệ, về phương pháp sản xuất, kinh doanh…. nhờ đó mà KTNN thực
hiện được vai trũ mở đường, đón dắt cỏc thành phần kinh tế, phát triển theo
đúng định hướng XHCN của Đảng.
2. Những tồn tại yếu kộm trong quỏ trỡnh đổi mới và thực hiện vai trũ chủ
đạo của KTNN:
2.1. Những hạn chế yếu kém của KTNN trong thời kỳ đổi mới:
Trang 20
Bên cạnh những thành quả đó đạt được của KTNN (DNNN) mà ta đó ghi
nhận ở trờn (trang 21) thỡ KTNN cũn những hạn chế, yếu kộm, mà đó được
hội nghị TW Đảng khoá IX đánh giá: “Những mặt hạn chế, yếu kém, có mặt
rất nghiêm trọng của DNNN và DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt
của yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.”
Nhận định trên được thể hiện qua các mặt sau:
*Thứ nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của DNNN cũn
Trang 21
loại DN này chiếm hơn 90%, chủ yếu trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại,
du lịch); số DN có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 15,2% ; số DN có vốn
trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 25%. Vốn lưu động của các DN nhà nước vào
khoảng 27 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng trên 21% tổng số vốn nhà nước, bỡnh quõn,
một doanh nghiệp gần 4,8 tỷ, nhưng phần lớn các DN không có hoặc rất ít
vốn lưu động nên chủ yếu phải đi vay để sản xuất kinh doanh. Nhiều DNNN
cùng loại hoạt động trong tỡnh trạng chồng chộo về ngành nghề kinh doanh,
cấp quản lý và trờn cựng một địa bàn.
Thứ ba: Công nợ của DNNN ngày càng tăng, đầu tư đổi mới công nghệ
chậm, trỡnh độ công nghệ lạc hậu; lao động thiếu việc làm va dôi dư cũn lớn;
trỡnh độ quản lý phần lớn cũn yếu kộm.
Công nợ của DNNN hiện nay là quá lớn. Nợ quá hạn, nợ khó đũi ngày
càng tăng. Năm 2000, trong số 15,1% nợ quá hạn của các ngân hàng thương
mại nhà nước thỡ DNNN chiếm 74,8% đó làm ảnh hưởng rất xấu đến hoạt
động của tập thể ngân hàng. Tỡnh trạng tài chớnh không lành mạnh một phần
do lịch sử để lại, phần lớn là mới phát sinh, nhưng cũn lỳng tỳng, chưa có
phương án khả thi để xử lý dứt điểm, làm cho hoạch toỏn kinh tế bị mộo mú,
khụng minh bạch và DNNN luụn trong tỡnh trạng bị động, ứng phó với các
khoản nợ khó đũi.
Nguyên nhân dẫn đến yếu kém, hạn chế của DNNN: Nghị quyết TW VI
khẳng định: “Những hạn chế, yếu kém của DN có nguyên nhân khách quan,
nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan.”
-Chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về vị trí, vai trũ của KTNN
và DNNN về những yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả
hoạt động của DNNN.
-Nhiều vấn đề chưa rừ và cũn cú những ý kiến khỏc nhau chưa được tổng
kết thực tiễn để kết luận.
-Quản lý nhà nước đối với DNNN cũn yếu kộm vướng mắc.
-Cải cách hành chính chậm, cơ chế, chính sách cũn nhiều bất cập, chưa
đức, vi phạm pháp luật, trong khi đó, việc thay đổi, bố trí lại số cán bộ này rất
khó khăn, chậm chạp, chưa có cơ chế phù hợp cho việc tuyển chọn những
người có năng lực vào quản lý điều hành DNNN.
2.2. Nguyờn nhõn của những hạn chế yếu kộm trờn:
Nghị quyết TW III đó khẳng định: “Những hạn chế, yếu kém của doanh
nghiệp nhà nước có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu do những
nguyên nhân chủ quan.”
*Thứ nhất: Chưa có sự thống nhất cao, trong nhận thức về vai trũ, vị trớ
của kinh tế nhà nước và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp đổi mới, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN.
Rất nhiều ý kiến hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự vào sự cần thiết cũng
như vai trũ chủ đạo của KTNN và DNNN, dẫn đến sự bất dồng trong quan
điểm, nhận thức và vai trũ của KTNN trong nền kinh tế. Theo họ, DNNN
Trang 23
khụng thể hoạt động có hiệu quả, không có khả năng cạnh tranh bằng DN tư
nhân và do vậy không nhất thiết phải duy trỡ, vỡ những lý do:
Theo họ, vấn đề quan trọng không phải là DNNN hay DN tư nhân, và là
sản xuất có hiệu quả hay không, vỡ quy cho đến cùng thỡ sẽ hữu thi là
phương tiện, tăng trưởng kinh tế mới là mục tiêu.
Hai là: Chỉ chủ tư nhân – là chủ sở hữu tài sản một cách chính đáng mới
quan tâm chăm lo cho DN của mỡnh, quản lý chi phớ hợp lý, tiết kiệm đồng
thời có khả năng nhanh nhạy, linh hoạt trong cơ chế thị trường.
Ba là: DNNN có chủ sở hữu là nhà nước nên có một bộ phận không nhỏ
cán bộ quản lý lấy tài sản tài sản ra sử dụng lóng phí, mặt khác, DNNN bị chi
phối bởi nhiều cơ quan quản lý nờn hạn chế nhiều khả năng kinh doanh dẫn
đến hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém.
Trong việc hoạch định các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
DNNN cũng gặp những trở ngại, bởi sự bất đồng về các giải pháp, về yêu cầu
hoạt động của các DN và thủ trưởng của các đơn vị sản xuất cũn bị buụng
lỏng.
* Thứ ba: Quản lý của nhà nước đối với KTNN vũn nhiều thiết sút.
-Một là: Chưa có chiến lược quy hoạch dài hạn đầy đủ về phát triển các
ngành kinh tế, kinh doanh, đặc biệt là quy hoạch phát triển DNNN trên các
vùng kinh tế, khu kinh tế trọng điểm trong các ngành kinh tế, dịch vụ then
chốt mũi nhọn. Do vậy mà hệ thống DNNN chưa có cơ cấu hợp lý, chưa có
chiến lược kinh doanh và phát triển DN một cách đầy đủ và đúng. Đó là
nguyên nhân dẫn đến việc tổ chức sản xuất, kinh doanh chưa có hiệu quả.
Hoặc do cơ quan quản lý không đầu tư đúng hướng dẫn đến sản phẩm làm ra
không tiêu thụ được đưa DN đến làm ăn thua lỗ, phá sản.
-Hai là: Chính sách đổi mới công nghệ, phương pháp, phương tiện trong
sản xuất – kinh doanh và quản lý chậm được thực hiện. Trong những năm đổi
mới, công nghệ thiết bị, phương tien trong sản xuất kinh doanh và quản lý tuy
cú hiện đại hơn trước nhưng lại nhập từ các nước khác nhau dẫn đến thiếu
đồng bộ, khi muốn thay thế đũi hỏi chi phớ rất lơn do đó mà công nghệ rất
chậm được cải tiến. Mặt khác, do thiếu trỡnh độ mà một số DNNN khi đó cú
kinh phớ để đổi mới công nghệ thỡ lại mua về “rỏc thải cụng nghiệp” là
những máy móc lạc hậu của các nước tiên tiến về mỡnh, làm cho cụng nghệ
nước ta vốn đó lạc hậy thỡ nay vẫn cứ lạc hậu.
-Ba là: một số chính sách vốn để phát triển doanh nghiệp và kinh doanh
chưa hợp lý và đồng bộ khi chuyển sang cơ chế mới, DN cần phải lo cho cả
ba loại vốn: vốn cho đầu vào, vốn cho sản xuất, vốn cho tiêu thụ, khác với
trước đây nhà nước chỉ lo vốn mỗi khâu đầu vào, do đó nhà nước không cung
cấp đủ vốn cho DN sản xuất – kinh doanh, dẫn đến hoạt động sản xuất bị trỡ
trệ.
-Bốn là: Hệ thống pháp luật cơ chế ban hành và thực hiện chưa cơ bản.
Luật pháp nước ta cũn rất nhiều bất cập , thương mang tính tỡnh thế, thay đổi
liên tục.Diều đó gây trở ngại cho các nhà hoạt động kinh tế trong việc hoạch
định kế hoạch sản xuất lâu dài cho DN. Hiệu quả thực thi pháp luật cũn rất