13
Tại kỳ họp của Quốc hội tổ chức tháng 11-12/1999 tại Hà Nội, một số Đại biểu
Quốc hội đ chất vấn về hiệu quả của viện trợ n!ớc ngoài trong các dự án xây dựng
năng lực do một số Bộ thực hiện. Họ cũng đặt câu hỏi về việc giải ngân ODA, hiệu
quả của HTKT trong cải cách hành chính công, trong các công trình xây dựng hạ
tầng (ví dụ, xây dựng đ!ờng xá, cầu cống, các công trình thuỷ lợi nông thôn).
Có một số câu hỏi về chi phí của một số dự án, đặc biệt tại những dự án ở đó chi
phí đ bị bóp méo do các qui định của nhà tài trợ (ví dụ về mua thiết vị với các điều
kiện ràng buộc). Đồng thời, cũng có những ý kiến băn khoăn về các khoản nợ đến
hạn phải trả của ch!ơng trình ODA.
Một số nhà tài trợ cũng đ thể hiện sự dè dặt về hiệu quả của các hoạt động xây
dựng năng lực.
Tại Hội nghị Nhóm t! vấn cho Việt Nam lần thứ 7 tổ chức tại Hà Nội tháng
12/1999, các đại biểu đ nêu lên sự cần thiết phải tránh bẫy nợ và sự lệ thuộc quá
nhiều vào viện trợ, thể hiện sự chú ý ngày càng tăng đến việc sử dụng hiệu quả các
nguồn viện trợ. Cũng tại Hội nghị Nhóm t! vấn nói trên, Chính phủ đ công nhận
rằng hiệu quả sử dụng ODA cần đ!ợc nâng cao và chất l!ợng của các khoản giải
ngân ODA cũng quan trọng nh! số l!ợng giải ngân.
Trong các cuộc phỏng vấn do Đoàn chuyên gia t! vấn tiến hành, cả các quan chức
Chính phủ và đại diện của các nhà tài trợ đều quan tâm đến sự thiếu minh bạch
trong một số khía cạnh của quá trình HTKT. Kết luận của Hội nghị về quản lý dự án
đầu t! sử dụng vốn ODA do Bộ KHĐT, JBIC, ADB và WB phối hợp tổ chức tại Hải
Phòng, tháng 4/2000, cũng nêu:
Bộ Tài chính đ chỉ ra rằng cần có sự minh bạch hơn về phía các cơ quan tài trợ,
đặc biệt trong các lĩnh vực nh! tuyển chuyên gia và thực hiện hợp đồng. Chính phủ
Việt Nam đang thực hiện các biện pháp sau đây để chống lại nạn tham nhũng: (i)
cải cách luật pháp và thay đổi các quy chế để tăng c!ờng sự minh bạch và giảm tệ
trì trệ và quan liêu, (ii) cải cách quy chế hành chính, gồm các yêu cầu để khuyến
khích tính hiệu quả, củng cố các chuẩn mực đạo đức của công chức v.v
Cả phía Chính phủ và các nhà tài trợ đều lo ngại rằng việc xác định nội dung và
thiết kế dự án th!ờng bị chi phối quá nhiều bởi các nhà tài trợ, điều đó đ làm giảm
thụ h!ởng hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Tuy nhiên, HTKT có thể mang lại những lợi ích rất to lớn. Khi đ!ợc thiết kế và thực
hiện tốt, những khoản chi tiêu khiêm tốn về HTKT có thể mang lại tác động hết sức to lớn đối
với hoạt động kinh tế. Hơn nữa, HTKT có hiệu quả th!ờng là điều kiện tiên quyết bảo đảm
thành công của các dự án đầu t!, góp phần làm cho các khoản đầu t! đ!ợc lựa chọn, thiết kế
và quản lý tốt
3
.
Khi đánh giá tác động của ch!ơng trình HTKT, Đoàn chuyên gia t! vấn không thể
không đ!a ra những kết luận đ!ợc dựa vào sự suy xét định tính. Đoàn đ cố gắng đánh giá
hiệu quả của ch!ơng trình chủ yếu thông qua phân tích các đóng góp của nó cho việc hỗ trợ
quá trình Đổi Mới do Việt Nam tự xây dựng và phát động, cho tăng nhịp độ phát triển kinh tế,
xoá đói giảm nghèo và nâng cao năng lực quốc gia một cách bền vững.
Đoàn chuyên gia t! vấn đi đến kết luận rằng phần lớn nguồn HTKT Việt Nam tiếp nhận
chắc chắn đ mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt trong những năm đầu của tiến trình Đổi Mới,
những khoản chi tiêu khiêm tốn về HTKT đ tạo nên tác động mạnh mẽ hỗ trợ cho nỗ lực cải
cách của đất n!ớc.
3
Hội nghị do Bộ KHĐT, ADB, JBIC, WB và hơn 60 Ban quản lý dự án tổ chức tại Hải Phòng tháng 4//2000
khuyến nghị rằng cần bao gồm HTKT xây dựng năng lực trong các dự án sử dụng vốn vay nhằm nâng cao năng
lực thực hiện và báo đảm tính bền vững của dự án.
15
Đoàn chuyên gia t! vấn cảm thấy tự tin khi đ!a ra nhận xét chung tích cực nh! vậy, trên
cơ sở quan sát tác động của HTKT, đặc biệt đối với nỗ lực cải cách kinh tế và việc cung cấp
kinh nghiệm quốc tế. So với kinh nghiệm về HTKT đ đ!ợc ghi nhận ở các n!ớc khác, Đoàn
cho rằng HTKT ở Việt Nam là một trong những ch!ơng trình thành công nhất (Xem Hộp 1).
Nhận xét này đ!ợc nhận đ!ợc sự đồng tình của nhiều nhà tài trợ mà Đoàn có dịp tiếp xúc.
Tuy nhiên, khó có thể hỗ trợ nhận định tích cực này bằng những dẫn chứng cụ thể. Chỉ một
c) Tính chất trọng cung, hoặc do nhà tài trợ chi phối, của HTKT đ dẫn đến tình trạng
sử dụng quá mức và phân bổ không hiệu quả HTKT, ý thức làm chủ quốc gia yếu
kém và do đó sự cam kết quốc gia hạn chế; và
d) Chế độ đi ngộ và điều kiện làm việc yếu kém trong khu vực công cộng, dẫn đến thiếu
động cơ làm việc, thay đổi nhân viên th!ờng xuyên và một môi tr!ờng làm việc trong
đó những nỗ lực tăng c!ờng năng lực và phát triển thiết chế không thể phát huy hiệu
quả của mình.
I) Đ ề xuất nhằm cải thiện tình hình: Dựa trên việc xác định những vấn đề chủ yếu, một số đề
xuất nh! sau đ đ!ợc đ!a ra nhằm cải thiện tình hình:
a) Thực hiện các ch!ơng trình hiện nay một cách có hiệu quả hơn;
b) Thay đổi cơ cấu các mô hình thực hiện, chuyển từ cố vấn dài hạn sang cố vấn ngắn hạn,
sử dụng nhiều hơn chuyên gia t! vấn trong n!ớc và áp dụng nhiều hơn ph!ơng thức
liên kết giữa các tổ chức ở n!ớc cung cấp viện trợ và n!ớc tiếp nhận viện trợ;
c) Tăng c!ờng công tác quản lý HTKT ở n!ớc tiếp nhận viện trợ, thông qua:
Nhà tài trợ tự nguyện chuyển giao thẩm quyền quản lý;
Nâng cao năng lực quản lý tại chỗ với việc đánh giá và quy hoạch HTKT ở n!ớc
tiếp nhận;
18
Lập quy hoạch HTKT một cách toàn diện;
Cải thiện môi tr!ờng làm việc và khuyến khích nhân viên quốc gia (nh!ng không
khuyến khích nhân viên của các ban quản lý dự án bằng nguồn kinh phí của nhà
tài trợ, vì điều đó làm sai lệch chế độ khuyến khích của chính phủ).
Tuy nhiên, mặc dù nhiều ng!ời công nhận tình trạng kém hiệu quả của các ph!ơng thức HTKT
đ!ợc sử dụng nh! báo cáo này và các công trình nghiên cứu khác đ cho thấy, nh!ng đến nay
các nhà tài trợ chỉ thay đổi rất ít trong các tập quán của mình.
Nguồn: Suy nghĩ lại về Hợp tác kỹ thuật: Cải cách để tăng c!ờng năng lực ở Châu Phi;
UNDP and Development Alternatives Inc., 1993.
phần iii: tổng quan về quá trình
hợp tác kỹ thuật tại việt nam
1. Giai đoạn tr!ớc 1994