LUẬN VĂN:
Phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy tiến
trình hội nhập nền kinh tế Việt nam với các
nước trong khu vực và trên thế giới
Lời nói đầu Trước tháng 7- 97, tức là trước thời điểm xẩy ra cơn bão tài chính tiền tệ ở Châu á
mà tâm điểm là khu vực Đông Nam á, nhiều nước thành viên ASEAN đã kỳ vọng đến
Những triệu chứng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á bắt nguồn từ
Thái lan. Từ cuối năm 1996 nền kinh tế Thái lan đã biểu hiện những dấu hiệu của khủng
hoảng : tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 6,4% so với mức 8,6% năm 1995, lạm phát cao 7%
so với 4,5% năm 1995, xuất khẩu chỉ tăng 7% so với 28% năm 1995, thâm hụt ngân
sách trên 7%, cán cân thanh toán vãng lai thâm hụt 8,2% GDP. Nợ nước ngoài lên tới
gần 100 tỷ USD trong đó 40% là nợ ngắn hạn trong khi dự trững ngoại tệ giảm chỉ còn
26,6% GDP( 1994:31,6%GDP, 1995: 29,5%GDP). Cơn bão khủng hoảng tài chính tiền
tệ đã bùng nổ ở Thái lan không phải từ trên trời rơi xuống. Sức mạnh tàn phá của nó đã
được tích luỹ, dồn nén từ nhiều năm và đến đầu năm 1997 những mầm bệnh trong nền
kinh tế Thái lan đã phát tác gây sức ép nặng nề cho sự phá giá tiền tệ.
Ngày 2 tháng 7 Chính phủ Thái lan sau những cố gắng tuyệt vọng buộc phải
tuyên bố thả nổi đồng Baht, chấm dứt thời kỳ chế độ tỷ giá cố định kéo dài gần 14 năm.
Giá đồng Baht giảm tới mức thấp nhất trong 12 năm qua (29,55 Baht/1USD). Sau đó giá trị đồng Baht tiếp tục giảm (ngày 1-8 : 32 Baht/1USD), ngày 29-8 :
34,15 Baht/1USD), và nguy cơ khủng hoảng ngày càng lan rộng sang các lĩnh vực :
kinh tế , chính trị, xã hội.
Ngày 28-7 : Thống đốc ngân hàng trung ương Thái lan từ chức.
Ngày 5-8 : Chính phủ Thái lan đình chỉ hoạt động của 42 ngân hàng và công ty tài
chính.
Cùng ngày, Thái lan chấp nhận kế hoạch cứu vãn nền kinh tế do *** đề nghị.
Ngày 10-8: 58/91 công ty tài chính và ngân hàng tại Thái lan đã bị đóng cửa.
Ngày 11-8 : Hội nghị tài trợ đa phương quốc tế tại Tokyo đưa ra một cam kết
viện trợ cả gói 16,7 tỷ USD cho Thái lan kèm theo hàng loạt cac điều kiện yêu cầu Thái
lan phải thực hiện.
Ngày 15-10 : So với trước khi được thả nổi, đồng Baht đã bị mất giá hơn 40% và
đạt mức 36,72 Baht/1USD.
Ngay sau khi sự kiện thả nổi tỷ giá ở Thái lan một phản ứng dây truyền đã xảy ra
tại các nước trong khu vực, nhất là các nước đang có sẵn nhiều “vấn đề “ nội tại trong
Ngày 18-2-1998 : Inđonexia lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế đặc biệt là các
nước châu Âu giúp đỡ các nước Đông Nam á giải quyết cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Kể từ thời điểm các nước Tháilan, Indonesia, Philippines, Maylaysia tuyên bố thả
nổi tiền tệ hay không can thiệp vào thị trường ngoại hối đồng tiền của các nước này lập
tức bị mất giá nghiêm trọng, chỉ số chứng khoán giảm mạnh mặc dù đã có những biện
pháp mang tính tình thế để đối phó và có sự giúp đỡ của cộng đồng tài chính quốc tế.
Mức độ mất giá đồng tiền và sự suy giảm về giá trị chứng khoán của các nước bị khủng
hoảng được thể hiện trên Bảng 1 đến Bảng 4 .
Bảng 1 : Mức độ mất giá của các đồng tiền ASEAN từ tháng 4 năm 1997 đến 3 năm
1998
Đơn vị tính : %- Thời điểm gốc là đầu tháng 4/97
Nguồn : Asia Week March 6 -1998
Đầu tháng Malaysia
Ringgit
Indonesia
Rupiah
Singapore
Dollar
Philipine
Peso
Thailand
Bath
4/97
5
6
7
8
9
-9
-14
-24
-25
0
0
+3
+3
-19
-23
-27
-35 12
1/98
2
3
-30
-37
-45
-32
-39
-58
-85
-74
-11
-15
-17
SET
Manila
Composite
Jakarta
Composite
Kuala Lumpur
Composite
Singapore
ST Indl
710,45 3295,45 638,806 1260,20 2178,27
Bảng 4 : Mức độ sụt giảm của chỉ số chứng khoán trên thị trường các nước ASEAN
Đầu
tháng
Bangkok
SET
Manila
Composite
Jakarta
Composite
Kuala
Lumpur
Composite
Singapore
ST Indl
2/97
3
4
-18
-19
-21
-29
-32
-40
-45
-49
-40
-35
0
0
-8
-4
0
+5
+3
-30
-25
-29
-40
-45
-25
-29
0
-1
-6
-7
-7
-11
45-85%. Do đó những tác động của cuộc khủng hoảng đến bản thân các nước là hết sức
to lớn và thể hiện trên nhiều chỉ tiêu khác nhau.
II. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á năm 1997 có nhiều nguyên nhân hết
sức cơ bản và có liên quan mật thiết với nhau. Hội nghị Bộ trưởng tài chính của các
nước thành viên ASEAN vào ngày 2-12 tại Kulalampur đã chỉ ra ba nguyên nhân cơ
bản sau :
1/ Sự mất cân đối vĩ mô gắn liền với thiếu hụt lớn về thanh toán và sự giảm sút
đáng kể và tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu.
2/ Sự lệ thuộc nặng nề vào các khoản nợ ngắn hạn bên ngoài và cùng với sự tăng
nhanh tín dụng và các khoản vay không hiệu quả trong công nghiệp ngân hàng đã làm
suy yếu năng lực hoạt động của hệ thống ngân hàng tài chính.
3/ Nhiều nguồn vốn lớn không công khai đã giữ vai trò chi phối các thị trường
tiền tệ và gây sức ép với thị trường khi quy mô của thị trường lại nhỏ.
Diễn giải các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á bao
gồm các điểm cơ bản sau :
Thứ nhất : Nền kinh tế phát triển hướng ngoại quá lệ thuộc vào nước ngoài.
Sau những năm 70 các nước bị khủng hoảng đã thực hiện chính sách công nghiệp hoá
hướng về xuất khẩu. Bản chất của chính sách này là đẩy mạnh quá trình xuất khẩu để
thu ngoại tệ. Trên thực tế chiến lược phát triển kinh tế theo chính sách này đã tỏ ra
thành công trong suốt thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 , giúp cho các nước này duy trì được tốc độ tăng trưởng cao. Song do quá đề cao chiến lược phát triển hướng về xuất
khẩu nên nền kinh tế các nước đã lệ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu . Chẳng hạn ở
Malaysia kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm tới 90% GDP . Trong khi đó các nước này
lại tập trung quá mức vào một số mặt hàng chủ chốt như điện tử , may mặc làm cơ cấu
các mặt hàng sản xuất nghèo nàn, mất cân đối. Bình quân từ năm 1994 , 1995 và đầu
năm 1996 khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu của Singapore là hàng điện tử chiếm gần
50% GDP, đối với Malaysia tỷ lệ này là 50% GDP và Hàn Quốc là 33,3% GDP, Thái
Philipine bằng 79,7% GDP và Thái lan là 97,1% GDP. Số nợ phải trả của các nước đã
vượt quá 10% GDP .
Bên cạnh đó, điều nguy hiểm hơn là Chính phủ không kiểm soát được nợ của các
Ngân hàng và các doanh nghiệp. Nợ nước ngoài bao nhiêu chính phủ không nắm rõ.
Thêm vào đó, chính phủ lại không xây dựng được khuôn khổ pháp luật về năng lực
giám sát trong quá trình tự do hoá tài chính. Trong cơ chế quản lí bảo thủ và yếu kém
như vậy các doanh nghiệp sản xuất đua nhau vay nợ một cách liều lĩnh, số nợ vượt quá
tổng số vốn của doanh nghiệp từ 200% đến 400% .
Mặt khác các khoản vay nước ngoài với lãi suất thấp lại được đầu tư cho vay với lãi
suất cao ở hai khu vực không sinh lời trong ngắn hạn là đầu tư bất động sản và chứng
khoán. Do việc đầu tư quá mức vào bất động sản đã khiến cho thị trường này mang tính
chất của một thị trường “ bong bóng “. Các ngân hàng và tổ chức tài chính xuất phát từ
sự tin tưởng vào chế độ tỷ giá cố định đã không dùng số ngoại tệ được vay để tài trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu mà không ngừng đầu tư và bất động sản và chứng khoán.
Kết quả là khi thị trường bất động sản mất giá các khoản vốn đầu tư này đã trở thành
những khoản nợ khó đòi hoặc không thể đòi được. Vì vậy bản chất của cuộc khủng
hoảng phần nào là một “ cuộc khủng hoảng nợ “ do vay vốn không được kiểm soát và
đầu tư thiếu hiệu quả .
Thứ ba : Duy trì tỷ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USD của các
nước có nền kinh tế có dấu hiệu chững lại hoặc đi xuống, trong khi nền kinh tế của Mỹ
đang phát triển đã khiến cho các nước này thay vì để đồng tiền của mình sụt giảm theo
đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD để cố gắng duy trì mức cân bằng
giả tạo tới mức không thể kiềm giữ được nữa. Đặc biệt là Thái lan, việc 13 năm liền
Chính phủ Thái lan duy trì tỷ giá cố định giữa đồng Baht và USD ( khoảng 25
Baht/1USD) là hết sức phi kinh tế, bởi trong khoảng thời gian này, các quá trình kinh tế
thế giới và khu vực diễn ra rất mạnh mẽ, đồng đôla Mỹ ngày càng mạnh lên, đồng Baht
yếu dần, cho đến trước thời điểm xảy ra khủng hoảng, đồng Baht đã giảm xuống còn
30,27 Baht/1USD. Lợi dụng điều này, các nhà đầu tư đã tạo ra mức bán khổng lồ hàng
20,38
28,40
28,70
29,10
28,30
27,70
28,00
23,30
21,10
11,00
11,79
11,83
11,56
11,42
-
9,60
-
77,45
77,36
78,82
78,99
80,54
81,85
79,51
78,05
38,20
37,20
37,10
36,30
32,20
với nước ngoài, ngân hàng thương mại trong nước cho vay một cách ồ ạt không cần giới
hạn bằng hình thức quan hệ tín chấp thay cho quan hệ thế chấp tài sản .
Bên cạnh đó việc phân bổ vốn còn bị chi phối nhiều bởi yếu tố chính trị .
Trong khi đó lượng vốn tín dụng khổng lồ này lại được chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn song chu kì vốn lại chậm mà điển hình là lĩnh vực bất động sản
và đầu tư chứng khoán . Tại Malaysia tính từ cuối năm 1992 đến tháng 12 năm
1996 tổng các khoản tín dụng dành cho khu vực bất động sản và cổ phiếu tăng 2
lần , từ 34,24 tỷ Ringgit lên 68,32 tỷ Ringgit trong khi tín dụng dành cho khu vực
chế tạo chỉ tăng 88%. Tại Indonexia tình trạng cho vay đầu cơ bất động sản cũng
diễn ra mạnh mẽ , chiếm tới 25% tổng tín dụng. ở Thái lan thực trạng đầu tư cũng
không lấy gì làm sáng sủa. Vốn vay qua hệ thống ngân hàng thái lan được tập
trung phần lớn vào lĩnh vực bất động sản và đầu tư tài chính(Bảng dưới )***
Bảng 9 : Việc sử dụng các khoản vay mượn qua các ngân hàng Thái lan ( giá trị ròng )
Đơn vị : 100 tỷ Bath.
Các ngành 1993 1994 1995
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ
Thực phẩm
Luyện kim
Hoá chất
Sx đồ dùng gia đình
Dệt
SXVL xây dựng
Sx máy móc
Dầu khí
Xây dựng
Thương mại
60,0
53,9
5,1
5,8
2,8
3,9
5,1
3,0
2,4
16,9
55,0
123,3
125,3
56,3
54,8
78,8
18,6
36,5
45,9
153,6
4,5
10,1
10,3
4,6
4,5
6,5
1,5
3,0
3,8
17,6
142,3
18,5
0,3
-1,3
9,5
11,7
Tổng cộng 847,0 100,0 1589,5 1218,9 100,0
Nguồn : Nền kinh tế TháI lan đối mặt với điều chỉnh cơ cấu - Nhóm nghiên cứu kinh tế
Châu á FUMYUKI-TESTUJI SANO , Viện Nomura.
Điều nguy hiểm hơn là các khoản tín dụng trên do nhiều lí do đã không được bảo
đảm. Chính vì vậy khi nền kinh tế bị đình đốn, xuất khẩu giảm sút làm cho các doanh
nghiệp vay vốn không có khả năng hoàn trả đã đưa các tổ chức ngân hàng đến bờ vực
của sự phá sản, gây lên các cú sốc trong hệ thống tài chính ngân hàng và và khởi đầu
cho sự khủng hoảng.
Thêm vào đó, chính sách quản lí nợ của hệ thống ngân hàng các nước bị khủng
hoảng chưa được coi trọng đúng mức. Trong khi thị trường tài chính tại các nước này có
mức độ tự do hoá mạnh, các luồng vốn được di chuyển dễ dàng thì cơ chế quản lí, giám
sát của NHNN đối với các NHTM và của NHTM đối với các doanh nghiệp lại lỏng lẻo
và không kiểm soát dẫn đến tình trạng vạy nợ nước ngoài tràn lan. Tại hầu hết các nước
bị khủng hoảng đều duy trì chính sách lãi suất trong nước cao hơn nhiều so với lãi suất
bên ngoài nên càng khuyến khích hàng loạt các công ty vay nợ từ nước ngoài để hưởng
chi phí vốn thấp. Chẳng hạn, tại Thái lan 9/10 công ty do Viện Pharta Thankit thống kê đã vay nợ tại nước ngoài với lãi suất là 8,5% năm thấp hơn rất nhiều so với lãi suất
trong nước là 13,5% / năm.
Đồng thời hệ thống ngân hàng tại các nước này đã không điều chỉnh hợp lí tỷ lệ
vay nợ ngắn hạn và dài hạn. Khoản vay ngắn hạn ngày càng gia tăng. Chỉ tính riêng ở
Thái lan đã tăng gần 42% trong vòng 2 năm từ 29,3 tỷ USD năm 1994 lên đến 41,5 tỷ
đúng về tính chất của cuộc khủng hoảng, cùng với xác định đúng nguyên nhân việc xác
định chuẩn xác tính chất của cuộc khủng hiện nay sẽ là cơ sở để các nước đề ra các biện
pháp phục hồi lại nền kinh tế và đối với các nước chịu ảnh hưởng ít sẽ là cơ sở để có
các biện pháp ngăn chặn. Căn cứ vào diễn biến và nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng
hoảng đã phân tích ở trên chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng cuộc khủng hoảng
hiện nay đã thực sự trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế -tài chính và mang tính quốc tế
hoá sâu sắc. Cuộc khủng hoảng diễn ra theo cơ chế hình sóng, lan toả từng đợt và tác
động, xâm nhập vào các nền kinh tế khác theo cơ chế “Đôminô “theo nguyên tắc càng
xa, càng cách biệt trong quan hệ kinh tế thì mức độ càng nhẹ.
B. Những tác động
I/ Đối với các nước trong khu vực. Sự phá giá của đồng Baht và các đồng tiền khác của các nước Đông Nam á gây ra
hậu quả nghiêm trọng lâu dài và tác động xấu đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế
xã hôị của đất nước.
Trong thời gian trước và trong khủng hoảng, các nước đều phải tiêu tốn số lượng
ngoại tệ lớn để chống đỡ giữ cho đồng tiền không bị mất giá quá mức. Thái lan sử dụng
15 tỷ USD trong tổng số 33 tỷ USD dự trữ ngoại tệ của Nhà nước để cứu nguy cho đồng
Baht, Philippines cũng sử dụng 20% tổng số dự trữ để hỗ trợ cho đồng peso. Các nước
khác như Malaysia, Indonesia cũng sử dụng nhiều tỷ đôla Mỹ vào mục đích nói trên.
Nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ tăng lên khoảng 25-40 % tuỳtheo mức độ phá giá
của đồng tiền. Như vậy, nợ nước ngoài của Thái lantừ 85 tỷ USD lên 119 tỷ USD ;
Malaysia từ 29 tỷ lên 36,5 tỷ USD ; Philippines từ 43, 5 tỷ lên 54,4 tỷ USD ;
Indonesia từ 109,3 tỷ lên150,5 tỷ USD.
Hoạt động đầu tư, kinh doanh bị đình đốn. Hàng loạt các doanh nghiệp mất khả năng
thanh toán hoặc bị phá sản.
Do đồng tiền bị mất giá, nền kinh tế vĩ mô không ổn định, nguồn đầu tư nước ngoài
sẽ bị giảm sút và có thể sẽ chuyển sang khu vực khác ổn định và có nhiều lợi thế
các công ty Mỹ không tìm được thị trường mới ở châu á và châu Mỹ để bù đắp vào xuất
khẩu sang châu á đang giảm sút.
Vì vậy, tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) chỉ khoảng 2,4 % so với 3,7 %
của năm 1997, năm có mức tăng trưởng cao nhất của Mỹ kể từ 1988. Lạm phát trong
năm 1997 chỉ còn 2,1%, thấp nhất kể từ năm 1965, nhưng nhiều người tin rằng con số
này sẽ tăng lên 2,5% năm nay. Tỷ lệ thất nghiệp đã xuống còn 4,6 % vào tháng 11 năm
ngoái, cũng là mức thấp nhất trong vòng 24 năm qua, sẽ nhích lên 5% vào đầu năm
1998
II/ Đối với Việt Nam
Là một quốc gia nằm trong khu vực khủng hoảng, trong bối cảnh quốc tế hoá cao
như hiện nay, rõ ràng Việt Nam không tránh khỏi những tác động trực tiếp và gián tiếp,
ngắn hạn và dài hạn, tốt và xấu của nó đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất
nước.
Ban đầu khi cuộc khủng hoảng vừa bùng nổ nhiều ý kiến phân tích nhận định rằng
nền kinh tế Việt nam sẽ không bị ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể , căn cứ
của luận điểm trên mới chỉ dừng ở sự phân tích bề ngoài như :
+ Đồng tiền Việt nam chưa phải là đồng tiền được chuyển đổi dễ dàng , chưa tham
gia vào thị trường tiền tệ khu vực.
+ Việt nam chưa có thị trường chứng khoán
Tuy nhiên theo chúng tôi việc phân tích các tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ
ở Châu á đến nền kinh tế Việt nam phải xuất phát từ góc độ Việt nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN , bước đầu gia nhập AFTA và tới đây trong xu thế hội
nhập sẽ gia nhập APEC , WTO . Chỉ có như vậy mới có thể đưa ra được những đánh giá
mang tính khoa học.
Đối với Việt nam cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đã có những
tác động ở mức độ khác nhau trên nhiều lĩnh vực chủ yếu như : thương mại, đầu tư , tâm
trọng
Trị
giá
Tỷ
trọng
Tổng số 11.668 100 7.350 100 11.150 100 8.760 100
Các nước
Asean
2.948 25,2 2.252 30,6 3.098 27,8 1.787 20,4
Các nước
Châu á
khác
5.537 47,4 2.177 37,0 5.391 48,3 3.740 42,7
Phần còn
lại
3.195 27,4 2.379 32,4 2.661 23,9 3.323 36,9
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á hoạt động xuất
nhập khẩu của Việt nam cũng có một số biến động.
Thứ nhất : Về xuất khẩu. Do đồng nội tệ của các nước bị khủng hoảng mất giá
hơn so với Việt nam Đồng nên theo nguyên lí xuất khẩu hàng hoá của Việt nam sang
các nước này sẽ bị hạn chế do giá của các hàng hoá này trở lên đắt tương đối và nhu cầu
nội địa tại các nước bị khủng hoảng giảm sút. Bên cạnh đó như phần trên đã chỉ ra cơ
cấu hàng xuất khẩu của Việt nam cũng giống như cơ cấu hàng xuất của các nước
ASEAN do đó chắc chắn vễ xuất khẩu của Việt nam hiện tại và trong tương lai sẽ có sự sụt giảm đáng kể. Điều này được phản ánh qua số liệu tình hình xuất nhập khẩu năm
1997 khi cuộc khủng hoảng bắt đầu nổ ra và lan rộng, xuất khẩu của Việt nam thời gian
ảnh hưởng không tốt đến quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.
Theo chúng tôi, hiện nay có thể áp lực của cuộc khủng hoảng đối với nhập khẩu
không là đáng kể song trong thời gian tới mức độ tác động sẽ lớn hơn khi Việt nam phải
thực hiện các chương trình cắt giảm thuế quan nhập khẩu theo quy định của AFTA .
2/ Đối với đầu tư nước ngoài.
Đầu tư dưới dạng ODA : Thực tế về huy động vốn đầu tư ODA của Việt nam cho
thấy hiện nay đang diễn ra quá trình cạnh tranh và giành giật hết sức quyết liệt giữa các
nước nghèo, các nước đang phát triển nguồn vốn ODA từ các nước phát triển và các tổ
chức tài chính quốc tế. Số liệu cho thấy trong các hiệp định cho vay đa phương thì WB (
World Bank ) chiếm 22% tổng số vốn cam kết, tiếp sau là ADB 16%. Như vậy sau khi
xảy ra khủng hoảng chắc chắn mức cam kết của ADB sẽ giảm xuống. Các nước trước
đây thường cho Việt nam vay vốn ODA như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang bị ảnh
hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng nên việc gia tăng các nguồn vốn ODA từ các
nước này cũng sẽ rất khó khăn .
Như vậy việc huy động nguồn vốn ODA sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn dưới
tác động của cuộc khủng hoảng.