Tiểu luận KTCT: Vấn đề CNH - HĐH của các chuyên gia hoạt động trong các ngành kinh tế pot - Pdf 19


TIỂU LUẬN
Đề tài “Vấn đề CNH - HĐH của các chuyên gia
hoạt động trong các ngành kinh tế”

1

LỜI NÓI ĐẦU
Từ Đại hội Đảng VIII đến nay, Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá
là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ. Nhiệm vụ CNH - HĐH đã được

quan của tồn tại và phát triển xã hội loài người và bất cứ ở giai đoạn nào, ở
bất kỳ đất nước nào không loại trừ các nước giàu mạnh về kinh tế suy đến
cùng đều được bắt đầu và quyết định phát triển kinh tế nghĩa là phải bắt đầu
từ phương thức sản xuất. Vấn đề khách nhau giữa các nước chỉ là ở mục tiêu,
nội dung và cách thức phát triển, có sự khác nhau về tốc độ về hiệu quả và
trên thực tế chỉ một số ít nước công nghiệp hoá thành công.
Như ta đã biết mỗi phương thức sản xuất nhất định đều có cơ sở vật chất
kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội nhất định thường
được hiểu là toàn bộ vật chất của lực lượng sản xuất cùng với kết cấu của xã
hội đã đạt được trình độ xã hội tương ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã
hội tồn tại trong phạm vi các quan hệ sản xuất nhất định nên nó mang dấu ấn
và chịu sự tác động của các quan hệ sản xuất trong việc tổ chức quá trình
công nghệ trong cơ cấu xã hội. Vì vậy khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật gắn
bó chặt chẽ với các hình thức xã hội của nó. Đặc trưng cơ sở vật chất kỹ thuật
của phương thức trước thời công nghiệp tư bản còn thủ công lạc hậu. Còn cơ
sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại chỉ có thể là nền công
nghiệp hiện đại cân đối phù hợp dựa trên trình độ khoa học kỹ thuật công
nghệ ngày càng cao. Để có cơ sở vật chất và kỹ thuật như vậy các nước đang
phát triển cần phải tiến hành công nghiệp hoá.

3

Nước ta thuộc vào nhóm đang phát triển, là một trong những nước nghèo
nhất thế giới, nông nghiệp lạc hậu còn chưa thoát khỏi xã hội truyền thống để
sang "Xã hội văn mình công nghiệp". Do đó khách quan phải tiến hành công
nghiệp hoá - hiện đại hoá là nội dung, phương thức là con đường phát triển
nhanh có hiệu quả. Đối với nước ta quá trình công nghiệp hoá còn gắn chặt
với hiện đại hoá, nó làm cho xã hội chuyển từ xã hội truyền thống sang xã
hội hiện đại làm biến đổi căn bản bộ mặt của xã hội trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, chính trị

người của xã hội đó. Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu
để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại.
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại cũng là
một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước, tuy nhiên tuỳ từng nước
khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên khác nhau, mục tiêu phát triển không
giống nhau nên cách thức tiến hành cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất
lớn, hiện đại không giống nhau. Đối với những nước có nền kinh tế kém phát
triển như nước ta hiện nay (nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ công là chủ yếu )
công nghiệp hoá là quá trình mang tính quy luật, tất yếu để tồn tại và phát
triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Có tiến hành công nghiệp hoá chúng ta mới:
- Xây dựng được cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

5

- Mới tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, mới tích luỹ về lượng mới để xây dựng thành công nền sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
- Mới tăng cường phát triển lực lượng giai cấp công nhân.
- Mới củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội.
- Mới góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng
con người mới ở Việt Nam.
Như vậy công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật cả các nước đi
từ một nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn.
2. Tính tất yếu phải tiến hành đồng thời công nghiệp hoá - hiện đại
hoá của nước ta.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước dù thắng hay bại đều trở
thành nước kiệt quệ đã trở thanh một trong những nguyên nhân cho bước khởi
động của cuộc khoa học công nghệ hiện đại. Có thể chia cuộc cách mạng

Việt Nam là một nước có nền kinh tế nhỏ, lạc hậu về khoa học kỹ thuật,
lực lượng sản xuất còn non nớt chưa phù hợp với quan hệ sản xuất của xã hội
chủ nghĩa. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, không còn con đường
nào khác là công nghiệp hoá, cơ khí hoá cân đối và hiện đại trên trình độ khoa
học kỹ thuật phát triển cao.
Muốn vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát triển tuần tự và phát
triển nhẩy vọt, cùng một lúc thực hiện hai cuộc cách mạng đó là chuyển lao
động thô xơ sang lao động bằng máy móc và chuyển lao động máy móc sang
lao động tự động hoá có sự chỉ đạo của Nhà nước theo định hướng XHCN.
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CNH VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH CNH Ở
VIỆT NAM
1. Những vấn đề lý luận chung về công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH-HĐH)

7

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một khái niệm mà được nhiều chuyên
gia kinh tế đề cập đến, nhiều nghiên cứu định nghĩa về vấn đề này. Lôgic và
lịch sử đều khẳng định rằng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là
bước đi tất yếu mà mỗi dân tộc sớm muộn đều phải trải qua. Trong thời đại
ngày nay công nghiệp hoá bao gồm cả hiện đại hóa làm xuất hiện cụm từ kép
"công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Không nên chỉ hiểu CNH, HĐH theo nghĩa
hẹp, theo nghĩa nó là một quá trình hình thành cách thức sản xuất chỉ tiêu kỹ
thuật và công nghệ hiện đại riêng trong lĩnh vực tiểu công nghiệp mà nên hiểu
theo nghĩa rộng: quá trình đó diễn ra trong tất cả các ngành của nền kinh tế
quốc dân.
Kinh nghiệm CNH ở nhiều nước trên thế giới cho thấy "cốt lõi" của
CNH trong thời đại ngày nay là sự đổi mới trang bị kỹ thuật (phần cứng: máy
móc thiết bị ) và công nghệ (phần mềm: phương pháp, quy tắc, quy trình,
phương thức, kinh nghiệm, kỹ năng ), chuyển từ kỹ thuật và công nghệ lạc

cách phổ biến sức lao động cùng công nghệ và phương tiện hiện đại tạo ra
năng suất lao động cao. Đối với nước ta đó là một quá trình thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu
thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản
xuất tiến bộ. Ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ mới.
Như vậy CNH-HĐH không chỉ là một quá trình tất yếu khách quan đối với
nước ta mà chúng ta có sẵn những cơ sở lý luận vững chắc để áp dụng vào
thực tế nền kinh tế nước ta.
2. Khái quát lịch sử quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam trong thời gian qua
Có thể xem xét thực trạng CNH ở nước ta qua 2 khía cạnh trang bị kỹ
thuật, công nghệ và việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Trên thực tế công
cuộc CNH được tiến hành ở nước ta từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
(1960).
Chủ trương CNH được tiến hành qua các kế hoạch dài hạn 5 năm song
do nhiều điều kiện khách quan gây khó khăn như nền kinh tế vốn nghèo nàn
lạc hậu chính sách cấm vận gây thù địch của Mỹ, trình độ dân trí, nguồn lao
động chưa cao v.v Thực trạng của quá trình CNH còn nhiều khó khăn.
Trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ kết cấu hạ tầng và việc ứng dụng
những thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào sản xuất và dịch vụ còn
thấp kém, lạc hậu.
Qua mấy thập niên CNH, chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở vật
chất - kỹ thuật nhất định. Cho đến nay một số công trình lớn và trọng điểm

9

sau nhiều năm xây dựng và bắt đầu đưa vào hoạt động trong cả công nghiệp
lẫn nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện v.v Tất nhiên so với trình độ
của thế giới vẫn ở trong tình trạng còn thấp kém và lạc hậu: Thành phần kinh
tế nhà nước được trang bị nhiều nhất, cao nhất có tổng số 27,8 nghìn tỷ đồng
tài sản cố định chỉ 26% giá trị thiết bị máy móc, phần lớn thiết bị thuộc hệ kỹ

thấp, đời sống nhân dân vẫn chưa được cải thiện trong một thời gian.
Sớm nhận thức được những biểu hiện chưa phù hợp của các chính sách
kinh tế Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chủ trương mới nhằm khắc phục
khiếm khuyết, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước. Đại hội
toàn quốc lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử
quá trình CNH ở nước ta. Đại hội cũng là đại hội của thời kỳ đổi mới của đất
nước. Đại hội nhận định đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là
một thời kỳ lâu dài và gian khổ trải qua nhiều chặng đường và chúng ta hiện
đang ở chặng đường đầu tiên với nhiệm vụ đề ra là: "ổn định mọi mặt tình
hình kinh tế - xã hội tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy
mạnh CNH trong chặng đường tiếp theo". Trong 5 năm trước mắt (1986-
1990) cần tập trung sức người sức của thực hiện bằng được những mục tiêu
của 3 chương trình kinh tế: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu. Nội dung của chương trình kinh tế là sự cụ thể hoá nội dung chính
của CNH-HĐH trong chặng đường đầu tiên. Bước đầu ta đã đạt được thành
tựu mới: xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Phát triển quan điểm kinh tế của
đại hội VI, Hội nghị ban chấp hành Trung ương đã khẳng định phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời
kỳ quá độ lên CNXH. Trong chính sách này chúng ta đã chuyển từ công tác
kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch hoá định hướng là chủ yếu. Trong thời gian
này đường lối mới của Đảng đề ra từ Đại hội VI đã thu được những thành quả
bước đầu rất quan trọng. Trước tiên trong kinh tế - xã hội đời sống nhân dân
được cải thiện dần dần, ổn định sản lượng lương thực tăng nhanh đáp ứng nhu
cầu trong nước hàng hoá đa dạng thị trường mở rộng, các cơ sở sản xuất gắn
liền với nhu cầu thị trường. Phần bao cấp của nhà nước về vốn, giá, tiền lương
giảm đáng kể, lạm phát được kiểm chế một bước. Các cơ sở kinh tế có điều
kiện hạch toán kinh doanh, mọi mặt của đời sống được nâng lên.
Trên cơ sở phát huy những thành quả đạt được đại hội lần thứ VII (1991)
của Đảng đã kế thừa, phát huy và đề ra chủ trương mới khắc phục những khó

Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại cho một xã hội
trong đó nhân dân làm chủ.
Phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh
là chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác dần trở thành nền tảng.

12

CNH-HĐH được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc điều hành và quản lý quá trình đó
là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm thứ 2: Giữ vững độc lập tự chủ đi đối với mở rộng hợp tác
quốc tế đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ với nước ngoài kết hợp kinh tế
với quốc phòng an ninh, xây dựng nền kinh tế hướng mạnh sản xuất đồng thời
thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quả.
Quan điểm thứ 3: CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân của mọi thành
phần kinh tế, nhà nước là chủ toạ được vận hành theo thị trường có sự quản lý
của nhà nước, mặt khác đây là một vấn đề mới so với quan niệm CNH trước
đây - cho rằng CNH chỉ là sự nghiệp của nhà nước, của các tổ chức quốc
doanh. Ngày nay chúng ta cho rằng đó là sự nghiệp của toàn dân, của mọi
thành phần kinh tế. Nếu toàn xã hội không nhất trí quan tâm, không đề cao
tinh thần tự chủ, tự cường ra sức làm việc có hiệu quả thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí, tham ô, nếu mọi thành phần không coi đó là sự nghiệp của
chính mình thì CNH-HĐH không thể thành công được.
Quan điểm thứ 4: Công nghiệp CNH- HĐH phải lồng việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho sự phát triển nhanh và bền vững,
muốn vậy trong mọi chủ trương, chính sách phải nhằm giải phóng mọi tiềm
năng của con người, phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng trí lực, thể lực,
có chính sách sử dụng nhân tài, tăng trưởng kinh tế phải gắn với cải thiện đời
sống nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội bảo vệ môi trường.

trò cơ sở cuả nông nghiệp, mà trước hết là vấn đề lương thực và thực phẩm.
Đảng ta vẫn luôn khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là khâu đột
phá. Nhờ vậy cho đến nay nông nghiệp và nông thôn nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể. Thắng lợi nổi bật nhất là đã giải quyết về cơ bản
nhu cầu lương thực và thực phẩm cho xã hội và hàng năm đã có thừa gạo để
xuất khẩu với khối lượng không nhỏ. Đã có nhiều tiến bộ trong việc cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp hoá ở nước ta.
b) Một số cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu phát huy tác dụng. Sau nhiều
năm tập trung xây dựng đất nước, chúng ta đã có một cơ sở vật chất kỹ thuật
nhất định, một số công trình lớn và quan trọng đã được đưa vào sử dụng như
nhà máy thuỷ điện Sông Đà, nhà máy thuỷ điện Trị An, nhà máy xi măng
Hoàng Thạch, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy giấy Bãi Bằng

14

Trong nông nghiệp cả nước đã có 654 hồ đập vừa và lớn, hàng vạn hồ
chứa nước, hàng ngàn cống tưới tiêu, hơn 2000 trạm bơm Tất cả những cơ
sở vật chất đó, nếu được điều chỉnh và sử dụng có hiệu quả, rõ ràng sẽ là tiền
đề đáng kể cho sự phát triển nông nghiệp và công nghiệp.
c) Sự đổi mới tư duy kinh tế của đảng đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển
khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới cũng là lúc chúng ta không còn được Liên
Xô viện trợ, điều này lúc đầu quả thật có gây cho ta nhiều khó khăn song nhờ
có sự đổi mới tư duy nhất là đổi mới tư duy kinh tế của Đảng, nền kinh tế
nước ta dần dần đi vào ổn định và ngày càng khởi sắc. Sự giúp đỡ quốc tế đối
với nước ta ngày càng mở rộng. Như vậy tiền đề bên ngoài cần cho việc đẩy
mạnh CNH phải chăng cũng đã có? Tất nhiên mọi việc đang còn ở phía trước,
khó khăn còn nhiều, tất cả phụ thuộc vào sự ổn định và đổi mới hệ thống
chính trị, đổi mới các điều kiện bên trong, để đủ sức sử dụng có hiệu quả điều
kiện quốc tế đồng thời giữ được định hướng đã chọn.
d) Thực tiễn nước ta có những vấn đề nổi cộm mà muốn giải quyết

Nước ta khá thuận lợi so với một số nước về tài nguyên thiên nhiên, khí
hậu và vị trí địa lý nhưng cho đến nay tiềm năng đó mới được khai thác ở
mức thấp để tiềm năng này được khai thác thoả đáng không thể không đẩy
mạnh CNH.
Cuối cùng để thực hiện mục tiêu "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng
văn minh" theo định hướng đã chọn đưa nước ta nhanh chóng vượt qua
"nghèo nàn kém phát triển" trở thành một nước phát triển, cũng không thể
không đẩy mạnh và hoàn thành về cơ bản sự nghiệp CNH.
Tất cả những dấu hiệu vừa nêu cho ta thấy đã đến lúc chúngta phải
chuyển trọng tâm sang đẩy mạnh công nghiệp hoá. Có như vậy mới tiếp tục
giữ vững và phát huy được những thành tựu làm cho mục tiêu và các quan
điểm đổi mới của đảng ta về kinh tế, chính trị và xã hội nhanh chóng trở thành
hiện thực ở nước ta.
e) Đẩy mạnh công nghiệp hoá theo mô hình công nghệ và cơ cấu kinh tế
đã xác định cần quán triệt các quan điểm kết hợp hài hoà mục tiêu "dần giàu
nước mạnh xã hội công bằng văn minh" với hiệu quả kinh tế - xã hội, đẩy
mạnh công nghiệp hoá gắn với quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị
trường. Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá và lợi thế của nước phát triển
sau về công nghiệp, đổi mới cơ chế kinh tế gắn với đổi mới xây dựng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH và HĐH.
Để quán triệt các quan điểm trên cần tính đến vấn đề sau:

16

* Nâng cao dân trí: đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học kĩ thuật, công
nhân lành nghề và cán bộ quản lý có kiến thức về khoa học kĩ thuật và kinh tế
thị trường hiện đại. Như kinh nghiệm các nước có nền kinh tế phát triển và
các nước công nghiệp mới (NIC) cho thấy điều kiện cách mạng khoa học - kĩ
thuật hiện nay, không thể đẩy mạnh CNH nếu không thực hiện chiến lược
phát triển đồng bộ cả tư liệu sản xuất hiện đại và con người hiện đại. Nói con

Chỉ có thể tái sản xuất mở rộng vốn khi tuân thủ 2 nguyên tắc bồi hoàn
và sinh lợi. Cũng chỉ có thể thực hiện hai nguyên tắc đó mới có khả năng tạo
được nhiều vốn. Muốn vậy chúng ta không thể không có các nhà quản lý tài
ba và đức độ, không thể không nâng cao trình độ quản lý. Thực hiện hợp đồng
thông qua đấu thầu không thể không có cơ chế rõ ràng về quyền lợi và nghĩa
vụ qua các hợp đồng ký kết.
* Bác Hồ thường gắn sản xuất với tiết kiệm "sản xuất mà không tiết
kiệm thì khác gì gió vào nhà trống". Ngày nay Đảng ta coi "tiết kiệm là quốc
sách". Đồng chí Đỗ Mười - Tổng Bí thư Đảng còn nói "tiết kiệm để đầu tư" rõ
ràng có thể thực hiện tích luỹ qua nhiều con đường, trong đó có 2 con đường
chủ yếu: gia tăng sản xuất và thực hành tiết kiệm, không tham ô, lãng phí. Ở
nước ta, tăng trưởng kinh tế chưa nhiều, đã vậy tệ lãng phí, tham nhũng và
buôn lậu làm thất thoát vốn của các doanh nghiệp và nguồn thu của nhà nước
lại đang là "quốc nạn" chỉ cần giảm một nửa số vốn thất thoát do các tệ nạn
nói trên, chúng ta sẽ có một lượng vốn không nhỏ cho CNH đất nước.
* Phân phối và sử dụng đúng mức đúng chỗ lại có hiệu quả cao sức
người sức của trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá. Ngoài đầu tư cho
giáo dục và đào tạo cần tập trung đầu tư cho các lĩnh vực sau.
Trên cơ sở bảo đảm kết cấu hạ tầng đi trước một bước so với sản xuất
trực tiếp, ưu tiên xây dựng các ngành giao thông vận tải, điện, nước, thuỷ lợi
và thông tin bưu điện theo hướng ngày một hiện đại.
Hướng toàn bộ tiềm năng của các thành phần kinh tế vào việc thực hiện
nhiệm vụ công nghiệp hoá nông nghiệp. Đối với sản phẩm nông, lâm và ngư
nghiệp, hình thành và phát triển dịch vụ hệ thống đầu vào và đầu ra, nhất là
đầu ra. Thông qua công nghiệp chế biến, bảo quản và xuất khẩu, bằng cách đó
chúng ta sẽ làm cho nông nghiệp tự cấp tự túc trở thành nông nghiệp hàng hoá
và nông thôn trở thành thị trường rộng lớn tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp.
Đặc biệt chú ý một số ngành công nghiệp tư liệu sản xuất và công nghiệp
khai thác có thế mạnh (như dầu khí, than, một số kim loại quý hiếm ) có thể


đại hoá và nâng cao hiệu quả công nghệ đó.
Trong những năm trước mắt nhiệm vụ thứ 2 là rất quan trọng và cấp
bách bởi vì trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa với bên ngoài.
Những cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ truyền thống và công nghệ cơ khí.

19

Thông thường không nâng được năng suất và chất lượng sản phẩm
không đảm bảo được khả năng cạnh tranh ngay cả trong trường hợp có sự bảo
hộ của nhà nước. Những cơ sở đó không thể đứng vững, phải thu hẹp hoặc
đóng cửa, sự thật đã diễn ra tại một số nơi trong thời gian qua.
Về mặt quản lý kinh tế - xã hội nếu không áp dụng rộng rãi các thành tựu
của điện tử và tin học thì không thể nâng cao được trình độ quản lý lên ngang
tầm thời đại, một đòi hỏi cấp bách hiện nay của giao lưu kinh tế, hiện nay một
chính sách rất được quan tâm là "đòn đấm công nghệ cao" từ sau thế chiến
thứ 2 dựa vào chính sách này mà Nhật Bản tiếp theo là Cộng hoà Triều Tiên
và Đì Loan đã nhanh chóng đuổi kịp các nước đi trước vượt lên trong nhiều
ngành công nghệ cao và đã tạo ra những kì tích kinh tế đáng kinh ngạc.
Những biểu hiện của nền kinh tế đã được HĐH được quy định bởi mức
sống cao do cách mạng công nghệ, trình độ chuyên môn cao trong sản xuất và
năng suất lao động cao. HĐH kinh tế còn được biểu hiện ở sự gia tăng của
vốn với những quy mô tích luỹ và đầu tư hiện đại, sự tham gia rộng rãi vào thị
trường trên cơ sở một kết cấu hạ tầng hiện đại về giao thông vận tải và thông
tin liên lạc. HĐH nền kinh tế cũng không tách rời một bộ máy hành chính
quản lý hữu hiệu, một học vấn càng nâng cao của người lao động, một sự phổ
cập rộng rãi các trí thức khoa học và đổi mới công nghệ.
Bên cạnh HĐH nền kinh tế còn là quá trình HĐH xã hội và chính trị, đây
là quá trình hoàn thiện cơ cấu xã hội, chuyên môn hoá các chức năng của cơ
chế xã hội. Thực hiện cuộc cách mạng trí thức thông qua việc phát triển các
phương tiện thông tin, tăng chi phí cho giáo dục, đảm bảo sự ổn định chính trị

nghiệp hoá - hiện đại hoá trước mắt cũng như lâu dài phải tính đến yếu tố
hàng đầu của nguồn nhân lực. Ở đây vấn đề là giáo dục là cái nền của chất
lượng nhân lực, không phải nhân lực chung chung mà ở đây nhân lực của một
nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Ngoài việc bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nhân lực còn đòi hỏi phải
chú ý đến chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng. Phát huy sức mạnh của năm
thành phần kinh tế.Muốn vậy phải kiểm soát giảm những yếu tố tự phát trong
cơ chế mới và đảm bảo nó phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Về thị trường và vốn: Thị trường cũng là một nhân tố quan trọng, là
nơi mà công nghiệp hoá có thể thành công, là môi trường cạnh tranh tạo sự
phát triển về kinh tế nó là nơi giải quyết các mâu thuẫn tồn tại bên trong nền
kinh tế. Do vậy chúng ta cần chú ý đến cả thị trường trong nước và ngoài
nước để tạo ra động lực.

21

Bên cạnh các nhân tố làm nên công nghiệp hoá còn rất nhiều các yếu tố
liên quan đến chính sách của Nhà nước, tài nguyên, môi trường tự nhiên
+ Thực tiễn đã chứng minh công nghiệp hoá là động lực trực tiếp để
phát triển kinh tế.
Việt Nam là một nước có điểm xuất phát về kinh tế thấp chịu hậu quả
của chiến tranh, kinh tế phát triển muộn. Muốn phát triển nhanh nền kinh tế,
muốn rút ngắn khoảng cách lạc hậu cần phát huy các điểm sau:
Phải sử dụng lợi thế nước phát triển muộn về công nghiệp. Chúng ta có
được những kinh nghiệm quý báu về thành công lẫn thát bại của các nước đi
trước. Thừa kế những kinh nghiệm đó, Đảng ta đã khẳng định "tăng trưởng
kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc
dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái". Thừa kế các công nghệ tiên tiến của
trong và ngoài nước thông qua chuyển giao công nghệ làm chủ trương để tăng
trưởng công nghiệp, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho lực lượng xã hội. Tránh

người Việt Nam chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng trong một tương lai không
xa Việt Nam sẽ cất cánh trở thành con rồng châu Á và chúng ta hoàn thành
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước Việt Nam sánh vai với
các nước bạn bè trong cộng đồng quốc tế trên con đường phát triển.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đối với cô
giáo phụ trách bộ môn. Cô đã hướng dẫn và định hướng cho em đề cập đề tài
một cách khoa học và nghiêm túc.
Công nghiệp hóa - hiện đại hoá là một đề tài hết sức rộng lớn, vì vậy
trong bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất
mong được sự góp ý của cô và các bạn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo trình kinh tế nông nghiệp
- Sách về thực trạng CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
"NXB Thống kê Hà Nội - 1998"
- CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
"NXB chính trị quốc gia"
- Tạp chí cộng sản số ra tháng 1/1999
- Tạp chí phát triển kinh tế số 95, tháng 9/1999, số tháng 2/2001.

23

- Những vấn đề kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB giáo dục
1996.

24

MỤC LỤC

Trang

TÀI LIỆU THAM KHẢO.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status