Máy móc và lao động - Pdf 72

LỜI GIỚI THIỆU V
iệc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng
sản xuất ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhờ đó không những các tập đoàn
tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu ngạch cao mà đời sống của những người lao
động tại nghiệp cũng được cải thiện và hình thành tầng lớp trung lưu trong xã hội.
Trước thực tế đó, cộng thêm sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung quan
liêu ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều người nghi ngờ tính đúng đắn của khoa học kinh tế
chính trị Mác- Lênin, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư “hòn đá tảng” trong các
học thuyết kinh tế của Mác.
Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư tấn công vào “hòn đá tảng” này
bằng nhiều luận điểm khác nhau. Phê phán những luận điểm đó, chúng ta tập trung vào
việc nghiên cứu máy móc và lao động trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư để giải
thích quan niệm trên.

1
I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG

1) Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể được
xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó trong quá trình phát triển
chủ nghĩa tư bản đã tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là máy móc, đưa chủ
nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn công nghiệp cơ khí. Máy
móc xuất hiện vào thế kỷ 17 và ngày càng được hoàn thiện. ở thời kỳ cách mạng công
nghiệp, thông thường các máy móc đều gồm ba bộ phận cơ bản. Máy móc không
ngừng được cải tiến, phát triển, hình thức hoàn thiện nhất của nó hiện nay là máy tự

cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
a.
Giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu
nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của
hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù
vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử dụng không phải cho
con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay
người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị
sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
b.
Giá trị hàng hoá: muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi biểu
hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau.
Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ
nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí sức lao
động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng
hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao
đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng
hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá.
Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao
động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số lượng lao động
3
xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật hoá thể hiện ở
tư liệu sản xuất)
Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có ích
dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao
động cụ thể có một mục đích riêng, phương pháp hoạt động riêng, công cụ lao động
riêng, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của người thợ
xây, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là tạo ra
một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá.

tạo đIều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản thân nó không trực tiếp tham
gia vào việc tăng giá trị.
ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng máy
móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó là do công nghệ tiên tiến
làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá
trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông qua cạnh tranh lại bán theo
giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật
cao nhất và có khối lượng sản phẩm lớn nhất trong ngành, có gía trị cá biệt của sản
phẩm thấp hơn giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Như vậy, việc thu lợi nhuận siêu ngạch diễn ra qua cạnh tranh giữa những người sản
xuất hàng hoá trên thị trường chứ không phải trong sản xuất. Cơ chế thị trường khắc
nghiệt dựa trên nguyên tắc “ mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Kẻ thắng nhận
được phần thưởng là lợi nhuận siêu ngạch, kẻ thua bị trừng phạt, không thu lại đủ số
lao động (sống và quá khứ) đã hao phí. Nhưng giá trị của phần thưởng (+28) vừa đúng
bằng khoản “ cúp phạt” nghĩa là không vượt ra ngoài tổng số gía trị và gía trị thặng dư
đã được tạp ra trong lĩnh vực sản xuất.
Nếu thiếu sức trừu tượng hóa, chỉ quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi sâu
vào bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư với việc sản
xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra
giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là đIều kiện để thu được lợi nhuận
siêu ngạch thông qua cạnh tranh.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status