Tiểu luận khoa học chính trị
Đề tài Máy móc và lao động trong
SX GTTD
1
LỜI GIỚI THIỆU Việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực
lượng sản xuất ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhờ đó không những
các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu ngạch cao mà đời sống
của những người lao động tại nghiệp cũng được cải thiện và hình thành tầng lớp
trung lưu trong xã hội.
Trước thực tế đó, cộng thêm sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung
quan liêu ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều người nghi ngờ tính đúng đắn của khoa
học kinh tế chính trị Mác- Lênin, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư “hòn đá
tảng” trong các học thuyết kinh tế của Mác.
Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư tấn công vào “hòn đá tảng”
này bằng nhiều luận điểm khác nhau. Phê phán những luận điểm đó, chúng ta
tập trung vào việc nghiên cứu máy móc và lao động trong quá trình sản xuất
giá trị thặng dư để giải thích quan niệm trên.
2
I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG
1) Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không
thể được xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó trong quá
trình phát triển chủ nghĩa tư bản đã tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là
máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn
của giá trị thặng dư
Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của máy móc
với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với tư cách
là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị.
Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi
vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật
phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá
trị trao đổi.
a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu
cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử
dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là
một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử
dụng không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã
hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua
bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
b. Giá trị hàng hoá: muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi
biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng
khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với
4
nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở
chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người sản
xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là
cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản
xuất hàng hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá.
Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là
lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số
lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao
động vật hoá thể hiện ở tư liệu sản xuất)
Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có
có mày móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu
dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao
giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong
quá trình sản xuất.
C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống như bình cổ
cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong thì không thể diễn ra các
phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng
hoá học diễn ra, chứ không trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy,
thiết bị, máy móc chỉ tạo đIều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản
thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị.
ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng
máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó là do công
nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá
xuống thấp hơn giá trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông
qua cạnh tranh lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch.
6
Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật cao nhất và có khối lượng sản phẩm lớn nhất
trong ngành, có gía trị cá biệt của sản phẩm thấp hơn giá trị thị trường, nên thu
được lợi nhuận siêu ngạch.
Như vậy, việc thu lợi nhuận siêu ngạch diễn ra qua cạnh tranh giữa những
người sản xuất hàng hoá trên thị trường chứ không phải trong sản xuất. Cơ chế
thị trường khắc nghiệt dựa trên nguyên tắc “ mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt
cá bé”. Kẻ thắng nhận được phần thưởng là lợi nhuận siêu ngạch, kẻ thua bị
trừng phạt, không thu lại đủ số lao động (sống và quá khứ) đã hao phí. Nhưng
giá trị của phần thưởng (+28) vừa đúng bằng khoản “ cúp phạt” nghĩa là không
vượt ra ngoài tổng số gía trị và gía trị thặng dư đã được tạp ra trong lĩnh vực sản
xuất.
Nếu thiếu sức trừu tượng hóa, chỉ quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi
sâu vào bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư
với việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là
nhằm tránh hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình do bảo quản kém hoặc sử
dụng không hợp lý. Trên tầm vĩ mô, nhà nước cần có chính sách khuyến khích
các doanh nghiệp khấu hao nhanh như một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển
đã làm
2) Lao động với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người dùng để sản xuất ra
của cải vật chất. Trong bất cứ chế độ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện
cơ bản của sản xuất. Nhưng sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong những
điều kiện lịch sử nhất định.
Một là, người lao động phải là người có tự do về thân thể, do đó được tự do sử
dụng sức lao động của mình, kể cả tự do bán sức lao động của mình cho người
khác.
8
Hai là, người lao động hoàn toàn mất hết mọi tư liệu sản xuất, chỉ còn lại sức
lao động là tài sản duy nhất. Để khỏi chết đói, họ không có con đường nào khác
là phải mang bán thứ tài sản duy nhất đó.
Hai điều kiện đó vạch ra khả năng và tính tất yếu của sự chyển biến sức lao
động thành hàng hoá. Hàng hoá sức lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn mới
trong sự phát triển của xã hội- giai đoạn mà sản xuất hàng hoá phát triển cao
nhất và chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế, đó là sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Do đó, hàng hoá sức lao động là một phạm trù lịch sử đặc thù của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó sinh ra và mất đi cùng với phương thức sản xuất
đó. Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính: giá
trị và giá trị sử dụng.
a. Giá trị của hàng hoá sức lao động: là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất và tái sản xuất sức lao động. Nói cách khác cụ thể thì giá trị của hàng hoá
sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người
công nhân và gia đình họ, và những chi phí để đào tạo người công nhân có một
trình độ chuyên môn nhất định phù hợp với yêu cầu của sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Giá trị sức lao động còn có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ theo điều kiện
ta khỏi phải quy lao động phức tạp ra lao động giản đơn trong từng trường hợp
một”. Những ai vô tình hay hứu ý mà quên mất giả định trên sẽ cho rằng C.Mác
chỉ quy công tạo ra giá trị cho lao động đơn gi
ản cho lao động thể lực
II. NỘI DUNG GÍA TRỊ THẶNG DƯ
1) Lao động thặng dư:
Mác nói: “Nếu không có một năng suất nào đó của lao động thì sẽ không có
một thời gian rỗi như thế cho ngươì lao động, nếu không có một thời gian rỗi
10
như thế thì cũng không có lao động thặng dư. Và do đó cũng không có nhà tư
bản, và lại càng không có chủ nô. Nói tóm lại là không có giai cấp đại sở hữu”.
Chỉ khi nào nhờ lao động của mình mà con người thoát được cái trạng thái súc
vật lúc ban đầu của mình, do đó chỉ khi nào bản thân lao động của con người đã
được xã hội hoá đến một mức nào đó thì khi đó mới xuất hiện những mối quan
hệ trong đó lao động thặng dư của người này trở thành điều kiện sinh tồn của
người khác.
Vậy lao động phải có một mức độ năng suất nào đó, trước khi nó có thể bị
kéo dài ra quá thời gian tất yếu cần cho người sản xuất để nuôi sống mình.
Nhưng dù mức độ của năng suất cao thấp thế nào chăng nữa, năng suất đó cũng
không bao giờ lại là nguyên nhân sinh ra giá trị thặng dư cả. Nguyên nhân đó
bao giờ cũng là lao động thặng dư, vô luận phương thức bóp nặn lao động thặng
dư là như thế nào chăng nữa.
1) Giá trị thặng dư:
Nếu việc coi giá trị chỉ là thời gian lao động đã cô đọng lại, chỉ là lao động đã
vật hoá là rất quan trọng để nhận thức được giá trị nói chung thì việc coi giá trị
thặng dư chỉ là thời gian lao động thặng dư đã cô đọng lại. Chỉ là lao động thặng
dư đã vật hoá, cũng quan trọng như để nhận thức giá trị thặng dư.
Vì giá trị của tư bản khả biến bằng giá trị sức lao động mà tư bản đã mua, vì
giá trị sức lao động ấy lại quyết định phần cần thiết của ngày lao động. Còn giá
xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. Sự sản xuất đó là cơ sở chung cho chế độ tư
bản chủ nghĩa và là điểm xuất phát để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối.
12
Trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối đó, ngày lao động chia thành
hai phần: lao động tất yếu và lao động thặng dư. Để kéo dài lao động thặng dư
ra, lao động tất yếu tất sẽ bị rút ngắn lại bằng những phương pháp khiến người
ta sản xuất một vật ngang giá với tiền công mà lại mất ít thời gian hơn. Việc sản
xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối chỉ ảnh hưởng đến thời gian lao động mà thôi,
còn việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối thì lại làm biến đổi hoàn toàn các
biện pháp kỹ thuật và các kết hợp xã hội của lao động. Như vậy là nó phát triển
cùng với phương thức sản xuất thực sự tư bản chủ nghĩa.
2) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: là cái giá trị thặng dư
mà trái lại có được là do rút ngắn thời gian lao động tất yếu và do sự thay đổi
tương xứng trong lượng tương đối của hai phần hợp thành ngày lao động.
Ví dụ có một ngày lao động mà chúng ta đã biết giới hạn và ngày lao động đó
chia thành lao động tất yếu và lao động thặng dư. Đường thẳng ac
đại biểu chẳng hạn cho một ngày lao động 12 giờ, phần ab là 10 giờ lao động tất
yếu và phần bc là 2 giờ lao động thặng dư. Nếu không kéo dài ac ra thì làm thế
nào mà có thể tăng việc sản xuất ra giá trị thặng dư lên được. Dù lượng ac là cố
định nhưng bc hình như có thể kéo dài ra được, nếu không phải bằng cách kéo
dài bc ra ngoài điểm cố định c - điểm này đồng thời cũng là điểm tận cùng của
ngày lao động thì ít ra cũng phải bằng cách lùi điểm xuất phát b về phía a. Giả dụ trong đường thẳng bb’ bằng một nửa bc nghĩa là bằng một giờ lao
động. Nếu bây giờ trong ac, điểm b bị đẩy lùi về phía b’ thì lao động thặng dư
trở thành b’c, tăng lên một nửa, tăng từ 2 giờ lên 3 giờ dù toàn bộ ngày lao động
Muốn cho việc nâng cao năng suất lên làm cho giá trị sức lao động hạ thấp
xuống, thì việc đó phải được thực hiện trong những ngành công nghiệp sản xuất
ra những sản phẩm quyết định giá trị của sức lao động đó. Nghĩa là, những
ngành công nghiệp cung cấp hoặc những hàng hoá cần thiết cho đời sống của
công nhân, hoặc những tư liệu để sản xuất ra hàng hoá đó.
14
Việc tăng năng suất lao động, trong khi làm cho giá cả những hàng hoá đó hạ
xuống, thì đồng thời cũng làm cho giá trị của sức lao động hạ xuống. Ngược lại,
trong những ngành công nghiệp không cung cấp những tư liệu sinh hoạt, cũng
không cung cấp những yếu tố vật chất của những tư liệu sinh hoạt đó, thì năng
suất tăng lên cũng không làm ảnh hưởng gì đến giá trị của sức lao động cả.
Một hàng hoá mà giá rẻ đi, thì chỉ làm giảm giá trị sức lao động theo tỷ lệ
nhiều ít mà hàng hoá đó được dùng để tái sản xuất ra sức lao động đó. áo sơ mi
chẳng hạn là một vật cần thiết bậc nhất, nhưng cũng còn nhiều vật cần thiết bậc
nhất khác nữa. Giá áo sơ mi hạ xuống thì chỉ giảm bớt chi tiêu của người công
nhân để mua cái vật cá biệt đó thôi. Tổng số những vật cần thiết cho đời sống
chỉ gồm có những hàng hoá như thế do các ngành công nghiệp khác nhau sản
xuất ra.
Giá trị của từng hàng hoá thuộc loại đó là một phần của giá trị sức lao động,
toàn bộ phần giảm đi của giá trị sức lao động đó thì được đo bằng tổng số thời
gian mà lao động tất yếu đã được rút ngắn đi trong tất cả các ngành sản xuất đặc
biệt. Kết quả cuối cùng ở đó, chúng ta coi như là kết quả trực tiếp và mục đích
trực tiếp. Khi một nhà tư bản hạ thấp giá áo sơ mi xuống, chẳng hạn bằng cách
nâng cao năng suất lao động lên thì không nhất thiết nhà tư bản có ý định làm
giảm bớt giá trị của sức lao động và do đó rút ngắn ngày lao động mà người
công nhân dùng để làm việc cho bản thân.
Nhưng rút cục lại chỉ có góp phần làm cho đạt được kết quả đó, nhà tư bản
mới giúp cho việc nâng tỷ suất chung của giá trị thặng dư lên được. Phải phân
biệt những xu hướng chung và tất yếu của tư bản với những hình thức biểu hiện
của những xu hướng đó.
Khi xã hội ở vào hình thái mà về mặt kinh tế không phải giá trị trao đổi mà là
giá trị sử dụng chiếm ưu thế, thì lao động thặng dư ít nhiều bị hạn chế bởi phạm
16
vi những nhu cầu nhất định. Nhưng tính cách của chính ngay nền sản xuất thì
không gây nên một sự thèm khát cao độ về lao động thặng dư. Nhưng vấn đề là
phải thu được giá trị trao đổi dưới hình tháI riêng biệt của nó bằng cách sản xuất
ra vàng và bạc.