BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
GVHD: TS. Nguyễn Minh Tuấn
SVTH: Lâm Anh Quốc-07709711
Tp.HCM, ngày 20 tháng 12 năm 2010
Mục lục
Phần mở đâu
1) Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………….…………4
2) Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………….…… 4
3) Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………….…….4
4) Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………….……5
5) Kết cấu đề tài……………………………………………………………………….…5
Phần nội dung
Chương 1 cơ sở lí luận
1) Tổng quan về Quản Trị Marketing………………………………………………….5
2) Quảng cáo và đặc điểm của quảng cáo………………………………………………7
3) E-marketing và đặc điểm của E-marketing…………………………………………9
1
Chương 2 thực trạng quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam
1) Tổng quan về quảng cáo trực tuyên…………………………………………16
2) Tiềm năng của quảng cáo trực tuyên…………………………………………… 17
3) Thị trường quảng cáo trực tuyến ở việt nam các năm gần đây……………………19
4) Đánh giá và giải pháp………………………………………………………………25
4.1)Các nguyên nhân khiến quảng cáo trực tuyến chưa phát triển………… 25
4.2)Một số giải pháp cho thị trường quảng cáo trực tuyến ở việt nam……….27
chương 3 Đánh giá môn học
1) Nhận xét…………………………………………………………………………… 30
phẩm đến với người tiêu dùng.
- E-marketing( quảng cáo trực tuyến) là một trong những thể loại quảng cáo
mới mẻ trong thời đại hiện nay, trong môi trường toàn cầu hóa, và công nghệ đang
phát triển một cách nhanh chóng, thì sự phủ sóng của internet trên toàn thế giới sẽ
là điều tất yếu sẽ xảy ra. Một hình thức quảng cáo mới mẻ, nhưng chi phí lại tốn ít
hơn quảng cáo cổ điển và mang lại hiệu quả cao… đó cũng là vấn đề khiến tất cả
3
các nhà kinh doanh quan tâm, nhưng làm thế nào để thực hiện.Thông qua bài báo
cáo này để hiểu rõ hơn về E-marketing
2) Đối tượng nghiên cứu
- Tổng quan về Quản trị Markting
- Quảng cáo và cách tính năng của quảng cáo
- Thị trường quảng cáo trực tuyến của Việt Nam qua các năm gần đây
- Một số vấn đề và cách giải quyết của thị trường quảng cáo trực tuyến
3) Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng gồm phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phân tích, thống kê, suy luận logic, phương pháp chuyên gia và kỹ
thuật.
Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu theo thời gian từ quá khứ tới hiện tại và dự đoán trong tương
lai
- Trong một không gian vĩ mô, là thị trường quảng cáo trực tuyến tại việt
nam
- Các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp, từ các nguồn dữ
liệu
4) Phạm vi nghiên cứu
- Không gian là tình hình và tiềm lực hiện nay của thị trường quảng cáo trực
tuyến Việt Nam
- Thời gian: quá khứ và hiện tại.
- Nội dung nghiên cứu: thị trường quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam.
vào việc hoàn thiện sản phẩm, không cần phải khuyến mãi. Ngược lại, những người theo
triết lý bán hàng tin chắc rằng người tiêu dùng sẽ không mua nhiều sản phẩm nếu doanh
nghiệp thiếu các nỗ lực bán hàng và quảng cáo. Triết lý marketing nhận thức rằng nhiệm
5
vụ của doanh nghiệp là xác định nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu và đem
lại sự thõa mãn cao hơn và hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh. Bốn trụ cột chính của quan
điểm này là thị trường mục tiêu, nhu cầu của của khách hàng, marketing phối hợp và khả
năng sinh lợi. Triết lý marketing xã hội chủ trương rằng sứ mệnh chủ yếu của doanh
nghiệp là tạo ra sự thõa mãn cho khách hàng, đáp ứng lợi ích của xã hội và trên cơ sở đó
mà đạt các mục tiêu của tổ chức.
- Quá trình vận hành hệ thống marketing chịu sự chi phối của bốn mục tiêu cơ
bản: tối đa hóa mức độ tiêu dùng, khả năng lựa chọn mua hàng, sự thõa mãn của người
tiêu dùng và chất lượng cuộc sống. nhiều người tin tưởng rằng mục tiêu của marketing
nên nhằm vào mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống và phương tiện thích hợp nhất để
đạt được điều đó là quan điểm marketing mang tính xã hội.
- Quản trị marketing được thực hiện theo một tiến trình bao gồm: phân tích cơ hội
thị trường, xác định thị trường mục tiêu (đo lường và dự báo nhu cầu, phân đoạn thị
trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị thị trường), hoạc định chiến lược marketing,
triển khai marketing-mix, tổ chức thực hiện và kiểm tra hoạt động marketing. Vì thị
trường luôn thay đổi và không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại mà chỉ dựa vào sản
phẩm và thị trường đang có, nên nó phải điều tra nghiên cứu khách hàng, phân tích
những biến đổi của môi trường, các xu hường tiêu dùng, thái độ ứng xử của người mua,
qua đó mà phát triển các cơ hội và vận dụng vào hoạt động marketing của mình. Doanh
nghiệp cần phải đo lường nhu cầu hiện tại, dự báo nhu cầu tương lai của thị trường về sản
phẩm để quyết định quy mô kinh daonh và cách thức thâm nhập thi trường. doanh nghiệp
cũng phải phân đoạn thì trường theo những đặc điểm của khách hàng và chọn thị trường
mục tiêu đủ sức hấp dẫn về quy mô, cơ cấu và phù hợp với khả năng marketing của mình.
Đối với mỗi thị trường mục tiêu cần xác định vị trí của của nhãn hiệu sản phẩm trong tâm
trí khách hàng thế thuộc tính có ưu thế đặc biệt so với đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở đó,
hình thành một chiến lược marketing với những mục tiêu và marketing-mix phù hợp,
4. Thông điệp quảng cáo có thể được chuyển đến khách hàng bằng nhiều phương
tiện truyền thông khác nhau.
5. Quảng cáo tiếp cận đến một đại bộ phận khách hàng tiềm năng.
6. Quảng cáo là một hoạt động truyền thông marketing phi cá thể
d) Các thể loại quảng cáo
Quảng cáo thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như:
7
- Truyền hình
- Báo chí
- Internet
- Phát thanh
- Quảng cáo trực tuyến
- Quảng cáo qua bưu điện
- Quảng cáo trên các phương tiện vận chuyển
- Quảng cáo qua các trang vàng
- Quảng cáo trên tờ rơi, áp phích, pano hay băng-rôn
- Quảng cáo trên bao bì sản phẩm
- Quảng cáo qua gửi thư trực tiếp
- Quảng cáo truyền miệng
- Quảng cáo từ đèn LED
e) Các loại hình quảng cáo phổ biến.
- Quảng cáo thương hiệu (brand advertising): Quảng cáo xây dựng thương hiệu
nhằm xây dựng một hình ảnh hay sự nhận biết về một thương hiệu về lâu dài. Nội dung
quảng cáo nầy thường rất đơn giản vì chỉ nhấn mạnh vào thương hiệu là chính.
- Quảng cáo địa phương (local advertising): Quảng cáo địa phương chủ yếu
thông báo đến khách hàng rằng sản phẩm đang có mặt tại một điểm bán hàng nào đó
nhằm lôi kéo khách hàng đến cửa hàng. (như quảng cáo khai trương của hàng hay quảng
cáo của các siêu thị).
- Quảng cáo chính trị (political advertising): Chính trị gia thường làm quảng
cáo để thuyết phục cử tri bỏ phiếu cho mình hoặc ủng hộ chính kiến, ý tưởng của minh.
trực tuyến (E-marketing).
- Cũng như các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trực tuyến nhằm cung cấp thông
tin, đẩy nhanh tiến độ giao dịch giữa người mua và người bán. Nhưng quảng cáo trên
Web khác hẳn quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng khác, nó giúp người
tiêu dùng có thể tương tác với quảng cáo. Khách hàng có thể nhấn vào quảng cáo để lấy
thông tin hoặc mua sản phẩm cùng mẫu mã trên quảng cáo đó, thậm chí họ còn có thể
mua cả sản phẩm từ các quảng cáo online trên Website.
- Quảng cáo trực tuyến đã tạo cơ hội cho các nhà quảng cáo nhắm chính xác
vào khách hàng của mình, và giúp họ tiến hành quảng cáo theo đúng với sở thích và thị hiếu
của người tiêu dùng. Các phương tiện thông tin đại chúng khác cũng có khả năng nhắm chọn,
nhưng chỉ có mạng Internet mới có khả năng tuyệt vời như thế.
b) Đặc điểm của quảng cáo trực tuyến
9
- Đặc điểm cơ bản của hình thức quảng cáo trực tuyến là khách hàng có thể tương
tác với quảng cáo, có thể click chuột vào quảng cáo để mua hàng, để lấy thông tin về sản
phẩm hoặc có thể so sánh sản phẩm này với sản phẩm khác, nhà cung cấp này với nhà
cung cấp khác…
- Quảng cáo trực tuyến sẽ giúp cho nhà cung cấp có thể lựa chọn được khách
hàng mục tiêu và tiềm năng mà doanh nghiệp muốn hướng tới từ đó giúp doanh nghiệp
cắt giảm được nhiều chi phí, nâng cao hiệu quả của công việc kinh doanh. Đây là đặc
điểm cơ bản nhất mà các loại hình quảng cáo khác không có được như: quảng cáo Tivi,
Raddio, báo giấy
10
c) Hiệu quả của quảng cáo trực tuyến
- Hiệu quả của quảng cáo trực tuyến mang lại vô cùng lớn nay khi mà Internet
đã chiếm lĩnh thị trường, chỉ cần một vài lần click chuột là bật cứ đâu trên thế giới này
bạn cũng có thể biết thông tin của bất kỳ sản phẩm, dịch vụ hay như các thông tin mà
bạn muốn.
- Việc quảng cáo trên mạng sẽ giúp bạn lựa chọn định vị được khách hàng tiềm
năng, khách hàng mục tiêu do đó sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí giúp doanh nghiệp nâng
trên tivi, báo chí và bảng thông báo.
- Quảng cáo trực tuyến-Tính linh hoạt và khả năng phân phối: Một quảng cáo
trên mạng được truyền tải 24/24 giờ một ngày, cả tuần, cả năm. Hơn nữa, chiến dịch
quảng cáo có thể được bắt đầu cập nhật hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào. Nhà quảng cáo có thể
theo dõi tiến độ quảng cáo hàng ngày, xem xét hiệu quả quảng cáo ở tuần đầu tiên và có
thể thay thế quảng cáo ở tuần thứ hai nếu cần thiết. Điều này khác hẳn kiểu quảng cáo
trên báo chí, chỉ có thể thay đổi quảng cáo khi có đợt xuất bản mới, hay quảng cáo tivi
với mức chi phí rất cao cho việc thay đổi quảng cáo thường xuyên.
- Quảng cáo trực tuyến-Tính tương tác: Mục tiêu của nhà quảng cáo là gắn
khách hàng triển vọng với nhãn hiệu hoặc sản phẩm của họ. Điều này có thể thực hiện
hiệu quả trên mạng, vì khách hàng có thể tương tác với sản phẩm, kiểm tra sản phẩm và
nếu thoả mãn thì có thể mua. Ví dụ, một quảng cáo cho phần mềm máy tính có thể đưa
khách hàng tới nơi trưng bày sản phẩm để lấy thông tin và kiểm tra trực tiếp. Nếu khách
hàng thích phần mềm đó, họ có thể mua trực tiếp. Không có loại hình thông tin đại chúng
nào lại có thể dẫn khách hàng từ lúc tìm hiểu thông tin đến khi mua sản phẩm mà không
gặp trở ngại nào như mạng Internet.
e) Quảng cáo trực tuyến có những hạn chế sau:
- Khác với các phương tiện quảng cáo khác, để tiếp cận được với quảng cáo trực
tuyến đối tượng tiềm năng của bạn phải có máy tính và máy tính phải được nối mạng
Internet
- Người dùng phải có kỹ năng duyệt web
- Ở các nước phát triển, việc tin tưởng vào quảng cáo và mua hàng trực tuyến đang
rất phổ biến, còn ở nước ta, đây mới chỉ là xu hướng và chỉ thực sự có hiệu lực cho một
số ngành nghề phù hợp.
12
- Các văn bản và chính sách đang trong quá trình hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở cho
lừa đảo trực tuyến phát triển cũng làm giảm độ tin cậy của quảng cáo trực tuyến.
f) Các loại hình quảng cáo trực tuyến:
- E-mail marketing: Hình thức quảng cáo trực tuyến sơ khởi và khá phổ biến. Nó
tạo cơ hội cho các công ty tùy biến nội dung quảng cáo và phân phối tới khách hàng với
quảng cáo của Google sẽ được hãng chia hoa hồng theo tỷ lệ.
- Rich Media/Video: Một hình thức tiềm năng của quảng cáo trên các phương
tiện truyền thông được các chuyên gia kinh tế đánh giá cao với các video quảng cáo như
trên truyền hình. Những địa chỉ tiện lợi và có hiệu quả cho các loại hình này là các trang
web chia sẻ video, hoạt hình, nhạc trực tuyến và đặc biệt là trò chơi trực tuyến. Các công
ty quảng cáo có thể đăng xen sản phẩm, dịch vụ vào các loại hình này đồng thời xây
dựng một số thành phần tích hợp liên quan đến thương hiệu của họ. Hình thức này được
dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các loại hình quảng cáo trực tuyến.
g) Những lưu ý khi mua quảng cáo trực tuyến
- Cũng giống như bất kỳ phương tiện quảng cáo khác, khi thực hiện chiến dịch
quảng cáo trên mạng bạn phải được lập kế hoạch chiến lược nhằm đảm bảo tiền bỏ ra
được sử dụng hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra.
- Bạn cần trả lời được câu hỏi: Thị trường được nhắm tới có ở trên mạng không?
Và nếu có thì ở chỗ nào trên mạng?. Mặc dù nhiều con số thống kê về mạng Internet còn
chưa thống nhất, nhưng điều không thể phủ nhận là mạng toàn cầu này có hàng tỉ người
sử dụng. Tuy nhiên, nếu không ai trong số những người vào mạng này nằm trong thị
trường mà bạn nhắm tới thì chiến dịch quảng cáo trên mạng trở nên vô ích.
Hãy điểm qua những thế mạnh của quảng cáo trực tuyến vượt trội so với quảng cáo
truyền thông:
- Phân khúc thị trường rõ ràng: Mỗi website hay công cụ trên Internet đều có
những đối tượng sử dụng nhất định. Việc khảo sát thông tin người sử dụng được thực
hiện khá đơn giản và đáng tin cậy, giúp các doanh nghiệp định hướng chính xác con
đường ngắn nhất dẫn đến khách hàng tiềm năng của mình. Khách hàng có thể dùng các
hình thức như đặt banner ở các site nổi tiếng, lượng truy cập đông hay lựa chọn quảng
14
cáo Google Adwords và dịch vụ SEO (tối ưu hóa website trên các công cụ tìm kiếm)…
Các hình thức này giúp cho doanh nghiệp tìm đúng khách hàng mục tiêu.
- Ghi nhận phản ứng khách hàng: Bao nhiêu người nhìn thấy mẫu quảng cáo sản
phẩm của bạn? Bao nhiêu người đã click vào? Họ đã xem những thông tin gì, lưu lại ở
mục nào lâu nhất trong website về sản phẩm? Tất cả những thông tin quan trọng này chỉ
Thời gian quảng cáo ngắn: Chỉ tính
theo phút, giây
Phạm vi quảng Toàn thế giới nơi có kết nối Toàn quốc nơi có phủ sóng truyền
15
cáo Internet. hình.
Người xem
quảng cáo
Tập trung, đúng đối tượng
Phân tán, số lượng đông, nhưng phần
nhiều không quan tâm đến quảng cáo
vì họ không có nhu cầu, họ xem để
giải trí.
Thời điểm xem
quảng cáo
Bất kỳ thời điểm nào trong ngày,
truy cập vào website là thấy
quảng cáo
Cố định tại thời điểm phát sóng, theo
chương trình lên lịch trước
Tính chủ động
khi xem quảng
cáo
Xem quảng cáo tự nguyện và
chủ động, khả năng giao dịch
thành công sẽ cao
Xem quảng cáo bị động, có thể gây
phản cảm, khán giả thường chuyển
kênh khi đến quảng cáo
Lượng thông
tin truyền tải
Thông tin không được phát lại trừ khi
ký hợp đồng và thanh toán chi phí
quảng cáo mới
Chương 2: Thực trạng thị trường quảng cáo trực tuyến ở việt nam
1) Tổng quang về E-marketing:
16
- Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ với tốc độ phát triển Internet đáng kinh ngạc
kể từ khi bắt đầu có Internet năm 1997. Hiện tại có khoảng 25,1 triệu người sử dụng
Internet, tốc độ tăng trưởng khoảng 30% mỗi năm và có thể lên tới 47 triệu người vào
năm 2013. Tỷ lệ người tham gia các mạng xã hội lên tới 16,12 triệu tức là 77,5% tổng số
người dùng Internet.
Tin tức, báo mạng chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống trực tuyến khi có tới 89%
lượng truy cập rơi vào các trang báo điện tử, 82% sử dụng các công cụ tìm kiếm, 73%
chat và dịch vụ email được khai thác ở mức 58%
- Game trực tuyến cũng là điểm hấp dẫn do đặc điểm dân số trẻ. Có tới 57% thanh
thiếu niên tại các thành phố thường xuyên tham gia các trang game online.
- Tốc độ phát triển về băng thông Internet cũng giúp cho các hình thức giải trí như
nghe nhạc (67%), xem video trực tuyến (43%), download/upload ảnh (30%), webcam
(21%) phát triển mạnh. Các trang thông tin dành cho lứa tuổi teen đạt tới hàng triệu
pageviews mỗi tháng càng khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lứa tuổi này tới
sự phát triển của Internet Việt Nam.
- Blog cũng có sức hấp dẫn rất lớn đối với giới trẻ khi có khoảng 55% thanh niên
trong lứa tuổi 15 đến 25 sở hữu blog cho riêng mình.
2) Tiềm năng của nghành quảng cáo trực tuyến tại việt nam:
a) Quảng cáo trực tuyến
- Năm 2009, thị trường quảng cáo trực tuyến của Việt Nam đạt khoảng 15,5 triệu
USD. So với năm 2008 thì mức tăng trưởng đạt khoảng 71%, và phần lớn (khoảng 80%)
là hình thức thông qua hình thức bán ô quảng cáo (banner).
- Đánh giá của những nhà phân tích đưa ra cho thấy, nhịp độ tăng trưởng của thị
trường quảng cáo Internet Việt Nam trong vòng 2-3 năm tới sẽ đứng ở mức khoảng
lượng khách hàng tăng 200%/năm, tăng trưởng giao dịch trên 15%/tháng và trên
150%/năm. Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) cũng cho hay, hiện có 10 doanh
nghiệp ký kết hợp đồng chính thức với VIB, chấp nhận cho thanh toán các giao dịch mua
bán hàng hóa, dịch vụ bằng “Ví điện tử Mobivi”
3 )Thị trường quảng cáo trực tuyến việt nam qua những năm gần đây
a) Thị trường những năm trước
- Công ty Nghiên cứu Thị trường Cimigo vừa công bố bản báo cáo chi tiết
doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam. Quy mô thị trường quảng cáo trực
tuyến ở Việt Nam ước đạt 278 tỉ VNĐ (tương đương 15,5 triệu đô-la Mỹ). năm 2009
18
- “Dù vẫn còn non trẻ, nhưng thị trường quảng cáo Việt Nam đã tăng trưởng
71% so với năm 2008”, ông Lukas Mira, giám đốc trực tuyến của Cimigo nhận xét.
Đây là lần đầu tiên một nguồn dữ liệu đáng tin cậy về đề tài quảng cáo trực tuyến
được công bố ở Việt Nam.
- Trong những năm trước quảng cáo qua mạng vẫn chiếm một phần rất nhỏ trong
tổng đầu tư quảng cáo, và con số này thấp hơn so với các nước cùng khu vực Đông Nam
Á. “Để tiếp cận với một người dùng Internet, các nhà quảng cáo chỉ mới chi 50 cents
(tương đương 10.000VNĐ) mỗi năm. Trung Quốc chi gấp 15 lần con số này”, ông Brian
Pelz, đồng sáng lập Vinagame và thành viên của ban điều hành IAB, nhận xét.
- Trong nửa năm đầu 2009, các quảng cáo banner, bao gồm cả rich media
chiếm khoảng 90% ngân sách dành cho marketing online. Phần 10% ít ỏi còn lại
chia cho các hình thức khác như search, mobile, e-mail… Những nhà làm quảng cáo
thích các quảng cáo banner hơn vì những yếu tố như hình ảnh đẹp mắt, câu chữ
chuyển động và thông điệp được lặp lại. Banner cũng dễ thiết kế, dễ hiểu, dễ chấp
nhận hoặc từ chối. Ngược lại, hình thức quảng cáo online ít được chú ý nhất tại Việt
Nam là quảng cáo qua công cụ tìm kiếm (search engine marketing – SEM).
- SEM bao gồm hai phương thức nhằm đưa thông điệp đến đúng người dùng
vào đúng thời điểm khi họ sử dụng các công cụ tìm kiếm để tìm thông tin. Hình thức
quảng cáo này không có những hình ảnh đẹp mắt, đầy màu sắc mà chỉ có chữ. Vì
thế, nó chưa thực sự thu hút sự chú ý của những người làm quảng cáo tại Việt Nam.
22
- Doanh thu quảng cáo trực tuyến (QCTT) tại Việt Nam dự báo đạt 130-150
triệu USD vào năm 2010 - chiếm 1,5% thị trường quảng cáo. Tuy nhiên, thị trường
này vẫn còn khá sơ khai và nhiều tiềm năng. Thứ nhất, số người sử dụng Internet ở
Việt Nam đang tăng mạnh (theo thống kê của Bộ TT &TT tính đến tháng 7/2010 đạt
25,1 triệu người ) tỷ lệ người sử dụng phần lớn là giới trẻ, đang tạo sức hấp dẫn lớn
cho các nhà quảng cáo hướng tới đối tượng khách hàng này.Thứ hai, khi tình hình
kinh tế khó khăn và ngân sách bị cắt giảm, rất nhiều doanh nghiệp sẽ hướng tới các
giải pháp quảng cáo và tiếp thị tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế hơn, và Internet
là lựa chọn lý tưởng nhờ lợi thế kết nối với một số lượng người sử dụng lớn với chi
phí thấp. Chúng tôi dự đoán phần lớn doanh thu của QCTT trong những năm tới sẽ
đến từ ngân sách quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo truyền thống.
- Theo kết quả điều tra Net Index, gần 70% người sử dụng Internet ở Việt
Nam có độ tuổi từ 15-30. Đây là nhóm tuổi có tỷ lệ đông nhất ở Việt Nam hiện nay.
Người tiêu dùng trẻ là đối tượng khách hàng mục tiêu của rất nhiều các thương hiệu
vì đây là lứa tuổi dễ tiếp cận những xu hướng mới nhất cũng như tốc độ nắm bắt
công nghệ mới nhanh nhạy nhất. Sự cộng hưởng của hai yếu tố này sẽ khiến QCTT
trở nên ngày càng hấp dẫn với các doanh nghiệp đang muốn khai thác thế mạnh của
thị trường tiêu thụ trẻ đầy tiềm năng ở Việt Nam.
- Các chuyên gia trong ngành đánh giá rằng thị trường này tại Việt Nam hiện đang
ở vào giai đoạn như ở Nhật Bản cách nay tám năm và như Thái Lan cách đây ba năm.
Người dân Nhật sử dụng rất nhiều công cụ tìm kiếm, một phần do đây cũng là quốc gia
có tỷ lệ người dân truy cập Internet vào loại cao nhất trên thế giới. Chính vì điều này,
Nhật cùng với Mỹ đang trở thành những thị trường mà loại hình quảng cáo trực tuyến kể
trên trở nên bão hòa.
- Người truy cập Internet tại Việt Nam hiện sử dụng nhiều công cụ tìm kiếm của
các nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước như Google, Yahoo, Xalo, Socbay… Tuy
nhiên, các nhà cung cấp hầu như chưa có doanh thu mà mới chỉ có Google và Yahoo khai
thác được thị trường này. Theo ước tính của giới chuyên gia, hiện Google chiếm thị phần
tới 80-90% tại Việt Nam. Hãng này cũng vừa mới đưa ra một kết quả nghiên cứu cho biết
Hàn Quốc, Trung Quốc hiệu quả của quảng cáo trực tuyến không thể phủ nhận.
24
- Tuy nhiên, ở Việt Nam thì khác. Quảng cáo trực tuyến còn khá mới, các doanh
nghiệp Việt Nam không muốn liều lĩnh thử quảng cáo trực tuyến bởi lẽ khái niệm quảng
cáo trực tuyến còn rất mơ hồ so với họ. Điều này lý giải tại sao thị trường quảng cáo trực
tuyến" hiện nay ở Việt Nam vẫn đang "ế dài" chờ các doanh nghiệp.
- Nếu như trong thời gian tới quảng cáo trực tuyến Việt Nam có nhiều sự đầu tư và
điều chỉnh phù hợp để đáp ứng tốt hơn nhu cầu quảng cáo
b) Thiếu tính chuyên nghiệp
- QCTT của Việt Nam chủ yếu hướng tới việc quảng cáo thương hiệu với hình
thức logo/banner. Tại các website lớn, logo/banner chi chít bất chấp các tiêu chuẩn
về hiệu quả gây ấn tượng (nhiều nhất 4 quảng cáo/một màn hình). Các dạng quảng
cáo như qua từ khóa, quảng cáo theo ngữ cảnh, theo hành vi còn là những khái
niệm mới mẻ. Và hiện, cũng chưa có một chuẩn nào đối với các mẫu thiết kế cho
quảng cáo trực tuyến (kích thước, vị trí ). Điều này khiến khách hàng mất thêm
nhiều thời gian và chi phí khi tiến hành quảng cáo tại các website khác nhau.
- Ngoài ra, chưa có một tổ chức đủ uy tín đóng vai trò trung gian để đánh giá
một cách khách quan về số lượng người dùng của các website cũng như hiệu quả
khi tiến hành QCTT. Và không ít các website thông tin khống về số lượng người
dùng. Điều này khiến doanh thu của QCTT ở VN tập trung tại vài trang web có
lượng truy cập cao nhất (chủ yếu là các báo điện tử, trang tin tức như VnExpress,
Dân Trí, Vietnamnet, 24h.com.vn ) thay vì có thể phân bổ ở các website đặc thù
(du lịch, giải trí, thương mại ).
c) Phân khúc thị trường không thật sự rõ ràng
- Người sử dụng internet có độ tuổi trung bình là 29 tuổi, nhỏ hơn so với độ
tuổi trung bình của dân số Việt Nam hiện nay (36 tuổi). Trung bình mỗi người sử
dụng 2 tiếng/ngày để truy cập internet.
- Những hoạt động hàng đầu trên internet tại Việt Nam là thu thập thông tin, dữ
liệu như đọc tin tức, sử dụng các website tìm kiếm. Kế đến là các hoạt động giải trí trong
đó có nghe và tải nhạc, phim và chơi game.Về mặt tìm kiếm, Google vẫn đứng đầu với tỷ