Tiểu luận: Đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước ở Việt Nam - Pdf 20

Tiểu luận
Đánh giá thực trạng pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm và
suy thoái tài nguyên nước ở
Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU

1
Nước là tài nguyên, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống con người. Không có nước
không có sự sống. Chúng ta cần nước sạch cho sinh hoạt, bảo vệ sức khỏe và vệ sinh.
Nước cần cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Nước còn cần cho phát triển thủy điện và giao thông thủy. Nước cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc duy trì sự trong lành và bền vững của môi trường, duy trì mối quan hệ
láng giềng hữu nghị với các nước có chung nguồn nước liên quốc gia. Nước là tài
nguyên quý giá, có hạn và dễ bị ô nhiễm. Bên cạnh những mặt lợi, nước cũng có thể gây
ra tai họa cho người và môi trường. Trong những thập niên qua việc khai thác tài nguyên
nước và cộng tác phòng, chống tác hại do nước gây ra đã có những thành tựu quan trọng,
góp phần to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong
một thời gian dài việc nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của nước đối
với đời sống, sức khỏe và sự phát triển bền vững của đất nước, chưa chú trọng quản lý
và bảo vệ tài nguyên nước dẫn đến tài nguyên nước ở nước ra đã có những biểu hiện suy
thoái cả về số lượng lẫn chất lượng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước, khan
hiếm nước đã xuất hiện ở nhiều nơi và đang có xu hướng gia tăng; tình trạng sử dụng
nước lãng phí, kém hiệu quả, thiếu quy hoạch, thiếu tính liên ngành còn khá phổ biến.
Trong khi đó nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế không ngừng gia tăng về số
lượng và đòi hỏi cao hơn về chất lượng, các nước láng giềng có chung nguồn nước với
Việt Nam đang tăng cường khai thác nguồn nước ở thượng nguồn, cân bằng nước giữa
cung và cầu nhiều lúc, nhiều nơi không đảm bảo và trở thành áp lực lớn đối với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện dân số gia tăng, khí hậu toàn cầu
diễn biến ngày một phức tạp, Tình hình đó đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý,
bảo vệ để phát triển bền vững tài nguyên nước và phòng, chống có hiệu quả các tác hại

và quy mô. Nguồn nước dưới đất ở nhiều đô thị, một số khu vực đồng bằng đã có biểu
hiện ô nhiễm do các chất hưu cơ khó phân hủy và hàm lượng vi khuẩn cao. Các biểu
hiện suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất đang ngày càng trở nên rõ rệt và phổ biến ở
nước ta. Đáng lưu ý, trong Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005 có nêu, nước
dưới đất bị ô nhiễm còn do việc chôn gia cầm bị dịch không đúng quy cách, điều này
dẫn đến nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất từ các hốc chôn lấp, tiêu hủy gia cầm đầy bệnh
dịch là rất cao, đặc biệt là trong mùa mưa. Ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động sản
xuất kinh với quy mô nhỏ nhưng dày đặc ở các làng nghề hiện nay cũng rất nghiêm
trọng. Các chuyên gia còn phân tích, trong khu vực nội thành của các thành phố lớn, hệ
thống các hồ, ao, kênh, rạch và các sông nhỏ chính là nơi tiếp nhận và vận chuyển nước
thải của các khu công nghiệp, dân cư, Hệ thống này hiện nay đang ô nhiễm nghiêm trọng
vượt quá mức tiêu chuẩn 5-10 lần, các hồ trong nội thành phần lớn ở trạng thái phú
dưỡng, nhiều hồ bị phú dưỡng hóa đột biến và tái nhiễm bẩn hữu cơ. Trong nước dưới
đất, nhiều nơi còn thấy dấu hiệu ô nhiễm phốt phát và arsenic. Tại Hà Nội, một số giếng
có hàm lượng phốt phát và arsenic cao hơn mức cho phép là 71%.
2. Nguyên nhân của sự ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước ở Việt Nam
Trước yêu cầu sử dụng nước còn tiếp tục gia tăng trong khi tài nguyên nước thì
ngày càng bị suy thoái nên cần phân tích rõ các nguyên nhân suy thoái, đặc biệt là các
nguyên nhân về quản lý để có được các giải pháp nhằm ngăn chặn và giảm thiểu sự suy
thoái đang phát triển nghiêm trọng này. Có 5 nguyên nhân chính dẫn đến việc ô nhiễm
và suy thoái tài nguyên nước ở Việt Nam:
- Do gia tăng nhanh về dân số. Sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu
cầu nước sạch trong ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác động
của con người với môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng cũng
ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng.
- Do việc khai thác quá mức tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan đến
nước như đất, rừng khiến tài nguyên nước bị suy kiệt.
- Do chưa kiểm soát được các nguồn thải và chưa quan tâm đầu tư thỏa đáng cho
các hệ thống thu gom, xử lý các chất thải lỏng, thải rắn.
Những năm qua và những năm sắp tới, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, làng

Ngoài ra, còn có các quy định trong Luật bảo vệ môi trường (2005) Luật đất đai
(1993) Luật khoáng sản (1996), Tiêu chuẩn Vệ sinh nước ăn uống(2002), Tiêu chuẩn
nước sạch(2005). Bên cạnh đó, còn có một số tiêu chuẩn ngành quy định đối với một số
chỉ tiêu chất lượng nước ăn uống bề mặt, nước thải …như tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng ,
Bộ Khoa Học và Công nghệ.
Bộ Tài nguyên và môi trường cho biết từ đầu năm 2007 đến nay, Bộ đã thẩm định
và cấp 23 giấy phép hoạt động tài nguyên nước; trong đó, thẩm định và cấp 18 đơn xin
cấp phép và gia hạn giấy phép về nước dưới đất, 3 giầy phép khai thác nước mặt và 2
giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.
Sau đây là một số những văn bản quan trọng quy định về kiểm soát ô nhiễm và
suy thoái tài nguyên nước của Bộ và các cơ quan liên quan:
STT Ký hiệu Tên văn bản Ngày ký
1 106/2007/BTC-
BTNMT
Sửa đổi bổ sung thông tư liên tịch số
125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ban hành
ngày 18/12/2003. Hướng dẫn thực hiện
nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày
13062003 về việc bảo vệ tài nguyên môi
trường đối với nước thải
06.09.2007
2 13/2007/QĐ-
BTNMT
Ban hành quy định về việc điều tra đánh
giá tài nguyên nước dưới dất
04.09.2007
3 14/2007/BTNMT Ban hành quy định về viẹc xử lý, trám lấp
giếng không sử dụng.
04.09.2007
4

hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
22.07.2005
11 02/2005/TT-
BTNMT
Hướng dẫn thực hiện nghị định số
149/2004/NĐ-CP ngày 27.07.2004 của
Chính phủ quy định việc cấp phép thăm
dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả
nước thải vào nguồn nước
24.06.2005
12 02/2004/CT-
BTNMT
Về việc tăng cường công tác quản lý tài
nguyên nước dưới đất
02.06.2004
13 57/2002/QĐ-
BKHCNMT
Về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt
động của cơ quan đầu mối Quốc gia, Ban
chỉ đạo, cơ quan điều phối Quốc gia và cơ
quan thực hiện hợp phần của dự án Quốc
gia thuộc dự án “Ngăn chặn xu hướng suy
thoái môi trường ở biển Đông va Vịnh
Thái Lan”
05.08.2002
14 17/2006/QĐ-
BTNMT
Quy định về việc cấp phép hành nghê
khoan nước dưới đát
12.10.2006

càng được bổ sung và hoàn thiện, đã phát huy vai trò tích cực trong việc huy động mọi
nguồn lực của toàn xã hội và bảo vệ tài nguyên nước. Vai trò tích cực của hệ thống pháp
luật về bảo vệ tài nguyên nước được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất: Hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước ra đời thể hiện sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc tạo lập một khung pháp lý khả thi nhằm quản lý
chặt chẽ các nguồn tài nguyên nước. Với việc ban hành Luật Tài nguyên nước đã từng
bước đưa công tác quản lý và sử dụng nước ở nước ta đi dần vảo nề nếp; nâng cao ý thức
của người dân trong việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nước đi đôi với bảo vệ chống gây ô
nhiễm, nhiễm bẩn và làm cạn kiệt nguồn nước.
- Thứ hai: Pháp luật vể bảo vệ tài nguyên nước ra đời cùng với các văn bản pháp
luật khác về bảo vệ đất, tài nguyên rừng; bảo vệ khoáng sản; bảo vệ nguồn lợi thủy sản
đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta trong điều
kiện kinh tế thị trường. Điều này khẳng định Đảng và Nhà nước ta không chỉ quan tâm
đến việc đầy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện và từng bước nâng cao mức sống
của người dân mà còn rất chú trọng việc khai thác hợp lý và bảo vệ bền vững các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cho con người quyền được sống trong môi trường trong
lành.
- Thứ ba: Pháp luật về bảo vệ Tài nguyên nước ở nước ta đã tiếp cận và “nội luật
hóa” quan điểm phát triển và quản lý tổng hợp tài nguyên nước của Hội nghị thượng
đỉnh Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển họp tại Rio Janeiro (Braxin) năm 1992:
“Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức nước là bộ phận nội tại của hệ
sinh thái, một nguồn tài nguyên thiên nhiên, và một loại hàng hóa kinh tế và xã hội, mà
số lượng và chất lượng quyết định bản chất của việc sử dụng. Vì mục đích này, tài
nguyên nước cần phải được bảo vệ, có tính đến chức năng của các hệ sinh thái nước và
tính tồn tại mãi mãi của tài nguyên, để có thể thỏa mãn và dung hòa các nhu cầu về nước
cho các hoạt động của con người”. Quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên nước ra đời
khi con người nhận thức được rằng nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn
trong khi nhu cầu khai thác, sử dụng nước cả về số lượng và chất lượng cho các mục
đích khác nhau của con người ngày càng tăng. Việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước
được thể hiện trong Luật Tài nguyên nước thông qua các quy định đề cập những lĩnh

hợp lý và bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên nước.
- Thứ sáu, nước ta đã xây dựng một chiến lược quốc gia dài hạn và một kế hoạch
hành động quốc gia về quản lý, bảo vệ tài nguyên nước nhằm phục vụ các yêu cầu phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước.
b) Nhược điểm
- Hiện nay tuy đã có rất nhiều văn bản pháp luật quy định về kiểm soát ô nhiễm
và suy thoái tài nguyên nước nhưng luật pháp và các quy định liên quan tới nguồn tài
nguyên nữa vẫn còn được soạn thảo một cách riêng rẽ. Hệ thống văn bản pháp luật về
tài nguyên nước chưa hoàn chỉnh. Luật tài nguyên chưa thực sự đi vào cuộc sống và
chưa phát huy được tác dụng điều chỉnh, chưa phù hợp với tình hình mới. Công tác quản
lý tài nguyên nước còn phân tán, chồng chéo, đan xen giữa quản lý và khai thác, sử
dụng. Bộ máy tổ chức chưa hoàn thiện, năng lực quản lý tài nguyên nước chưa đáp ứng
yêu cầu, thiếu các cơ quan chuyên môn hỗ trợ kỹ thuật. Việc phân công, phân cấp trong
quản lý nhà nước về tài nguyên nước vẫn còn chống chéo, trùng lặp trong khi có chỗ lại
bỏ trống. Sự phối hợp giữa các ngành, giữa Trung ương và địa phương, giữa các tỉnh
trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước chỉ chú trọng đến lợi ích của ngành mà mình là
chủ yếu, thiếu sự quan tâm đầy đủ đến lợi ích của ngành khác.
- Luật Tài nguyên nước được ban hành năm 1998 nên một số quy định của nó
không còn phù hợp với điều kiện hiện nay. Theo quy định của Luật Tài nguyên nước thì
“Bộ Nông nghiệp và pháp trển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo sự phân công của Chính phủ”
(khoản 2 Điều 58). Tuy nhiên, hiện nay chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước
được giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện theo quy định Nghị quyết số
02/2002/QH11 ngày 05/08/2002 của Quốc hội khóa XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP
ngày 11/11/2002 của Chính phủ. Vì vậy, cần sửa đổi bổ sung các quy định của Luật Tài
nguyên nước cho phù hợp với yêu cầu thực tế và tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ tài
nguyên và Môi trường thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về Tài nguyên nước
được giao.
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tài nguyên nước 1998 thì: “Tài nguyên
nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ

đủ để đầu tư cho xây dựng và vận hành cách trạm xử lý nước thải (33 trạm). Điều này sẽ
khiến nguồn nước ngày càng trở nên suy thoái. Tất cả các nước phát triển trên thế giới
đều phải thực hiện nguyên tắc PPP (Polluter Pay Principle) để đưa phí ô nhiễm nước lên
cao hơn mới có đủ nguồn kinh phí để xử lý nước thải.
- Nghị định về thủy lợi phí: Việc thực hiện ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ
khó khăn lớn do chủ trương mở rộng miễn giảm và bỏ thủy lợi phí. Trong tình hình nông
nghiệp Việt Nam hiện sử dụng trên 80% nhu cầu dùng nước của cả quốc gia và trước
thực trạng nhiều công trình thủy nông đang bị xuống cấp và chưa hoàn chỉnh, chưa
chuyển giao cho các tổ chức hợp tác xã trên diện rộng thì việc bỏ thủy lợi phí sẽ phải có
những điều chỉnh về chính sách và tổ chức quản lý để sao sử dụng tiết kiệm nguồn nước
tưới.
- Bên cạnh đó, cần phải kể đến những nhược điểm là: cơ cấu tổ chức của bộ máy
tài nguyên nước chưa được hoàn thiện, mạng lưới điều tra cơ bản về tài nguyên nước và
môi trường chưa được hoàn chỉnh, chưa thiết lập được đầy đủ cơ sở dữ liệu, tài liệu cơ
bản về tài nguyên nước, về sử dụng và ô nhiễm để phục vụ cho hoạt động lập pháp nhằm
quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên này.
- Hiện nay, chúng ta vẫn thực sự thiếu nhiều cán bộ để thực hiện nhiệm vụ quản
lý và chống suy thoái tài nguyên nước. Và việc quản lý chưa được gắn bó cũng gây ra
lãng phí cho ngân sách nhà nước.
- Chính sách về tài nguyên nước chưa đầy đủ trong khi quản lý tài nguyên nước là
nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi cần có sự phối kết hợp thực hiện hiệu quả giữa các
ngành, các cấp và toàn thể xã hội.
8
III . Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về việc kiểm soát ô nhiễm và suy thoái tài
nguyên nước tại Việt Nam
Qua nhiều năm thực hiện Luật Tài nguyên nước, công tác quản lý tài nguyên
nước đã dần đi vào cuộc sống, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển KT-XH, đời
sống dân sinh của đất nước. Tuy nhiên thực trạng quản lý tài nguyên nước ở các địa
phương còn rất nhiều vấn đề bất cập; đặc biệt trong công tác quản lý Nhà nước về tài
nguyên nước, bên cạnh đó là sự thiếu ý thưc của các cá nhân cũng như tổ chức có liên

chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn
nước).
- Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước
theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp
tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính,
thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước. Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường
9
nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là
1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về
môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít.
- Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất
lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu
dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)
- Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ
ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó
khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
Một số cơ quan quản lý ở các cấp, ngành vẫn chưa coi nước là một tài nguyên quan
trọng; quan niệm “Nước là của trời cho, vô hạn” nên dùng vô tư, không cần xin phép,
không cần tiết kiệm, không biết bảo vệ, phòng chống ô nhiễm, suy thoái, tàng kiệt
nguồn nước. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước ở địa
phương chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức, càng làm cho việc quản lý
tài nguyên nước kém hiệu quả.
Một thực tế hiện nay, cán bộ tài nguyên các xã, phường, thị trấn, Phòng tài
nguyên môi trường các huyện, thành, thị do ít người nhiều việc, phải trực tiếp giải quyết
công việc bức xúc và nhạy cảm hàng ngày, trong lĩnh vực quản lý đất đai nên công tác
quản lý về khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường chưa được quan tâm đúng mức.
Hầu hết các địa phương chưa thống kê đầy đủ các nguồn tài nguyên nước cả về số lượng
và chất lượng; chưa quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức, cá nhân khai thác sử
dụng nước cho các mục đích sản xuất nông, lâm, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du

Nga Sơn.
2. Về phía các tổ chức, cá nhân
a)Ưu điểm:
- Có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của người dân và cộng
đồng xã hội về nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Người dân đã quan tâm, chú ý đến việc bảo
vệ môi trường nước ở nơi sinh sống, trong việc tổ chức cuộc sống gia đình hằng ngày và
những hoạt động sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là những vùng dân
cư có đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số.
- Người dân đã tích cực, chủ động trong việc tham gia thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như xây dựng các quy ước, hương
ước của cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nước ; xây dựng ý thức trách
nhiệm, tự giác trong bảo vệ môi trường và sống thân thiện, hài hoà với môi trường; sử dụng tiết
kiệm ngườn nước và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước ở cộng đồng dân cư.
b)Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm đạt được còn có những hạn chế:
- Có hiện tượng các tổ chức cá nhân hành nghề khoan thăm dò nước, các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh xả nước thải vào nguồn nước. Vì vậy tình trạng khoan khai
thác nước tùy tiện, xả nước thải vào nguồn nước, môi trường bừa bãi đã gây nên hậu quả
sụt lún đất, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tầng chứa nước ngầm ngày càng gia tăng.
Các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng nước, hành nghề khoan nước, xả nước
thải vào nguồn nước trong quá trình hoạt động chưa thực hiện đầy đủ qui trình, qui phạm
nhằm khai thác hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ tài nguyên nước theo định hướng
phát triển bền vững; chưa thực hiện việc xin cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng
tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo qui định của Luật Tài nguyên nước.
- Qua kết quả thanh, kiểm tra công tác BVMT tại các địa phương trong thời gian
qua cho thấy, việc xây dựng các công trình xử lý và BVMT đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn
nên hầu hết các doanh nghiệp chưa muốn đầu tư xây dựng các công trình xử lý môi
trường; không chỉ do một số doanh nghiệp hoạt động từ thời bao cấp với công nghệ lạc
hậu, thiết bị cũ kỹ phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường mà phần lớn các
KCN hiện đại cũng không có hệ thống xử lý nước thải tập trung vì không đủ kinh phí để
xử lý; cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước còn khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu

nước, xử lý triệt để các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước.
- Phải thường xuyên quản lý chặt chẽ việc khoan thăm dò, khai thác sử dụng nước
dưới đất; tuyên truyền sâu rộng pháp luật về tài nguyên nước và bảo vệ nguồn nước
trong nhân dân; kiến nghị chính phủ sớm khắc phục sự chồng chéo về nhiệm vụ quản lý
tài nguyên nước; xem xét và ban hành nghị định của chính phủ về quản lý tổng hợp tài
nguyên nước và Bộ tài nguyên và môi trường đã trình.
- Bên cạnh đó cần chú ý trong khai thác, sử dụng cũng như quản lý nguồn nước
phải đạt được yêu cầu bền vững, có nghĩa là: tài nguyên nước cần phải được sử dụng
một cách hợp lý, không vượt qua khả năng của nguồn nước, để nước có thể hồi phục hay
tái tạo theo chu trình thủy văn vốn có của thủy văn. Điều đó đòi hỏi cần có những cơ
quan dự báo, quy hoạch và sự điều hành thống nhất. Tài nguyên nước phải được sử dụng
tiết kiệm và thực sự hiệu quả, phải được bảo vệ, kiểm soát cả về số lượng và chất lượng.
Trong việc quản lý sử dụng nước bằng pháp luật phải đảm bảo tính cộng đồng và
công bằng, phải có sự tham gia bình đẳng của tất cả các thành phần có liên quan trong sử
dụng nước và bảo vệ nguồn tài nguyên này. Điều đó đòi hỏi phải có một tổ chức khách
quan về điều hành, phân phối, cấp phép trong việc sử dụng nước (nước ngầm, nước mặt
trên sông suối, nước ở các hồ chứa ).
- Ngoài các giải pháp nêu trên, chúng ta cũng cần phải tiến hành tuyên truyền,
giáo dục pháp luật bằng các hình thức:
Trao đổi trực tiếp với các địa phương để phổ biến Luật Tài nguyên nước và xem
xét tình hình thực hiện. Lấy ý kiến của các địa phương về các nội dung cần quy định
trong các văn bản dưới luật.Xây dựng tổ chức thanh tra chuyên ngành để nâng cao vai
trò của công tácthanh tra pháp chế, xử lý vi phạm trong việc thực thi pháp luật về tài
nguyên nước.
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền về pháp luật quy
định đối với tài nguyên nước. Những biến động tự nhiên cùng với sự phát triển kinh tế -
xã hội ngày càng phát triển đang tạo ra những thay đổi lớn về tài nguyên nước về chất và
lượng. Nhận thức được những thay đổi hiện tại cũng như dự đoán thay đổi trong tương
lai là hết sức cần thiết để phối hợp giữa các ngành, các cấp trong sử dụng tổng hợp và
bảo vệ tài nguyên nước một cách hợp lý và bền vững.

6. nea.gov.vn
7. Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
13
MỤC LỤC
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status