- - - - - - Tiểu luận
Vận dụng nguyên lý triết
học để phân tích, làm rõ
thực trạng của nền kinh tế
Việt Nam trước xu hướng
toàn cầu
MỤC LỤC
- Phần mở đầu
- PHẦN NỘI DUNG
I- Cơ sở lý luận triết học dùng làm tiền đề lý luận cho đề tài.
1. Nguyên tắc phương pháp luận của qui luật lượng- chất.
2. Nguyên tắc phương pháp luận của mối quan hệ nguyên nhân- kết quả.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền
kinh tế Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá.
III- Những giải pháp và kiến nghị.
- PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN NỘI DUNG
I- Cơ sở lý luận triết học dùng làm tiền đề lý luận cho đề tài
1 - Q uy luật lượng- chất
Muốn hiểu thấu đáo qui luật lượng- chất thì trước hết phải tìm hiểu xem thế
nào là lượng, thế nào là chất. Trong giáo trình triết học Mác- Lênin, khái niệm
về chất và lượng được dịnh nghiã như sau:” chất là một phạm trù triết học dùng
để chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống
nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho nó là nó chứ không phải cái khác”.
Còn”lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính qui định vốn có của sự vật biểu
thị số lượng, qui mô,trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
cũng như của các thuộc tính của nó”.
Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng. Trong quá trình vận
động và phát triển, chất và lượng của sự vật cũng biến đổi. Sự thay đổi của
lượng và của chất không diễn ra độc lập với nhau. Trái lại, chúng có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Nhưng không phải bất kì sự thay đổi nào của lượng cũng
ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể thay
đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật
đó. Vượt qua giới hạn đó sẽ làm cho vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất
mới ra đời.
Khuôn khổ mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của
sự vật được gọi là độ. “Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất
giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng
chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật .”
Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của
sự vật được gọi là điểm nút.
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới. Sự
thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới. Vì
vậy, có thể hình dung sự phát triển dưới dạng một đường nút của những quan hệ
về độ.
biều hiện của mối quan hệ nhân quả.
Trong hiện thực mối liên hệ nhân- quả biểu hiện rất phức tạp. Một kết quả
thông thường không phải do một nguyên nhân và một nguyên nhân có thể sản
sinh ra nhiều kết quả. Khi các nguyên nhân tác động cùng chiều, cùng hướng,
cùng một lúc lên sự vật thì chúng sẽ gây lên ảnh hưởng cùng chiều tới sự hình
thành kết quả và ngược lại.
Trong sợi dây chuyền vô tận của sự vận động vật chất, không có hiện tượng
nào được coi là nguyên nhân đầu tiên và cũng không có kết quả nào được xem là
kết quả cuối cùng. Trong mối quan hệ này, sự vật nào đó được coi là nguyên
nhân thì trong sự việc khác, nó lại được coi là kết quả và ngược lại.
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ
vai trò thụ động đối với nguyên nhân. Trái lại, nó tác động lại nguyên nhân theo
hai chiều hướng hoặc tích cực hoặc tiêu cực.
Mối liên hệ nhân – quả có tính khách quan. Không có sự vật hiện tượng nào
tồn tại mà không có nguyên nhân. Do đó, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là
phải khám phá ra nguyên nhân. Bởi vì có biết nguyên nhân, chúng ta mới có thể
định hướng cho sự phát triển tiếp sau.
Một sự vật hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Mỗi nguyên nhân
có vị trí khác nhau trong việc hình thành kết quả. Vì vậy, ta cần phải phân loại
các nguyên nhân đồng thời phải nắm được những nguyên nhân phát triển cùng
chiều để tạo ra sức mạnh tổng hợp và hạn chế những nguyên nhân ngược chiều.
Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng sau khi kết quả xuất hiện thì nó lại tác
động trở lại nguyên nhân sinh ra nó. Vì vậy, phải biết khai thác tận dụng các kết
quả đã đạt được để nâng cao nhận thức để thúc đẩy sự vật phát triển.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền
kinh tế Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá.
Trên thế giới có rất nhiều tài liệu viết về khái niệm hội nhập kinh tế Quốc tế.
Giáo sư về kinh tế học quốc tế thuộc đại học Tổng hợp Giôn Hốp- kin, Oa- sinh-
tơn D.C, Giêm Ri- đen đã định nghĩa: “Hội nhập là tự do thương mại, không
phải chỉ đơn giản là bản thân thương mại”. Về mặt lý luận, các vấn đề kinh tế
- Sự phát triển và bành trướng của các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc
gia,lực lượng chi phối toàn cầu hoá.
Chính những nguyên nhân trên đã đặt các quốc gia, phát triển cũng như đang
phát triển, đứng trước thách thức về tụt hậu. Do đó các quốc gia đều đặt ưu tiên
cho phát triển kinh tế. Trong đó, yêu cầu về mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác
ngày nay đã trở thành một nhiệm vụ chủ yếu.
Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam được bắt đầu từ cuối những năm 80
khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới nền kinh tế. Đại
Hội VII của Đảng (1991) đã thông qua định hướng nền kinh tế đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ quốc tế “Nghị quyết đại hội VIII của Đảng (1996) đã quyết
định : “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Nghị quyết hội
nghị Trung Ương lần thứ 4 khoá VIII (12-1997) chỉ rõ nguyên tắc hội nhập là : “
trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các
nguồn lực từ bên ngoài”, “tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp
định Thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO”, có “ kế hoạch cụ thể để
chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA”.
Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế các quy định đối với mỗi quốc gia, là
tự do hoá thương mại và đầu tư một cách công khai, rõ ràng theo 4 nguyên tắc
cơ bản sau:
- Công bằng
- Tự do hoá thương mại
- Làm ăn hay thương lượng với nhau phải trên có sở có đi có lại.
- Công khai mọi chính sách Thương Mại và đầu tư.
Với các nguyên tắc trên, nước “đi sau” như nước ta sẽ có nhiều thuận lợi,
nhất là trong việc học hỏi các kinh ngiệm của các nước “đi trước”, nhưng
cũng sẽ phải chịu rất nhiều khó khăn thách thức mà quan trọng hàng đầu là
việc bảo hộ nền sản xuất trong nước và các doanh nghiệp Việt Nam nhất là
các doanh nghiệp quốc doanh mới “chân ướt, chân ráo” bước vào nền kinh tế
thị trường.
Với tầm nhìn chiến lược xác định rõ tình hình và xu thế phát triển của thế
các doanh nghiệp quốc doanh là vấn đề phải được đặt lên hàng đầu. Một lộ trình
hội nhập nhanh quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế với mức độ cao quá
khả năng của các doanh nghiệp sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường đối với nền
kinh tế, đôi khi cả chính trị của đất nước. Song điều đó cũng không có nghĩa là
càng kéo dài lộ trình hội nhập kinh tế với mức độ càng thấp càng tốt. Bởi vì kéo
dài lộ trình sẽ làm cho sức ì càng nặng, kém đầu tư cải tiến quản lý công nghệ,
dẫn tới tình trạng kém hiệu quả, yếu sức cạnh tranh và nền kinh tế ngày càng tụt
hậu so với nền kinh tế thế giới.
Toàn cầu hoá kinh tế có tác dụng trực tiếp đến chính trị, có những hệ quả về
mặt chính trị. Song ở đây không nên hiểu luận điểm kinh tế quyết định chính trị
một cách đơn giản và máy móc. Thông qua con đường hợp tác, đầu tư, tự do hoá
thương mại, viện trợ, cho vay theo hướng khuyến khích tư nhân hoá, tự do hoá
tư sản. Các thế lực tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mĩ muốn tạo ra những cơ sở
kinh tế tư bản chủ nghĩa. Từ đó dẫn đến hình thành những lực lượng chính trị
đối lập ngay trong lòng xã hội để thực hiện tự diễn biến hòng thay đổi chế độ xã
hội chủ nghĩa( đối với các nước xã hội chủ nghĩa) hoặc thay đổi chính phủ theo
hướng thân phương Tây( đối với các nước đang phát triển) gây sức ép về kinh tế
và chính trị đối với các nước. Tuy vậy, chủ nghĩa đế quốc vấp phải sự phản
kháng mạnh mẽ của các nước đang phát triển, các nước xã hội chủ nghĩa nhằm
chống lại âm mưu áp đặt về chính trị. Vừa qua, Hiệp định thương mại Việt- Mĩ
đã được kí kết, một hiệp định rất có lợi đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam,
nhưng trước đó Mĩ định dùng áp lực này nhằm thông qua “đạo luật nhân
quyền”, một sự can thiệp thô bạo vào nền chính trị của nước ta.
Cũng như lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hoá cũng chịu tác động bởi quá trình
toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc
tế, tăng thêm mối liên hệ và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, sự xích lại
gần nhau giữa các quốc gia. Do đó, nó cũng tạo điều kiện cho việc mở rộng giao
lưu về văn hoá, khoa học giữa các quốc gia, dân tộc tiếp thu có chọn lọc những
thành tựu của văn hoá nhân loại, bổ sung cho nhau tạo điều kiện hiện đại hoá
văn hoá. Tuy nhiên, mặt khác, toàn cầu hoá kinh tế trong điều kiện do thế lực tư
thương mại ngày càng được cải thiện rõ rệt làm cho nền kinh tế phát triển và
năng động hơn.
III-Những kiến nghị và giải pháp.
Để khắc phục những tồn tại của kinh tế Việt Nam nhằm mục tiêu đưa nền kinh
tế phát triển và bền vững trước xu thế toàn cầu hoá em có những kiến nghị sau:
- Xây dựng thể chế pháp lí cho quan hệ giữa nước ta và các nước hình thành
một hệ thống đồng bộ các thoả thuận, cũng như các hiệp định làm nền tảng
cho quan hệ hợp tác quốc tế. Cụ thể là: tham gia và hỗ trợ việc chuẩn bị,
đàm phán kí kết các hiệp định, thoả thuận cấp chính phủ giữa nước ta với
các nước, cũng như thực hiện tốt việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các thoả
thuận, hiệp định đã được kí kết, cả phía ta và phía bạn. Góp phần xây dựng
hệ thống pháp luật kinh tế của ta cho phù hợp với luật pháp và tập quán
quốc tế, trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành và phát triển các luật
lệ, quy định quốc tế, nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích của đất nước và công
dân ta trong quan hệ quốc tê. Pháp huy vai trò tích cực trong các uỷ ban
hỗn hợp và các quy chế song phương về hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và
các nước; kịp thời phát hiện, kiến nghị và phối hợp giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức
quốc tế; bảo vệ chủ quyền kinh tế và lợi ích kinh tế của Việt Nam trên
trường quốc tế.
- Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế, đặc biệt là về kinh
tế đối ngoại. Nhiệm vụ này là của ngành ngoại giao. Cụ thể là làm thật tốt
công tác tiếp thị, tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư, mở rộng thị trường, tìm
kiếm đối tác. Với lợi thế, đặc điểm của ngành cần nắm vững chính sách,
luật lệ của các nước sở tại, cung cấp nhanh và chính xác những thông tin
quan trọng về thị trường, đối tác; nắm bắt kịp thời những nhân tố thuận lợi
hoặc không thuận lợi; tăng cường giới thiệu về tiềm năng kinh tế, chính
sách, luật lệ và nhu cầu của ta cho các đối tác nước ngoài. Ngành ngoại
giao thực hiện công việc này trong sự hợp tác và phối phợp chặt chẽ với
nghiệp làm ăn ở nước ngoài. Trong thời gian tới cần: tích cực tìm kiếm và
mở rộng thị trường quốc tế cho xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, người lao
động và đầu tư của Việt Nam.
- Tham gia xây dựng khung pháp lý, các văn bản pháp quy về kinh tế vĩ mô
nói chung và văn bản chuyên ngành, đặc biệt là việc thông tin về kinh
nghiệm của các nước.
- Công tác thông tin, tuyên truyền kinh tế nhằm cung cấp những thông tin
cần thiết, chính xác cho những hoạt động kinh tế cụ thể của các cơ quan
nhà nước và doanh nghiệp.
- Tham gia quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
PHẦN KẾT LUẬN Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy cao độ các nguồn
nội lực, đồng thời thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài;
kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp là nội dung quan
trọng của đường lối kinh tế do Đại hội IX của Đảng đề ra. Chủ động hội nhập
kinh tế là để tạo ra điều kiện xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Mặt khác, có độc tự chủ về kinh tế mới có thể chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế có hiệu quả, đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc.
Tất cả vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH
Việc Việt Nam tham gia toàn cầu hoá kinh tế đã khơi dậy tiềm năng của
sản xuất, khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ động của các chủ thể lao động