Phụ Lục
2.2.1 Khái niệm dịch vụ 3
2.7.1 Những khó khăn chủ yếu khiến cho các HTX kinh doanh thiếu
hiệu quả có thể nhìn thấy như sau: (www.tapchiketoan.com) 9
3.1.1. Tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã
Đại Hồng tại huyện Đại Lộc: 11
3.1.2. Phân tích hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ
của hợp tác xã Đại Hồng tại huyện Đại Lộc: 11
3.3.3. Phương pháp phân tích thông tin 12
Danh mục những từ viết tắt
HTX Hợp tác xã
CP Cổ phần
XV Xã viên
BVTB Bảo vệ thực vật
THT Tổ hợp tác
KCHKM
Kiên cố hóa kênh mương
LMHTX
Liên minh hợp tác xã
Phần 1: Đặt vấn đề
1
Hợp tác xã là một trong những mô hình kinh tế có lịch sử phát triển
tương đối lâu dài ở nước ta. Tuy nhiên hiệu quả của nó đem lại cũng như là
đóng góp của mô hình kinh tế này vào nền kinh tế quốc dân là hoàn toàn
chưa thực sự tương xứng với lịch sử phát triển của nó. Ở nước ta thì mô hình
kinh tế hợp tác xã đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước đối với miền Bắc,
có thể nói ở giai đoạn từ năm 1950 -1980 mô hình kinh tế hợp tác xã phát
triển rất mạnh mẽ và rất có hiệu quả. Còn ở miền Nam thì loại hình kinh tế
hợp tác xã chỉ được phát triển khi đất nước ta hoàn toan độc lập, tuy nhiên
nó cũng đã rất phát triển và đã góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế
quốc dân. Trong đó có một số hợp tác xã hoạt động đạt hiệu quả như: Hợp
Luật hợp tác xã năm 1996 và sửa đổi bổ sung năm 2003 của Việt Nam đã
định nghĩa: Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp
nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức
lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh của tập thể của từng xã
viên tham gia hợp tác xã, cũng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh
tế xã hội của đất nước.
2.2 Khái niệm về dịch vụ, dịch vụ đầu vào( Bài giảng “Kinh tế hợp tác xã” của
thầy Lê Văn Nam, năm 2005)
2.2.1 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho
bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào
cả.
2.2.2 Dịch vụ đầu vào
Dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp được hiểu là những hoạt động tạo
điều kiện và cung cấp những yếu tố cần thiết hoặc cần cho một quá trình sản xuất
kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp, mà người sản xuất
không có sẵn, không thể làm được hoặc nếu tự làm cũng không có hiệu quả. Cho
nên họ phải tiếp nhận các điều kiện, các yếu tố bên ngoài bằng các cách thức khác
nhau như mua bán, trao đổi, thuê mướn hoặc nhờ
2.3 Vai trò của dịch vụ đối với sản xuất nông nghiệp(www.vca.org.vn)
3
Có thể nói dịch vụ là một phần không thể thiếu trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp ngày nay bởi một hộ gia đình hay một HTX không thể nào có thể
đảm nhiệm được hết tất cả các khâu trong dây chuyền sản xuất ra một loại cây
trồng hay một con vật nuôi, mà phải nhờ đến rất nhiều người nhiều tổ chức sản
xuất khác nhau thì mới có thể giúp cho hoạt động sản xuất đạt được hiệu quả.
Chính vì vậy dịch vụ cung ứng đầu vào sẽ giúp cho người nông dân có thể giảm
bớt một số kinh phí trong việc sản xuất cũng như là nâng cao được chất lượng của
Từ khi ra đời đến nay,các HTX ở nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế-xã hội của đất nước. Trong mỗi giai
đoạn, các HTX đều có những dấu ấn riêng và có những đóng góp quan trọng vào
thành tựu phát triển chung của đất nước. Đặc biệt các HTX ở Việt Nam đã trải qua
một bước chuyển đổi quan trọng từ HTX kiểu cũ chuyển sang HTX kiểu mới theo
Luật HTX sửa đổi năm 2003.
Theo đánh giá chung từ khi có Luật HTX (từ năm 2003 đến nay), khu vực
kinh tế này vẫn chưa thoát khỏi những yếu kém kéo dài về trình độ công nghệ lạc
hậu, năng lực đội ngũ cán bộ quản lý yếu, chất lượng, hiệu quả hoạt động thấp.
Hiện vẫn có tới gần 4.000 HTX có tên nhưng không hoạt động, nhiều HTX hoạt
động hình thức hoặc lúng túng trong việc xây dựng phương án tổ chức hoạt động,
chưa mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên. Ngoại trừ các lĩnh vực thuỷ sản và
lâm sản, HTX hoạt động khá hiệu quả còn trong các lĩnh vực khác, khả năng sinh
lời của các HTX rất thấp. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế hợp tác, HTX chỉ bằng
khoảng ½ tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và thấp nhất so với các thành
phần kinh tế khác.
Thực tế, trên địa bàn Hà Nội, theo số liệu thống kê của Liên minh HTX Hà
Nội, hiện toàn thành phố có 1.617 HTX, quỹ tín dụng nhân dân trong đó có 962
HTX nông nghiệp đang hoạt động thu hút hàng vạn xã viên tham gia. Dưới góc độ
hiệu quả sản xuất kinh doanh, bên cạnh một số HTX hoạt động có hiệu quả (chiếm
trên 50%) vẫn còn còn trên 10% các HTX xếp loại yếu kém, thậm chí có gần 200
HTX ngừng hoạt động, chờ giải thể, chuyên đổi mô hình.
Cho đến thời điểm hiện nay, cả nước có 44 liên hiệp HTX, 17900 HTX và
320000 tổ hợp tác (THT). Có khoảng 12.5 triệu xã viên và người lao động tham
gia trong các HTX và có khoảng 3.5 triệu lao động tham gia vào THT. Quy mô
của các HTX là rất khác nhau, phù thuộc vào đặc thù của từng vùng địa lý. Hầu
5
hết các HTX nông nghiệp thường có quy mô trên 100 xã viên, trong khi đó phần
lớn (60%) các HTX tiểu thủ công nghiệp chỉ có qui mô 10-20 xã viên.
Cùng với việc phát triển của các HTX, trong những năm qua hiệu quả sản
so với cuối năm 2004). Các THT được hình thành trên tinh thần tự nguyện của
những người sản xuất nhỏ nhằm tương trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Nhờ phương thức hoạt động được xây dựng bài bản, các THT đã đáp ứng
được nhu cầu về lợi ích vật chất và tinh thần trong cộng đồng dân cư, giải quyết
việc làm, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho các thành viên. Theo ông Nguyễn
Đỗ Chiến - Phó Chủ tịch thường trực Liên minh HTX tỉnh khẳng định “các THT
đã khơi dậy được tiềm năng to lớn của nhân dân, nhất là trong việc tận dụng
những nguồn lực trí tuệ, lao động, vốn, kỹ thuật thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tạo tiền đề mới cho sản xuất hàng hóa tập trung, đáp ứng yêu cầu của thị
trường”. Hiện nay, toàn tỉnh có 120 HTX hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp (số
đơn vị có từ 3 đến 6 loại hình kinh doanh chiếm đến 80%). 5 năm qua kể từ khi
quyết định số 272/2005/QĐ-TTg ra đời thì để làm tốt vai trò “bà đỡ” cho kinh tế
hộ, nhiều đơn vị đã nỗ lực tìm kiếm nguồn vốn nhằm đẩy mạnh cơ giới hóa, xây
dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất. Thống kê mới nhất, hiện
toàn tỉnh có 54 HTX phi nông nghiệp, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực vận tải, xây
dựng, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, du lịch với hơn 4 nghìn thành viên là
xã viên, hộ xã viên và ít nhất 10 nghìn lao động. Theo ông Nguyễn Đỗ Chiến, dù
phải tiếp tục đối mặt với hàng loạt thách thức bởi mặt trái của nền kinh tế thị
trường cũng như chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các yếu tố bất hợp lý của mô hình
HTX kiểu cũ, nhưng trong số các HTX nông nghiệp, thì có đến 89% đạt loại khá
giỏi và trung bình, hơn 40% đã có vốn tích lũy để tái đầu tư, gần 81% thực hiện
chế độ bảo hiểm xã hội cho đội ngũ quản lý từ năm 2003 đến nay, một số nơi còn
mua bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn cho xã viên và người lao động. Các HTX
Duy Thành, Duy Sơn 2, Điện Quang, Đông Phú, Tam An 2, Đại Hiệp, Điện Thọ 1,
Điện Hồng 2 là những HTX nông nghiệp có tốc độ phát triển ổn định. Kết quả
kiểm tra vừa công bố còn cho thấy, trong số 54 HTX phi nông nghiệp thì có đến
60% thuộc diện khá giỏi, tăng 25-30% so với đầu năm 2005. Trong đó, điển hình
7
là HTX Vận tải thủy bộ và khách du lịch Hội An, HTX Vận tải kinh doanh tổng
hợp Tam Kỳ, HTX 27-7 (Đại Lộc), Xí nghiệp Mây tre lá Âu Cơ (Núi Thành)
hành hành hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10
tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác
- Ngày 09/7/2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 04/2008/TT-BKH hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác.
2.7 Những khó khăn, cơ hội và thách thức đối với mô hình kinh tế hợp tác xã
ở nước ta hiện nay
2.7.1 Những khó khăn chủ yếu khiến cho các HTX kinh doanh thiếu hiệu quả
có thể nhìn thấy như sau: (www.tapchiketoan.com)
Trình độ cán bộ, xã viên HTX còn thấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu
phát triển. So với các loại hình doanh nghiệp khác thì nhìn chung trình độ văn hóa
của lao động làm việc trong các HTX còn thấp. Phần lớn lao động trong các HTX
có trình độ văn hóa từ cấp II trở xuống, tỷ lệ lao động tốt nghiệp cấp III rất thấp
(dưới 20%).
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong HTX rất
hạn chế: chỉ có khoảng 10% số chủ nhiệm HTX có trình độ cao đẳng hoặc đại hộc,
chỉ tiêu này tương ướng với các chức danh kế toán trưởng và trưởng Ban kiểm
soát là 12% và 8%. Nếu xem xét trong toàn bộ lực lượng lao dộng khu vực HTX
thì trình độ chuyên môn kĩ thuật lại càng thấp. Theo điều tra về các HTX năm
2005, lao động trong các HTX có trình độ cao đẳng, Đại học và trên Đại học
chiếm dưới 5%.
Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, cơ sở vật chất của các HTX nghèo
nàn, máy móc thiết bị cũ, trình độ công nghệ lạc hậu, sản xuất thủ công là phổ
biến. Chỉ có 17% HTX có máy móc, phương tiện làm việc đáp ứng được nhu cầu
làm việc; 33% chưa đáp ứng được nhu cầu làm việc; 50% HTX rất thiếu máy móc,
phương tiện làm việc. Do công nghệ sản xuất lạc hậu nên các HTX chỉ tập trung
chủ yếu vào một lĩnh vực truyền thống, mẫu mã sản phẩm đơn điệu không đáp
ứng được nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy, các HTX hiện nay rất cần hỗ trợ,
phổ biến thông tin, chuyển giao công nghệ.
Thiếu vốn sản xuất kinh doanh phổ biến và kéo dài: Nhìn chung vốn điều lệ
của các HTX thấp, có nhiều HTX chỉ có số vốn dưới 100 triệu VNĐ. Việc huy
Các HTX đang có những cơ hội trong việc mở rộng thị trường hàng hoá và
dịch vụ, ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến của nhiều nước trên thế giới vào
10
sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm Tuy
nhiên, thử thách đặt ra đối với khu vực HTX cũng rất lớn. Cụ thể: Quy mô của các
HTX nhỏ, điều kiện về vốn, công nghệ sản xuất, trình độ tay nghề của người lao
động còn nhiều yếu kém; các thủ tục về pháp lý, các cơ chế chính sách gắn liền
với hoạt động của các HTX còn thiếu.
Phần 3: Nội dung về phương pháp nghiên cứu
3.1. Các vấn đề chính cần nghiên cứu
3.1.1. Tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã Đại
Hồng tại huyện Đại Lộc:
- Thực trạng về cơ sở vật chất của hợp tác xã
- Thực trạng về nguồn vốn của hợp tác xã
- Thực trạng về các hoạt động và doanh thu của hợp tác xã
- Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã
- Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của từng thành viên
3.1.2. Phân tích hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của
hợp tác xã Đại Hồng tại huyện Đại Lộc:
- Hiệu quả của từng hoạt động sản xuất kinh doanh dich
- Hiệu quả đối với từng hoạt động sản xuất nông nghiệp.
3.1.3. Tìm hiểu vai trò của hợp tác xã trong việc cung ứng đầu vào và
tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp:
- Vai trò của hợp tác xã trong việc cung ứng vật tư đầu vào
- Vai trò của HTX trong việc tìm thị trường đầu ra cho các sản phẩm
nông nghiệp của HTX.
- Vai trò của hợp tác xã trong việc hỗ trợ một số hoạt động sản xuất
nông nghiệp khác.
3.1.4. Mức độ hài lòng của người dân với các dịch vụ mà HTX mang lại
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Đặc điểm của vùng nghiên cứu:
4.1.1. Điều kiện tự nhiên:
12
Đại Hồng là xã miền núi thuộc vùng A, nằm ở phía Tây huyện Đại Lộc tỉnh
Quảng Nam. Phía Đông giáp với Đại Phong, phía Tây giáp với Đại Sơn,
phía Bắc giáp với sông Vu Gia Đại Lãnh, phía Nam giáp với núi (dãy Sơn
Gà). Diện tích tự nhiên của toàn xã là 5121 ha, trong đó diện tích trồng trọt
là 420 ha. Có đường quốc lộ 14B chạy dọc suốt chiều dài địa bàn. Đặc biệt
xã còn có hai nguồn tài nguyên khoáng sản có giá trị đó là Mỏ than Ngọc
Kinh với trữ lượng khá lớn và núi đá vôi Hòa Hữu Tây. Có thể nói Đại Hồng
là một vùng trung du nằm ở thế tiếp giáp giữa sông và núi nên địa bàn xã
được kéo dài theo chiều dọc một bên là sông một bên là núi, chính vì thế mà
đã tạo cho vùng đất nơi đây những danh lam thắng cảnh tự nhiên vô cùng
hấp dẫn như là Khe Lim, Bằng Om. Đây là hai địa danh đang được đầu tư
xây dựng để trở thành khu du lịch sinh thái.
Đất đai chủ yếu là các loại: đất cát pha, đất phù sa sông bồi đắp hằng
năm, đất đỏ vàng(đất đồi), Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan
trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm chiếm 33,7%. Nhóm
đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây
ăn quả dài ngày chiếm 41,8 . Nhóm đất các pha rất phù hợp để phát triển các
loại cây hoa mầu chiếm 24,5%
Về khí hậu thì Đại Hồng cũng chịu ảnh hưởng chung với những điều
kiện khí hậu của cả khu vực duyên Hải Nam Trung Bộ là chỉ có 2 mùa là
mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt
độ trung bình năm 25,4
o
C, Mùa đông nhiệt độ có thể xuống dưới 20
o
C. Độ
ẩm trung bình trong không khí đạt 84%. Lượng mưa trung bình 2000-
suất(tạ)
Diện
tích(ha)
Năng
suất(tạ)
Diện
tích(ha)
Năng
suất(tạ)
Diện
tích(ha)
Năng
suất(tạ)
Lúa 45,5 55 45,5 55 91 110
Ngô 58 60 140 70 7,5 40 205,5 170
Lạc 239 30 239 30
Thuốt lá 20 24 20 24
T. Xanh 4 50 4 50
Đậu Côve 15 14 15 14
Ớt 4 26 4 20 8 46
Bông 5 30 5 20 10 50
Săn 6 90 6 105 6 105 18 300
Dưa hấu 16 100 23 280 29 300 68 680
Rau 6,5 70 6,5 70 2,5 70 15,5 210
Mè 4 8 4 8
Đậu xanh
Đậu đen 190 20 32 10 222 50
14
Bỏ hoang 1 1
Tổng cộng 420 374,5 126 921 1
BQ/người
7.824.000 Đồng/năm
Tỉ lệ hộ nghèo 16,7 %
(Nguồn báo cáo HTX 2010)
4.2. Đặc điểm của các hộ nghiên cứu:
15
Vì là xã miền núi nên hầu như trình độ văn hóa của các chủ hộ ở vùng
nghiên cứu cũng tương đối thấp nguyên nhân một phần là do trước đây hệ
thống trường lớp cho người dân vẫn chưa đảm bảo, toàn xã chỉ có một
trường cấp 2 muốn học lên cấp 3 thì phải đi lên huyện nên hầu hết người dân
chỉ học song cấp 2 là nghỉ hoặc có thể bỏ học giữa chừng, một phần khác là
do điều kiện kinh tế của người dân trước đây còn khó khăn nên việc bỏ học
giữa chừng để đi làm xa là thường xuyên xảy ra. Về phần nhân khẩu thì hầu
hết các hộ dân được chọn nghiên cứu đều đã sinh từ 3 con trở lên điều này
có thể hiều được vì đặc điểm của vùng nghiên cứu là ở nông thôn nên những
quan niệm sinh con đẻ cái vẫn còn ăn sâu trong tư tưởng của họ như quan
niệm trong nam khinh nữ, nữ nhi ngoại tộc hay là sinh con nhiều cho vui
nhà vui cửa. Một phần là vì người dân ở đây cho rằng có khẩu là có đất,
chính vì thế nên nhiều gia đình đã sinh nhiều con để được nhận đất chia của
nhà nước. Bởi vậy nên tính ra bình quân diện tích đất sản xuất trên mỗi hộ là
khá cao. Tuy nhiên nhìn chung số lao động trên mỗi hộ là khá cân đối với
nhau.
Bảng: Đặc điểm của các hộ tại vùng nghiên cứu
Các chỉ tiêu Đvt
Thôn Phước
Lâm(N=10)
Thôn Đông
Phước(N=8)
Thôn Dục
Tịnh(N=12)
7,80
7,80 7,38
Đầu tư cho nông
Đầu tư cho nôngnghiệp/hộ
nghiệp/hộ
Triệu
Triệu 12,18
12,18
12,18 12,09
(Nguồn khảo sát hộ 2010)
4.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã Đại Hồng
tại huyện Đại Lộc:
16
a. Thực trạng về cơ sở vật chất của hợp tác xã
Hiện tại hợp tác xã có hai cơ sở chính, một cơ sở tại tổ 2 thôn Phước
Lâm và một cơ sở mới đóng tại khu du lịch sinh thái Khe Lim thuộc tổ 3
thôn Phước Lâm cách cơ sở cũ 1,5 Km việc xây dưng cơ sở mới là để thuận
tiên cho việc kinh doanh dịch vụ du lịch và được thực hiện từ năm 2006 đến
nay. Có thể nói việc xây dựng cơ sở làm việc mới của HTX rất thuận lợi cho
việc hoạt động của các loại hình dịch vụ như dịch vụ du lich, dịch vụ cấp
nước. Tuy nhiên đây cũng lại là một bất lợi lớn của HTX trong các hoạt
động dịch vụ khác như dịch vụ cung cấp vật tư. Vì cơ sở mới nằm trong khu
du lịch sinh thái Khe Lim cách đường quốc lộ 500m cho nên việc đi lại cũng
như là trao đổi hàng hóa giữa người dân và HTX trở nên khó khăn hơn,
trong khi cơ sở củ vẫn luôn đóng cửa vì không có người trực thường xuyên.
Hiện nay thì trụ sở làm việc chính của hợp tác xã là ở tại cơ sở mới, còn
cơ sở củ thì được dùng để làm nhà kho với tổng diện tích là 1390 m
đáp
ứng%
Phòng làm việc 5 30 0% 3 20 100%
Nhà kho 2 120 10% 0 0 0
Nhà giử xe 0 0 0 1 200 65%
Nhà bảo vệ 0 0 0 1 25 100%
Hội trường 1 250 90% 0 0 0
17
Nhà kinh
doanh(quầy bán
tạp hóa)
0 0 1 250 85%
Khuôn viên 1 750 100% 1 3615 100%
Tổng diện tích 1390 4040
(Nguồn: phỏng vấn 2011)
Về máy móc và tư liệu hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp thì hiện nay
hợp tác xã đã thanh lý hết, hiện giờ thì hợp tác xã không còn một loại tư liệu
nào hỗ trợ cho sản xuất. Nguyên nhân dẫn đến việc hợp tác xã thanh lý hết
máy móc và các tư liệu sản xuất khác là do trước đây kể từ năm 1996 đến
nay hợp tác xã hoạt động liên tục bị thua lỗ nên buộc phải thanh toán bớt tài
sản cố định để trả nợ cho các tổ chức tín dụng và đồng thời cũng để trả
lương cho cán bộ, nhân viên. Nhìn chung về cơ sở vật chất của hợp tác xã là
tương đối nghèo nàn hầu hết các hệ thống nhà cửa công trình của hợp tác xã
đều đã cũ kĩ và ít được đầu tư nâng cấp tu sửa. Bên cạnh đó cộng với việc bỏ
phí một diện tích lớn nhà kho, văn phòng và sử dụng chưa đúng các nguồn
tư liệu sản xuất đã làm cho hợp tác xã ngày càng bế tắc hơn trong việc tìm ra
giải pháp đưa hợp tác xã đi lên.
b. Thực trạng và cơ cấu các nguồn vốn của hợp tác xã:
Tình hình tài sản - nguồn vốn HTX (năm 2008). Tổng cộng tài sản hiện
có của HTX là 2.077.304.591 đồng. Trong đó bao gồm:
Thu nợ vay vốn xã viên còn tồn đọng qua các năm là 15.866.750đ để khấu
trừ vào CPXV. Điều tra chuyển cổ phần theo khu dân cư mới. Điều tra cổ
phần đi xa ngoài địa bàn xã và chết không người thừa kế chuyển nhượng CP,
chia tách CP. Kết quả đã thực hiện được như ở bảng dưới. Về cổ phẩn xã
viên hiện nay thì đa số khi được hỏi các xã viên đều cho rằng muốn rút cổ
phần lại. Tuy nhiên do nguồn vốn của HTX không đủ để trả lại cổ phần cho
xã viên nên vì lý do đó mà xã viên thường sử dụng các dịch vụ của HTX rồi
quỵt nợ nhằm lấy lại cổ phần. Điều này đã làm cho HTX rất khó khăn trong
việc quản lý các nguồn vốn.
19
Bảng: Cổ phần xã viên sau khi đã trừ các khoảng nợ
Thôn
CP sau khi trừ nợ
vay
Tiếp tục thu nợ
trừ vào cổ phần
CPXV còn lại
trong HTX
CPXV đi xa -
chết
Tổng cộng
CP Thành tiền CP Thành
tiền
CP Thành tiền CP Thành
tiền
CP Thành tiền
Hà Vi 399,92 71.985.600 2.148.600 56.643.410 13.193.590 69.837.000
Ngọc
Thạch
420,99 72.423.400 4.459.150 55.352.700 12.611.55
Về nguồn vốn cố định thì hiện nay HTX có 1.565 triệu đồng chiếm
78% tổng số tài sản của HTX. Nguồn vốn cố định của HTX bao gồm có:
phòng làm việc, nhà kho, khuôn viên và các phương tiên hổ trợ cho sinh
hoạt và làm việc khác
Vốn lưu động của HTX là 445 triệu đồng gồm có các loại hàng hóa
kinh doanh dịch vụ du lịch như quà lưu niệm, thức ăn, nước uống Chiếm
22% so với tổng tài sản của HTX.
Tóm lại thì hiện nay hợp tác xã đang hợp tác xã đang gặp rất nhiều khó
khăn về nguồn vốn đặc biệt là về vốn tiền mặt. Nguyên nhân là do tình trạng
xã viên cố tình để nợ để trừ vốn cổ phần trong khi đó thì HTX lại chưa có
một biện pháp nào để thu hồi nhất là nợ vay sản xuất của xã viên đã ảnh
hưởng đến vốn hoạt động của HTX. Song có một điều là HTX vẫn không
vay nợ từ bất cứ một tổ chức tín dụng nào, điều này cũng làm cho HTX đở
bớt gánh nặng về tài chính.
c. Các hoạt động và doanh thu của hợp tác xã trong 3 năm gần đây:
Hiện tại HTX có tổng cộng 8 hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó
bao gồm các hoạt động sau: Dịch vụ thủy lợi, dịch vụ điện, dịch vụ du lịch
Khe Lim, dịch vụ nước tự chảy, dịch vụ làm đất, dịch vụ vật tư nông nghiệp,
công tác thu hồi nợ vay vốn sản xuất, công tác thu nợ giao khoán, công tác
thu nợ giao khoán TSTLHKM.
Nhưng trong số các hoạt động trên thì có 3 hoạt động không tạo ra thu
nhập là dịch vụ làm đất, công tác thu nợ giao khoán, công tác thu nợ giao
khoán TSTLHKM.
Đối với dịch vụ làm đất thì HTX chỉ có vai trò là kết hợp với ban nông
nghiệp của xã để điều hành việc vận hành máy cày máy kéo và các phương
tiện hổ trợ sản xuất nông nghiệp khác nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất
được diễn ra đúng thời vụ đồng thời còn điều chỉnh giá cả của dịch vụ này
sao cho phù hợp và tránh xảy ra tình trạng nơi thì thừa nời thì thiếu máy. Đối
với dịch vụ làm đất thì chủ yếu là dựa trên tinh thần hỗ trợ giúp đở là chính.
Trước đây HTX vẫn có dịch vụ làm đất tuy nhiên không giống như hiện nay,
bàn xã. Theo báo cáo tổng kết cuối năm 2010 thì dịch vụ nước tự chảy vẫn
chưa đem lại được doanh thu cho HTX nhưng với xu hướng như hiện nay thì
rất có thể nói dịch vụ cung cấp nước sạch này sẽ đem lại được hiệu quả lâu
dài và rất lớn cho HTX trong tương lai.
23
Dịch vụ điện: Được tiếp nhận từ trung tâm điện lực tỉnh Quảng Nam từ
năm 2003 đến nay HTX có vai trò quản lý việc thu chi, phân phối điện cho
từng hộ dân trong xã. Nhìn chung thì dịch vụ này đã đem lại cho HTX một
nguồn thu tương đối hàng năm. Tuy nhiên sắp tới đây có thể HTX sẽ không
còn làm dịch vụ điện nửa mà bàn giao lại cho ngành điện quản lý. Nguyên
nhân là do bên phía ngành điện ra chỉ thị yêu cầu đối với các HTX rằng: Nếu
HTX nào muốn được tiếp tục thực hiện dịch vụ này thì phải chịu trách
nhiệm tu bổ hoặc thay mới lại đường dây điện đã củ. Vì lý do nguồn vốn
thiếu hụt nên HTX buộc phải ngưng hoạt động dịch vụ điện. Có thể nói đây
là một thiệt hại khá lớn cho HTX.
Dịch vụ kinh doanh du lịch Khe Lim: Được đưa vào hoạt động từ đầu
năm 2006 đến nay kể từ khi cơ sở mới được xây dựng. Ước tính trong vòng
một năm có khoảng 15.000 lược khách đến đây và chủ yếu là khách trong
tỉnh, ngoài ra thì đây cũng là một nới tham quan nghĩ mát ưa thích của các
du khách đến từ thành phố Đà Nẵng vào các dịp lễ Tết. Các loại hình dịch vụ
hổ trợ du lịch của HTX như là: dịch vụ giữ xe, bán vé vào cổng, dịch vụ bán
đồ lưu niệm, dịch vụ tạp hóa. Nhìn chung thì các hoạt động này cũng tạo ra
được thu nhập khá đáng kể cho HTX.
Dịch vụ vật tư nông nghiệp: Nói là dịch vụ vật tư nông nghiệp nhưng
thực chất thì đây là hoạt động cho thuê quầy vật tư và hướng dẫn cho xã viên
mua bán kinh doanh vật tư nông nghiệp đảm bảo quy trình, quy định của nhà
nước. Đây cũng là một hoạt động tạo ra thu nhập tuy nhiên nó chưa thật sự
hiệu quả và mang lại lợi ích cao nhất.
Dịch vụ thủy lợi: Đây là loại hình dịch vụ lâu đời nhất của HTX kể từ
khi mới thành lập thì đây là loại hình được HTX chú trọng và đầu tư nhiều
- Thủ kho: ông Nguyễn Thủy
- Kỹ thuật điện nước 2 người: ông Thái Đình Tâm Hồng và ông
Nguyễn Công.
- Bảo vệ 2 người: ông Nguyễn Phi và ông Phan Quy
Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của từng thành viên được phân như sau:
Chủ nhiệm HTX có các quyền hạn và nghĩa vụ sau:
- Đại diện cho HTX trước pháp luật
- Tổ chức thực hiện kế hoạch và điều hành mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ của HTX.
25