Luận văn tốt nghiệp : Tại sao chúng ta bắt buộc phải chuyển đổi nền kinh tế ? phần 5 - Pdf 19


41

định kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần. Bởi lẽ, mỗi một chế độ xã hội đều
có một cơ sở kinh tế tơng ứng với nó, kinh tế nhà nớc, nói
đúng ra kinh tế dựa trên chế độ công hữu bao gồm kinh tế
nhà nớc và kinh tế hợp tác, tạo cơ sở kinh tế cho chế độ xã
hội mới - xã hội chủ nghĩa.
Việc vin vào tình trạng kém hiệu quả của kinh tế nhà
nớc trong thời gian qua để phủ định kinh tế nhà nớc giữ
vai trò chủ đạo là sai lầm về lý luận. Vấn đề chủ yếu không
phải là phủ định vai trò của kinh tế nhà nớc, mà là cơ cấu
lại khu vực kinh tế nhà nớc và đổi mới cơ bản cơ chế quản
lý doanh nghiệp nhà nớc để chúng hoạt động có hiệu quả.
3.3. Trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN,
thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó
lấy phân phối theo lao động là chủ yếu.
Mỗi chế độ xã hội có chế độ phân phối tơng ứng với
nó. Chế độ phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trớc
hết là quan hệ sở hữu quyết định. Phân phối có liên quan
đến chế độ xã hội, đến chính trị. Dới chủ nghĩa t bản,
phân phối theo nguyên tắc giá trị: đối với ngời lao động

42

theo giá trị sức lao động, còn đối với nhà t bản theo giá trị
t bản. Nh vậy, thu nhập ngời lao động chỉ giới hạn ở sức
lao động mà thôi. Chủ nghĩa xã hội có đặc trng riêng về sở
hữu, do đó chế độ phân phối cũng có đặc trng riêng; phân
phối theo lao động là đặc trng của chủ nghĩa xã hội. Thu

trờng, nh quy luật giá trị, quy luật cung-cầu, cạnh
tranh,; giá cả do thị trờng quyết định, thị trờng có vai
trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực kinh tế
vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
Nền kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa đã đa đến
những hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội. Ngay từ năm
1848, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và
F.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng: xã hội t bản không để lại giữa
ngời với ngời một mối quan hệ nào khác, ngoài mối lợi

44

lạnh lùng và lối trả tiền ngay không tình nghĩa. Ngày
nay, chính một nhà nghiên cứu phơng Tây Ê-gát Mo-ring
đã đa ra nhận xét chua chát: Trong nền văn minh đợc
gọi là phát triển của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém
phát triển thảm hại về văn hoá, trí não, đạo đức và tình
ngời. Vì vậy, nền kinh tế thị trờng ở nớc ta không phải
là kinh tế thị trờng tự do, thả nổi mà là nền kinh tế có định
hớng mục tiêu xã hội - xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển kinh
tế thị trờng đợc xem là phơng thức, con đờng thực hiện
mục tiêu chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, văn minh.
Trong điều kiện ngày nay, hầu nh tất cả các nền kinh
tế của các nớc trên thế giới đều có sự quản lý của nhà nớc
để sửa chữa một mức độ nào đó những thất bại của thị
trờng. Tức là cơ chế vận hành nền kinh tế của tất cả các
nớc đều là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.
Nhng điều khác biệt trong cơ chế vận hành nền kinh tế của
nớc ta là ở chỗ Nhà nớc quản lý nền kinh tế không phải là


cho mình. Thoát ly yêu cầu của thị trờng, các mục tiêu của
kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không
thực hiện đợc.
ở tầm vĩ mô, mặc dù thị trờng không phải là căn cứ
duy nhất có tính chất quyết định, song kế hoạch Nhà nớc
cũng không thể thoát ly khỏi tình hình biến động của thị
trờng. Thoát ly thị trờng, kế hoạch vĩ mô trở thành duy ý
chí. Kế hoạch hoá vĩ mô nhằm đảm bảo cân đối lớn, tổng
thể của nền kinh tế nh tổng cung - tổng cầu, sản xuất tiêu
dùng, hàng hoá - tiền tệ. Kế hoạch hoá vĩ mô có thể tác
động đến cung, cầu, giá cả để uốn nắn những lệch lạc của
sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trờng gây ra,
thông qua đó mà hớng hoạt động của thị trờng theo
hớng của kế hoạch.
3.5. Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN cũng
là nền kinh tế mở, hội nhập:
Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế mở, hội
nhập với kinh tế thế giới và khu vực, thị trờng trong nớc
gắn với thị trờng thế giới, thực hiện những thông lệ trong
quan hệ kinh tế quốc tế, nhng vẫn giữ đợc độc lập chủ

47

quyền và bảo vệ đợc lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan
hệ kinh tế đối ngoại. Thực ra, đây không phải là đặc trng
riêng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, mà là
xu hớng chung của các nền kinh tế trên thế giới hiện nay.
(ở đây muốn nhấn mạnh sự khác biệt so với nền kinh tế
đóng, khép kín trớc đây).

khẩu còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá cả hàng hoá cao, chất
lợng hàng hoá thấp, quy mô, dung lợng thị trờng hạn
hẹp; mức cạnh tranh của các doanh nghiệp và hàng hoá trên
thị trờng trong nớc cũng nh thị trờng ngoài nớc còn
rất yếu; đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp giỏi còn ít;
thu nhập của ngời lao động còn thấp do đó sức mua hạn
chế. Nguyên nhân của tình trạng này là:

49

Cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp, bên cạnh
một số lĩnh vực, một số cơ sở kinh tế đã đợc trang bị kỹ
thuật và công nghệ hiện đại, trong nhiều ngành kinh tế, máy
móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu. Theo UNDP, Việt Nam đang
ở trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, máy móc thiết
bị lạc hậu 2-3 thế hệ (có lĩnh vực 4-5 thế hệ). Lao động thủ
công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội.
Do đó, năng suất, chất lợng, hiệu quả sản xuất của nớc ta
còn rất thấp so với khu vực và thế giới (năng suất lao động
của nớc ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới).
Kết cấu hạ tầng nh hệ thống đờng giao thông, bến
cảng, hệ thống thông tin liên lạccòn lạc hậu, kém phát
triển. Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các địa
phơng, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho
nhiều tiềm năng của các địa phơng không thể đợc khai
thác, các địa phơng không thể chuyên môn hoá sản xuất để
phát huy thế mạnh.
Do cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho
phân công lao động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế chậm. Nền kinh tế nớc ta cha thoát khỏi nền kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status