BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Nghiên cứu máy móc và lao động trong quá
trình sản xuất giá trị thặng dư
1
MỤC LỤC
BÀI TIỂU LUẬN......................................................................................................................................................1
Đề tài: Nghiên cứu máy móc và lao động trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư................................................1
MỤC LỤC.................................................................................................................................................................2
LỜI GIỚI THIỆU......................................................................................................................................................2
I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG................................................................................................................................3
1) Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:.................................................................................................3
2) Lao động với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:.......................................................................................................8
3) Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực...........................................................10
II. NỘI DUNG GÍA TRỊ THẶNG DƯ...................................................................................................................10
1) Lao động thặng dư: ............................................................................................................................................10
II. QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:...........................................................................................12
LỜI GIỚI THIỆU
Việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực
lượng sản xuất ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhờ đó không những
các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu ngạch cao mà đời sống
của những người lao động tại nghiệp cũng được cải thiện và hình thành tầng lớp
trung lưu trong xã hội.
Trước thực tế đó, cộng thêm sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung
quan liêu ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều người nghi ngờ tính đúng đắn của khoa
học kinh tế chính trị Mác- Lênin, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư “hòn đá
tảng” trong các học thuyết kinh tế của Mác.
Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư tấn công vào “hòn đá tảng”
này bằng nhiều luận điểm khác nhau. Phê phán những luận điểm đó, chúng ta
tập trung vào việc nghiên cứu máy móc và lao động trong quá trình sản xuất
giá trị thặng dư để giải thích quan niệm trên.
lao động sống thêm vào trong đó để bù lại tư bản khả biến đã được dùng để mua
sức lao động (ngang với giá trị sức lao động và m là giá trị thặng dư dôi ra
ngoài giá trị sức lao động). Như vậy, nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ là lao
động sống.
Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư cho rằng điều đó chỉ đúng
trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm ưu thế, còn ngày nay
trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu
của giá trị thặng dư
Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của máy móc
với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với tư cách
là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị.
Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi
vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật
phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá
trị trao đổi.
a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu
cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử
dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là
một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử
dụng không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã
hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua
bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
b. Giá trị hàng hoá: muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi
biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng
khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với
4
nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở
chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người sản
xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là
cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian.
Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia
vào đây không còn được xét với tư cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ
được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả
rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản
phẩm chứ đừng nói đến việc tạo thêm giá trị.
Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất, trong đó
có mày móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu
dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao
giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong
quá trình sản xuất.
C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống như bình cổ
cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong thì không thể diễn ra các
phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng
hoá học diễn ra, chứ không trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy,
thiết bị, máy móc chỉ tạo đIều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản
thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị.
ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng
máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó là do công
nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá
xuống thấp hơn giá trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông
qua cạnh tranh lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch.
6