15
b. Chế độ sở hữu xã hội về t liệu sản xuất.
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: "Không thể xoá bỏ ngay t hữu
và thiết lâp ngay chế độ công hữu về t liệu sản xuất"
Sự bình đẳng về mặt xã hội của con ngời trong mối quan hệ
qua lại của họ đối với t liệu sản xuất tức là sự chiếm hữu mà tiêu
chí duy nhất của nó là lao động sống. Sự khẳng định mình nh là
một chế độ sở hữu. Sự bất bình đẳng xã hội cho phép một số ngời
này (ngời chủ sở hữu) chiếm đoạt lao động của những ngời khác
(những ngời không phải là chủ sở hữu) đợc coi là chế độ sở hữu.
Tùy thuộc vào khả năng chiếm đoạt lao động của mình hay của
ngời khác mà phân ra 2 kiểu chế độ sở hữu: chế độ t hữu mang
tính bóc lột dựa trên lao động của ngời khác và chế độ t hữu lao
động dựa trên lao động của chính bản thân mình. Kiểu chế độ t
hữu thứ hai, chẳng hạn nh các điền chủ hiện nay không sử dụng
hoặc hầu nh không sử dụng lao động làm thuê, ngày nay có thể
liên kết vào các hệ thống kinh tế cả TBCN và XHCN. Trên phơng
diện chủ thể, chế độ t hữu phân chia thành t hữu cá nhân và t hữu
tập thể bao gồm cả sở hữu tập thể cổ phần - sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể lao động.
Chế độ t hữu đợc đem so sánh với chế độ công hữu. Thực
chất của sự so sánh là ở chỗ: Sở hữu nhà nớc không phải mọi lúc
mọi nơi đều có nghĩa là sở hữu công cộng. Vấn đề không chỉ ở chỗ
chế độ công hữu có thể có hình thức. Sở hữu nhà nứơc và sở hữu tập
thể, mà còn ở trong bản chất của chính các quan hệ xã hội. Quốc
16
hữu hoá đợc coi là phơng thức, biện pháp cải tạo chế độ t hữu
hình thành cái mà theo C.Mác là"nhân cách tự do" "Sự phát triển
toàn diện của con ngời".
Cũng cần phải phân biệt chế độ công hữu XHCN (biểu hiện tập
trung của chế độ sở hữu xã hội), với chế độ sở hữu công, công của
tất cả các thành viên xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đối
với mọi của cải xã hội (không có sự phân biệt thành phần, không ai
có đặc quyền đặc lợi, mọi ngời đều bình đẳng, hành vi của mọi
ngời do các quy phạm xã hội điều chỉnh ).
3. Sự hình thành phát triển và biến đổi của sở hữu là một
quá trình lịch sử tự nhiên gắn liền với sự phát triển của lực
lợng sản xuất.
a. Hai mặt của nền sản xuất xã hội (Phơng thức sản xuất xã
hội).
Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội.
+ Lực lợng sản xuất: Phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên
của con ngời, nó biểu hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong
quá trình tạo ra của cải vật chất. Lực lợng sản xuất xã hôi bao
gồm: T liệu sản xuất và ngời lao động với những kinh nghiệm sản
xuất, kỹ năng, kỹ xảo, và thói quen lao động của họ. Trong sự phát
18
triển của lực lợng sản xuất do công cụ lao động và trình độ khoa
học - kỹ thuật (ngày nay trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp là
động lực phát triển nhanh, mạnh) phát triển, trong đó kỹ năng, lao
động của con ngời là quyết định. Con ngời là nhân tố trung tâm là
mục đích của nền sản xuất xã hội. Trong điều kiện ngày nay, cuộc
cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ rất phát triển, vị trí trung
tâm củ con ngời càng đợc nhấn mạnh. Do vậy, việc nâng cao dân
trí là nhu cầu bức bách. Nó vừa là đòi hỏi của nền sản xuất xã hội,
lực lợng sản xuất thấp kém nó đã làm kìm hãm lực lợng sản xuất
phát triển, làm cho năng suất lao động thấp, kinh tế không tăng
trởng, và khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Nhng sau đó Đảng ta đã nhận thức lại nhìn thẳng vào sự thật
nhận khuyết điểm và đi đúng qui luật bằng việc đề ra đờng lối đổi
mới toàn diện từ 1986 (Đại hội VI của Đảng). Thực tế những thành
tựu thu đợc của hơn 10 năm đổi mới vừa qua đã minh chứng tính
đúng đắn của việc vận dụng qui luật quan hệ sản xuất - lực lợng
sản xuất trên đất nớc ta.
b. Sự tách rời giữa quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng
t liệu sản xuất trong xã hội phong kiến và xã hội TBCN.
Chính quá trình phát triển của nền kinh tế quốc tế mà trực tiếp
nhất, sâu xa nhất là sự phát triển của lực lợng sản xuất với các cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật là động lực thúc đẩy nhanh mạnh nhất,
20
nó cho biết rằng các quyền gắn liền với phạm trù sở hữu đã có sự
biến đổi đáng kể. Thờng ở thời kỳ đầu (Nh trong thời kỳ CNTB
cạnh tranh tự do) thì 3 quyền trong quyền sở hữu (quyền sở hữu,
quyền quản lý và quyền sử dụng)thống nhất trong một chủ thể. Sự
xuất hiện của t bản cho vay đã làm cho quyền sở hữu và quyền sử
dụng tách rời nhau. Khi lực lợng sản xuất đợc xã hội hoá (trong
điều kiện của kinh tế thị trờng) thì 3 quyền trên tách rời giữa các
chủ thể (khi đó lao động quản lý trở thành một nghề. Ví dụ trong
công ty cổ phần, quyền sở hữu nằm trong tay các cổ đông, quyền
điều hành chung thuộc Hội đồng quản trị, còn quyền quản lý trực
tiếp thuộc về giám đốc(hoặc tổng giám đốc). Trong đó quyền sở hữu
vẫn giữ vai trò quyết định chi phối quyền quản lý, sử dụng, phân
phối.
(họ không có quyền sở hữu t liệu sản xuất mà chỉ "sử dụng" ruộng
đất của địa chủ để làm thuê lấy công duy trì cuộc sống cá nhân và
gia đình họ); và còn có sở hữu của tiểu nông độc lập và thợ thủ
công tự do. Bản thân các chủ sở hữu nhỏ này cũng bị nhà nớc
phong kiến và địa chủ phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề (tuy cuộc
sống có dễ chịu hơn so với nông nô).
Một nét đặc trng khác nữa là giai cấp phong kiến cỡng bức
siêu kinh tế nhằm cột chặt nông dân vào ruộng đất và bóc lột phần
lớn lao động của nông dân (toàn bộ cả lao động sản phẩm thặng d).