Thực trạng thị trờng chứng khoán việt nam
I-Thị trờng sơ cấp .
Đầu t thông qua thị trờng sơ cấp có hai hình thức chính là đầu t vào cổ phiếu và
đầu t vào trái phiếu.
1. Đầu t vào cổ phiếu.
Thực trạng của đầu t vào cổ phiếu ở Việt Nam đợc thể hiện thông qua một
số điểm sau:
Thứ nhất là Doanh nghiệp nhà nớc thực hiện cổ phần hoá bán đấu giá
qua các tổ chức trung gian tài chính.
Trong 5 năm qua, từ 2001- 2005, theo quy định của nghị định số 187/NĐ-
CP ngày 16/11/2004 về chuyển công ty nhà nớc thành công ty cổ phần, chúng ta
đã cổ phần hoá đợc 2.188 doanh nghiệp, đa tổng số doanh nghiệp Nhà nớc CPH
lên gần 2.900 doanh nghiệp. Chúng ta sắp xếp lại 3.450 doanh nghiệp nhà nớc
trong tổng số 5.655 doanh nghiệp nhà nớc có vào đầu năm 2001.Vốn của nhà nớc
là 33.863 tỷ đồng, bằng 12% tổng vốn nhà nớc đầu t ở các doanh nghiệp nhà nớc
(280.000 tỷ đồng). Có thể nói rằng kết thúc năm 2005 đã cơ bản hoàn thành cơ
cấu lại doanh nghiệp nhà nớc, đã giảm mạnh các doanh nghiệp nhà nớc nhỏ, thua
lỗ, DNNN tập trung hơn vào những lĩnh vực then chốt; Việc cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nớc thực hiện theo đúng tinh thần nghị quyết TW3. Nhìn một
các tổng thể và toàn diện các nhiệm vụ Trung ơng đặt ra, bao gồm sắp xếp,đổi
mới, phát triển doanh nghiệp nhà nớc, đồng thời doanh nghiệp nhà nớc phải nắm
giữ những lĩnh vực quan trọng trọng yếu của nền kinh tế.
Nghị định 187/2004/NĐ-CP là một bớc tiến mạnh bạo trong việc chuyển
công ty nhà nớc sang công ty cổ phần. Sở dĩ nói là mạnh bạo là vì chúng ta vừa
qua thời kỳ cơ chế thị trờng quan liêu bao cấp. Các doanh nghiệp nhà nớc chủ yếu
hoạt động phụ thuộc vào ngân sách nhà nớc cha thực sự có tính tự hạch toán kinh
tế. Do đó, chúng ta có thể nói rằng việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc là
một bớc tiến lớn và rất hợp lý với tình hình kinh tế của chúng ta hiện nay.
Nội dung của nghị định 187/2004/NĐ-CP Quy định nh sau: đối với doanh
nghiệp bán đấu giá cổ phần có giá trị dới 1 tỷ có thể thực hiện trong nội bộ công
ty. Đối với doanh nghiệp bán đấu giá cổ phần có giá trị trên 1 tỷ đến 10 tỷ phải
3 Thu lợi cho nhà nớc 1468,6
(Nguồn: Tạp chí chứng khoán Việt Nam số 1 + 2 năm 2006).
So sánh số lợng cổ phần mua đợc với đăng ký mua của các nhà đầu t thì tỷ
lệ này thấp, đạt tỷ lệ 66,05%, và tính trên mỗi nhà đầu t thì con số mua đợc là
khoảng 53 nghìn cổ phần tơng đơng với 530 triệu đồng (theo mệnh giá).
Bảng tỷ lệ cổ phần các nhà đầu t mua đợc trên số lợng cổ phần đăng ký mua
năm 2005.
1 Tổng số nhà đầu t đăng ký tham gia đấu
giá
Nhà đầu t 582
2 Tổng số cổ phần đăng ký mua Cổ phần 470.072.200
3 Tổng số cổ phần mua đợc Cổ phần 310.499.095
4 Tỷ lệ cổ phần mua đợc so với cổ phần
chào bán (4=3:2)
% 66,02
( Nguồn: tạp chí chứng khoán Việt Nam số 1+ 2 năm 2006).
Qua bảng số liệu này cho ta thấy: sự phản ánh sự tham gia tích cực của các
nhà đầu t vào thị trờng này. Và kỳ vọng những con số lớn hơn trong các năm tới.
Qua đây cho chúng ta thấy việc bán đấu giá cổ phần góp phần chính làm
sôi động thị trờng sơ cấp giúp cho thị trờng chứng khoán Việt Nam có thêm
những bớc tiến mới trong lĩnh vực thị trờng chứng khoán.
Thứ hai là tình hình các nhà đầu t nớc ngoài tham gia vào thị trờng chứng
khoán Việt Nam.
Thị trờng chứng khoán Việt Nam đã đợc 6 năm hình thành và phát triển.
Tuy nhiên, t khi chính phủ ban hành quyết định 238/2005/QĐ-TTg nới rộng tỷ lệ
tham gia của bên nớc ngoài vào thị trờng chứng khoán Việt Nam từ 30% lên 49%,
thị trờng đã có những chuyển biến tích cực.
Mặc dù vậy, khoảng cách của Việt Nam với các nớc trong khu vực còn khá
xa. Đặc biệt về độ lớn của thị trờng và số lợng chứng khoán niêm yết. Toàn bộ giá
trị thị trờng với chứng khoán niêm yết hiện nay khoảng 5,3 tỷ USD. Và với thói
Qua bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, trái phiếu là một công cụ hữu hiệu
để nhà nớc sử dụng trong việc huy động vốn trong nhân dân. Đối với Việt Nam thì
trái phiếu chính phủ là một công cụ an toàn tiện lợi mọi ngời dân không a mạo
hiểm thì có thể cho vay vốn của mình thông qua hình thức này.
Tình hình hoạt động của thị trờng chứng khoán năm 2006 có nhiều sự thay
đổi.
Hoạt động đấu thầu trái phiếu chính phủ tai trung tâm giao dịch chứng
khoán theo thông t 21/2004/TT-BTC ngày 24/3/2004 của bộ tài chính hớng dẫn
việc đấu thầu trái phiếu chính phủ, trái phiếu đợc chính phủ bảo lãnh, trái phiếu
chính quyền địa phơng qua thị trờng chứng khoán giao dịch tập trung. Theo thông
t 21/BTC, trái phiếu đấu thầu tại trung tâm giao dịch chứng khoán bao gồm: trái
phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ơng, trái phiếu công trình địa phơng,
trái phiếu đầu t, trái phiếu đợc chính phủ bảo lãnh. Và các loại trái phiếu này sau
khi đấu thầu qua trung tâm giao dịch chứng khoán, đợc niêm yêt/ đăng ký giao
dịch trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Song hành với việc đấu thầu trái phiếu
chính phủ tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, tính đên
ngày 30/6/2006, sau hơn một năm chính thức đi vào hoạt động, trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chức đợc 9 đợt đấu thầu trái phiếu, huy động đợc
1.115 tỷ đồng. Tuy nhiên, với quyết định 2276/QĐ-BTC của bộ tài chính ban hành
ngày 20/6/2006 (Quyết định 2276/QĐ-BTC), từ ngày 1/7/2006 hoạt động đấu
thầu trái phiếu chính phủ đã chính thức chuyển giao cho trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nội đảm trách. Với mốc ngày 1/7 cho tới ngày 31/8, trung tâm
giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chức 5 đợt đấu thầu trái phiếu chính phủ
thành công, huy động đợc 1.385 tỷ đồng. Cụ thể, đợt 1 phát hành đợc 175 tỷ
đồng/200 tỷ đồng gọi thầu trái phiếu đô thị cho quỹđầu t phát triển đô thị thành
phố Hồ Chí Minh (Hifu), bao gồm 100 tỷ đồng là loại cổ phiếu có kỳ hạn 5 năm
và 75 tỷ đồng là loại có kỳ hạn 10 năm; Đợt 2, huy động đợc 300 tỷ đồng/300 tỷ
đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm gọi thầu của kho bạc nhà nớc, với mức lãi
suất trúng thầu đạt 8,63%; Đợt 3, phát hành 500 tỷ đồng/500 tỷ đồng trái phiếu
chính phủ kỳ hạn 5 năm của kho bạc nhà nớc phát hành, với lãi suất 8,25%; Đợt
đồng. Tính đến hết ngày 15/9/2006, Kho bạc nhà nớc đã huy động đợc gần
40.000 tỷ đồng, trong đó 6.197 tỷ đồng đợc huy động qua 18 phiên đấu thầu qua 2
trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Dự kiến từ
nay đến cuối năm 2006, kho bạc nhà nớc sẽ huy động 2.000 3.000 tỷ đồng
thông qua đấu thầu tại trung tâm giao dịch chứng khoán . Năm 2007 sẽ huy động
12.000 tỷ đồng qua trung tâm giao dịch chứng khoán trong tổng số 63.500 tỷ
đồng huy động cho ngân sách nhà nớc và cho đầu t phát triển.
Qua những con số trên cho chúng ta thấy. Tình hình phát hành trái phiếu
hiện nay là khác xa so với trớc đây, khi trên 50% số phiên đấu thầu tại trung tâm
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh là không thành công hoặc thành
công ở mức hạn chế. Trong khi đó, việc tập trung trái phiếu chính phủ đa về trung
tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội để đấu thầu thì thấy không những tỷ lệ thành
công của các đợt đấu thầu cao hơn mà lãi suất trúng thầu có xu hớng thấp xuống.
Việc triển khai Quyết định 2276/BTC hơi chậm, nhng trên thực tế kết quả thu đợc
là rất lớn và tạo ra nền tảng phát triển bền vững. Và việc tập trung đấu thầu trái
phiếu chính phủ về một nơi tạo tiền đề cho việc tổ chức một thị trờng thứ cấp hiệu
quả hơn. Nh vậy chúng ta có thể nói rằng việc đấu thầu trái phiếu chính phủ của
chúng ta trong thời gian qua có nhiều bớc tiến lớn. Đây là thành tựu chúng ta đáng
ghi nhận.
Việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trờng quốc tế. Năm 2005, đợc
coi là năm thành công cho việc huy động vốn đầu t nớc ngoài, cũng là năm đánh
dấu một sự kiện việc phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trờng quốc tế thành
công ngoài mong đợi.
Bảng số liệu về: Một vài thông số của đợt phát hành trái phiếu chính phủ ra
thị trờng quốc tế:
Tiêu chí đơn vị Giá trị
Dự kiến phát hành Tỷ USD 0,5
Số lợng đăng ký mua Tỷ USD 4,5
Khối lợng bán ra Tỷ USD 0,75
Số lợng nhà đầu t Nhà đầu t 255
và từ 300 triệu đến 500 triệu USD trên thị trờng vốn quốc tế, một quan chức
EVN cho biết. Cũng theo vị quan chức này, ngay trong năm 2006, EVN đã đăng
ký với bộ tài chính phơng án phát hành trái phiếu quốc tế giá trị khoảng 500 triệu
USD. Trởng đoàn phát hành trái phiếu quốc tế (TPQT) năm 2005, bà Lê Thị Băng
Tâm khẳng định, EVN, Petrovietnam... hay bất cứ tổng công ty nào có nhu cầu
phát hành trái phiếu ra thị trờng vốn quốc tế, Bộ tài chính sẽ tạo điều kiện giúp đỡ.
Nhng bộ tài chính sẽ không đứng ra trả nợ lãi và gốc đến hạn thay cho doanh
nghiệp. Doanh nghiệp nào phát hành thì phải có trách nhiệm trả nợ cho nhà đầu t-
, bà Tâm khẳng định.
Kết luận: Từ đây chúng ta có thể kết luậnđợc rằng, việc đầu t chứng khoán
thông qua việc đấu thầu trái phiếu đã giúp cho chúng ta huy động một lợng vốn
lớn. Đặc biệt hơn cả là nó giúp cho chính phủ Việt Nam có một nguồn thu lớn để
đầu t vào cơ sở hạ tầng. Và nó là một nhân tố quan trọng giúp cho thị trờng
chứng khoán Việt Nam lớn mạnh so với thị trờng chứng khoán quốc tế.
II- Thị trờng thứ cấp
Sau khi chứng khoán đợc phát hành ở thị trờng sơ cấp, thì các chứng khoán
này trớc hết đợc diễn ra mua bán trên thị trờng sơ cấp. Đây là lần đầu chứng
khoán đợc giao dịch do đó chúng ta gọi là thị trờng sơ cấp. Nhng công việc mua
bán chứng khoán không chỉ dừng lại ở đây. Sau quá trình mua bán trao đổi lần thứ
nhất thì chứng khoán tiếp tục đợc chuyển đổi chủ sở hữu, gọi là lần giao dịch thứ
cấp hay còn gọi đây là thị trờng thứ cấp. Không có thị trờng sơ cấp hay việc phát
hành chứng khoán ở thị trờng sơ cấp thì không có thị trờng thứ cấp. Nhng mặt
khác, thị trờng thứ cấp tạo tiền đề cho thị trờng sơ cấp phát triền mạnh và tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát hành chứng khoán ở thị trờng thứ cấp lần tiếp theo.
Trớc khi nói đến việc đầu t chứng khoán ở thị trờng thứ cấp thì chúng ta
nên nói tới tình hình niêm yết chứng khoán ở Việt Nam hiện nay. Vì nhờ có việc
niêm yết chứng khoán mà các nhà đầu t chứng khoán yên tâm hơn khi mua các
chứng khoán của các đơn vị phát hành chứng khoán.
1. Thực trạng niêm yết chứng khoán ở Việt Nam hiện nay.
Việt Nam có hai trung tâm giao dịch chứng khoán là trung tâm giao dịch