Tỷ giá hối đoái - Việc ngân hàng Nhà nớc khống chế chênh lệch giữa tỷ giá
mua và tỷ giá bán là cứng nhắc. Điều này làm cho tỷ giá vận hành
thoát ly hoàn toàn quan hệ cung cầu và không khuyến khích các tổ
chức tín dụng, các ngân hàng thuơng mại hoạt động theo đúng quan
hệ nội tại của nó và thực tế không ít các ngân hàng thơng mại đã
phá rào. Cuối cùng sự vận động của tỷ giá trong giai đoạn này đã
gợi nên một số điểm cần lu ý trong việc điều hành chính sách nh
sau:
* Trớc tiên, những vận động của TGHĐ trong giai đoạn này
cho thấy TGHĐ của Việt Nam phá nhạy cảm trớc những thay đổi
của tình hình kinh tế từ bên ngoài và yếu tố tâm lý, cán cân thơng
mại luôn là những yếu tố có trọng số lớn đối với sự vận động của
TGHĐ.
* Việc sử dụng các công cụ hành chính trong can thiệp vào tỷ
giá là cần thiết vào những lực cung cầu, ngoại tệ có những mất cân
bằng nhng phải đủ mạnh để yếu tố tâm lý không có khả năng phát
huy tác động xấu.
Các nghiệp vụ trên thị trờng còn quá sơ sài, khi thị trờng
mua 2.2. Giai đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam á (tháng 7 năm 1997).
Trớc những tồn tại của việcthả nổi mất kiểm soát tỷ giá,
chính phủ đã thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung
cụ thể sau:
- Quy định biên độ giao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức
đợc công bố bởi Ngân hàng nhà nớc (công bố tỷ giá chính thức
mỗi ngày và xác định rõ biên độ giao động); Tăng cờng sức mạnh
của các biện pháp hành chính mà cụ thể là buộc các đơn vị kinh tế
(trớc hết là đơn vị kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ phải bán cho
9 năm 1994.
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện pháp can
thiệp đã đem lại một kết quả nh mong đợi, nạn đầu cơ ngoại tệ về
Tỷ giá hối đoái cơ bản đã đợc giải toả, những đồng ngoại tệ đã đợc hớng mạnh
và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Tình hình cung - cầu
ngoại tệ đã đợc cải thiện với cùng kỳ trong những năm trớc đó,
Dola có xu hớng giảm giá. Mức tỷ giá trên thị trờng chợ đen chỉ
giao động trong phạm vi từ 10200 đến 10400 đồng Việt Nam ăn 1
Đôla Mỹ. Thậm chí có lúc tỷ giá tụt xuống ở mức 1USD =
9750VND. Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng tình hình này phần lớn
là nhờ vào lợng kiều hối vào nhiều (ớc tính trong tháng 1 năm
1993, nhân dịp tết nguyên đán, có trên 60.000 việt kiều về thăm quê
đã đem theo một lợng ngoại tệ khoảng 400 triệu Dola Mỹ). Dĩ
nhiên không thể phủ nhận đóng góp của lợng kiều hối này vào việc
làm ra tăng cung ngoại tệ trên thị trờng. Trên thực tế cho thấy,
lợng kiều hối này tăng giảm hoàn toàn không ổn định qua các năm
và chỉ tập trung vào những thời gian ngắn nhất định trong năm,
trong khi tình hình cung - cầu ngoại tệ và TGHĐ luôn đợc ổn định
trong suốt thời gian dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.
Mức tỷ giá trên thị trờng chính thức cũng không có sự chênh
lệnh nhiều so với tỷ giá trên thị trờng chợ đen, là minh chứng cho
thấy, mặc dù có sự can thiệp mạnh trở lại của nhà nớc, nhng tỷ
giá vấn đợc xác định tơng đối phù hợp với quy luật của thị trờng.
Điều này có thể đợc chứng minh bằng thực tế là tỷ giá của các
Ngân hàng và tỷ giá trên thị trờng chợ đen biến động tơng đối sát
gần nhau.
Một minh chứng nữa là tính từ năm 1993 đến 1996, tình hình
3150 triệu Dollar Mỹ). Nếu so sánh mức thâm hụt này với tổng kim
ngạch xuất khẩu thì con số cũng có chiều hớng tăng lên (năm 1993
là 8,4% năm 1994 là 12,8% năm 1995 là 18,4% và năm 1996 là
17,7%)
Bên cạnh đó sự thâm hụt trong cán cân thơng mại của Việt
Nam phải đặc biệt nghiêm trọng trong 3 năm liên tiếp 1994,1995,
1996, có thể nói phần lớn là do tác động trực tiếp của việc Trung
Quốc phá giá mạnh của đồng NDT vào đầu năm 1994. Số liệu thực
tế cho thấy, ngay sau cuộc phá giá kim ngạch nhập khẩu từ Trung
Tỷ giá hối đoái Quốc (chính ngạch) tăng lên rất nhanh. Nếu nh trong năm 1992
kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là 31,8% USD, chiếm 1,3%
tổng kim ngạch xuất khẩu thì trong các năm 1994, 1995, 1996, con
số này lần lợt là 144,2% triệu USD chiến 2,7%, 793,9 triệu USD
chiếm 10,5% và 926,5% triệu USD chiếm 8,8%. Thực tế đó cũng đã
chỉ ra rằng sụe điều hành chính sách TGHĐ và chính sách ngoại
thơng của Việt Nam trong giai đoạn từ cuối năm 1993 đến đầu
năm 1997 đôi khi quá thụ động. Sự phá giá mạnh của đồng NDT
vào cuối năm 1993 là một sụ kiịen không có tác động trực tiếp đến
ngoại thơng của Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Nhng có thể thấy rằng trong suốt những năm 1993 đến 1995, hoàn
toàn không có bất kỳ một điều chỉnh nào trong chính sách tỷ giá hối
đoái nhằm phản ánh hay đối phó tình hình này (điều này phản ánh
tính tự chủ trong chính sách tiền tệ nói chung và trong đó có chính
sách tỷ giá hối đoái nói riêng là cha cao). Tỷ giá tính ché trực tiếp
giữa NDT của Trung Quốc và Việt Nam cũng nh hoạt động buôn
bán tiểu ngạch ở các tỉnh biên giới phỉa bắc hầu nh vẫn đợc "thả
nổi".
biên giới tây nam.
Thứ hai , đối với lĩnh vực đầu t:
Do tỷ giá tăng, lãi suất tăng, thị trờng hàng hoá diễn biến
phức tạp cùng với dự đoán không tốt trong tơng lai tất yếu sẽ là các
doanh nghiệp hạn chế đầu t và Ngân hàng cũng rất dè dặt khi cho
vay. Đầu t nớc ngoài vào Việt Nam đã có xu hớng giảm ngay từ
trớc khi nổ ra cuộc khủng hoảng, sau khi cuộc khủng hoảng, nhiều
dự án đầu t dở dang bị đình lại, nhiều phơng án đầu t mới tạm
hoãn và điều này cũng thật rễ hiểu khi mà các quốc gia bị khủng
hoảng nặng nề lại là những quốc gia đang dẫn đầu danh sách những
quốc gia đầu t nhiều nhất vào Việt Nam.
Thứ ba, đối với thu chi ngân sách nhà nớc.