Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
Báo cáo
“ Thực trạng thị trường chứng
khoán Việt Nam - một số giải pháp
để phát triển”
1
1
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Qua một thời gian học tập và tìm hiểu môn lý thuyết tài chính tiền
tệ và môn thị trường chứng khoán, em đã bước đầu hiểu được những vấn
đề cơ bản về thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhằm đáp ứng yêu cầu
của môn học và nhằm tìm hiểu rõ hơn về thị trường chứng khoán, em đã
tìm kiếm ,thu thập tài liệu và viết bài luận về môn này với nhan đề “ Thực
trạng thị trường chứng khoán Việt Nam - một số giải pháp để phát triển”
cấu trúc của bài được chia làm 3 phẩn:
- Phần 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán
- Phần 2: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam - Một số
giải pháp để phát triển.
- Phần 3: Kết luận
Do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn nên chắc chắn bài viết
còn nhiều thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài
viết này được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
2
2
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
PHẦN 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1/Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về TTCK, nhưng thị
- Thị trường chứng khoán là hạt nhân trung tâm của thị trường tài
chính, nơi diễn ra quá trình phát hành, mua bán các công cụ nợ và các
công cụ vốn (các công cụ sở hữu).
4
TT tiền tệ Thị trường vốn
TTCK
TT Nợ TT Vốn cổ phần
TT Trái phiếu TT Cổ phiếu
4
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
2.2/ Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những
sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ
hạn trên 1 năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
a. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp.
· Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát
hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà
phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát
hành.
· Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng
khoán đã phát hành.
b. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở
giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
c. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính Phủ.
Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo hiệu quả về
các chu kỳ kinh doanh trong tương lai.
4/ Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những
sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ
hạn trên 1 năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
a. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
6
6
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp.
· Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát
hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà
phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát
hành.
· Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng
khoán đã phát hành.
b. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở
giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
c. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường:
thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng
khoán phái sinh.
· Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và
PHẦN 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN
1/ Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
Sau hơn 6 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán còn non
trẻ của Việt Nam đã dần phát triển về nhiều mặt dần định hình trở thành
một kênh huy động vốn năng động, hiệu quả cho nền kinh tế đất nước.
Tính đến nay đã có 63 công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán và mỗi phiên giao dịch có tổng khối lượng niêm yết trung bình là
11363.09 tỷ đồng. Thị trường chứng khoán đã huy động được một khối
lượng vốn nhất định cho ngân sách nhà nước thông qua việc đấu thầu và
bảo lãnh phát hành hàng nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
của Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để niêm yết trên TTGDCK. Một hệ
thống các tổ chức tài chính trung gian tham gia trên thị trường với 19
công ty chứng khoán, 16 các tổ chức hoạt động lưu ký cùng với ngân
hàng lưu ký, ngân hàng chỉ định thanh toán đã thực hiện tốt các nghiệp vụ
về kinh doanh chứng khoán, về lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ.
Trong những năm qua, các công ty chứng khoán đều đã triển khai được
các nghiệp vụ cơ bản là môi giới và tự doanh, tích cực tham gia tư vấn
niêm yết với kết quả kinh doanh có chiều hướng phát triển tốt. Các công
ty phần lớn đã mở thêm chi nhánh và đại lý nhận lệnh để mở rộng phạm
vi hoạt động. Đồng thời thị trường chứng khoán đã thu hút được sự tham
gia của công chúng đầu tư trong và ngoài nước với số lượng hơn 53.000
tài khoản của nhà đầu tư được mở tại các công ty chứng khoán, góp phần
quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán.
9
9
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
Tuy nhiên so với tiềm năng phát triển của nền kinh tế, xu hướng
hội nhập quốc tế thì quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam còn
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
biệt là ưu đãi về thuế đối với các tổ chức tham gia thị trường chưa được
chú ý đúng mức có ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận hành và phát triển
của thị trường chứng khoán. Mặt khác, việc quản lý và điều hành thị
trường còn bất cập, hạn chế do sự thiếu chủ động và thiếu kinh nghiệm
thực tiễn của cơ quan quản lý và giám sát thị trường. Điều rất quan trọng
là hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán thiếu
đồng bộ và hiệu lực pháp lý không cao, chưa có Luật chứng khoán để tạo
môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định để điều chỉnh mọi hoạt động trên thị
trường chứng khoán phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và định
hướng, chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm
2010 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế v.v
Thứ hai, Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị
trường chứng khoán hiện nay ở Việt Nam còn chưa phù hợp vớI sự phát
triển của thị trường. Các văn bản pháp luật hiện hành chủ yếu điều chỉnh
hoạt động của thị trường chứng khoán bao gồm: Nghị định số
144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 (thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng
khoán); Nghị định số 22/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/7/2000 về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán: Nghị định số 64/2002/NĐ/CP về cổ phần hoá các doanh
nghiệp Nhà nước: Luật doanh nghiệp ban hành ngày 12/6/1999 cùng với
các văn bản hướng dẫn thi hành bước đầu đã tạo được khung pháp lý góp
phần xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán trong thời gian qua.
Tuy nhiên, do sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng
khoán Việt Nam nói riêng, đến nay, hệ thống pháp luật về chứng khoán
và thị trường chứng khoán đã bộc lộ những điểm hạn chế nhất định làm
cản trở sự phát triển của thị trường, chưa bao quát và phù hợp với điều
kiện thực tế cũng như định hướng chiến lược phát triển thị trường chứng
khoán đến năm 2010.
các nước với nhau một cách dễ dàng. Thị trường vốn cũng sẽ được tự do
chuyễn từ những quốc gia phát triển sang các nước kém phát triển hơn để
12
12
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
đầu tư. Như vậy TTCK Việt Nam sẽ càng được phát triển nhơ sự tham gia
của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông qua TTCK.
Ngoài ra, khi các doanh nghiệp Việt Nam gia nhập vào WTO sẽ có
cơ hội phát triển, từ đó các công ty sẽ lớn mạnh và được tham gia niêm
yết trên thị TTCK. Vì vậy, TTCK Việt Nam sẽ có thêm nhiều loại hàng
hóa mới để các nhà đầu tư lựa chọn. Đó là những tín hiệu đáng mừng cho
TTCK Việt Nam.
Bên cạnh đó TTCK Việt Nam cũng sẽ găợ không ít những thách
thức như:
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt đầu năm 1997 từ châu Á
đã lan sang Nga, Trung và Nam Mỹ, thị trường tiền tệ biến động lây
lan sang thị trường chứng khoán, rồi từ quốc gia này đến quốc gia
khác. Sự đổ vỡ của thị trường bất động sản, sự thua lỗ của các công ty
dẫn đến hiện tượng giảm giá cổ phiếu và trở thành trào lưu rút vốn ồ ạt
ra khỏi TTCK của một nước rồi cả một khu vực. Đây là một nguy cơ
đối với TTCK Việt Nam khi kết nối với nền kinh tế thế giới.
Một nguy cơ khác, theo các chuyên gia kinh tế là sự quá phụ
thuộc vào luồng vốn quốc tế, dẫn đến tình trạng lệ thuộc kinh tế và
thậm chí là chính trị. Thực tế cho thấy, đây là điều đáng lo ngại vì
nhiều nước không đủ khả năng kiểm soát quá trình hội nhập khiến nền
kinh tế rơi vào tình trạng mất chủ quyền do áp dụng hoàn toàn những
quy định của nước mạnh. Ở mức độ thấp hơn là nguy cơ biến dạng thị
trường khi các cường quốc mạnh áp đặt những nguyên tắc của họ vào
các nước nhỏ, làm cho những nước nhỏ phải thay đổi những nguyên
tắc, chuẩn mực ban đầu của họ. Hậu quả là, thị trường một nước yếu
thị trường để họ trở thành những nhà dẫn dắt chính cho thị trường phát
triển.
14
14
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
15
15
Bài tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ
KẾT LUẬN
Như vậy, sau 6 năm hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam đã
đạt được những thành công bước đầu đáng nhận. Tuy nhiên trong bối
cảnh đất nước đang trong quá trình hội nhập và phát triển một cách mạnh
mẽ thì thị trường chứng khoán Việt Nam cần phải phát huy hơn nữa vai
trò của mình như là một kênh huy động vốn chủ yếu của nền kinh tế.
Chính vì vậy nghiên cứu thực trạng của nền chứng khoán Việt Nam hiện
nay là một vấn đề hết sức cần thiết.
Trong phạm vi chuyên đề này chỉ nghiên cứu một phần nhỏ những
mặt còn yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam và đưa ra một số giải
pháp để phát triển trong tương lai. Hy vọng rằng trong những năm tới thị
trường chứng khoán Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu
vốn cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước và thực sự trở thành một
phần quan trọng không thể thiếu của nền tài chính Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện bài viết này không thể tránh khỏi những
thiếu sót, kính mong sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết này được
hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
16
16