B CễNG THNG
TRNG I HC CễNG NGHIP TP. HCM
KHOA : QUN TR KINH DOANH
BO CO TT NGHIP
Đề TàI
Thc trng v gii phỏp nõng cao hiu qu marketing cho sn phm
ti cụng ty dt may xut khu thnh cụng ti Thỏi Bỡnh
CHUYấN NGNH: QUN TR KINH DOANH - 231207
Giảng viên hớng dẫn : Th.S Trn Phi Hong
Sinh viên thực hiện : Nguyn Tun Anh
Lớp : DHQT2ATCTB
Mã số sinh viên : 06753454
Khóa : 2007 - 2011
Thái Bình, tháng 05 năm 2011
LI CAM OAN
i
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong báo cáo tốt nghiệp này là trung thực và chưa từng được ai công bố trên
bất cứ công trình nào khác.
Thái Bình, ngày 16 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Tuấn Anh
ii
LỜI CẢM ƠN
Bốn năm - một thời gian không phải là dài mà cũng không quá ngắn đối với
một đời người. Gần bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học công nghiệp
TP.Hồ Chí Minh, tôi đã được các thầy, cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong
khoa Kinh tế giảng dạy và truyền đạt cho những kiến thức quan trọng và bổ ích không
chỉ về chuyên môn mà còn về cả nhân cách làm người.
Vì vậy, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học
Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh. Đặc biệt là các thầy cô trong khoa quản trị kinh doanh,Thái Bình, tháng 5 năm 2011
Người nhận xét
iv
NHẬN XÉT
(Của giảng viên hướng dẫn)
Thái Bình, tháng 05 năm 2011
Giảng viên hướng dẫn
NHẬN XÉT
Cùng với tiến trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, marketing ngày càng
được quan tâm và trở thành vũ khí quan trọng góp phần vào sự thành công của doanh
nghiệp. Công cụ này đã giúp doanh nghiệp nhận biết được nhu cầu thực sự của thị
trường về chủng loại, chất lượng, số lượng, mẫu mã, kiểu dáng và những tính năng
khác của sản phẩm mà mình doanh nghiệp kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp đề ra được
những chiến lược nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường.
Các chính sách của marketing nhằm giúp doanh nghiệp có được những nhận
định chính xác, đưa ra được các biện pháp, chính sách marketing phù hợp và hiệu quả,
điều này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đã chú trọng đến các hoạt động
marketing, song không phải doanh nghiệp nào cũng biết vận dụng và khai thác hết hiệu
quả mà marketing có thể đem lại. Công ty dệt may xuất khẩu Thành Công cũng nằm
trong số những doanh nghiệp như vậy. Từ khi đi vào hoạt động công ty đã không ngừng
tiến hành các hoạt động marketing - mix, tuy nhiên các hoạt động này chưa thật hoàn
thiện, còn nhiều hạn chế, nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới doanh số tiêu thụ và lợi nhuận
của công ty.
Để hoàn thiện hơn công tác marketing - mix cho công ty là vấn đề thiết thực,
nhằm giúp cho công ty kinh doanh có hiệu quả, duy trì và phát triển được doanh số
trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
2. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về marketing và marketing - mix,
đồng thời phân tích, đánh giá hoạt động marketing tại công ty. Do đó đối tượng của đề
tài là hoạt động marketing ở công ty dệt may xuất khẩu Thành Công.
Nhiệm vụ của đề tài là qua việc phân tích, đánh giá thực trạng marketing của
Công ty dệt may xuất khẩu Thành Công để đề xuất những giải pháp nhằm giúp công ty
hoàn thiện hơn công tác marketing
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phân tích hoạt động marketing của Công ty dệt
may xuất khẩu Thành Công từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các chính sách
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
Khái niệm marketing của Hiệp hội marketing Mỹ (AMA): “Marketing là thực
hiện các hoạt động kinh doanh nhằm hướng vào dòng chuyển vận hàng hóa và dịch vụ
từ người sản xuất tới người tiêu dùng hoặc người sử dụng”.
Theo Ray Corey: “Marketing bao gồm mọi hoạt động mà công ty sử dụng để
thích nghi với môi trường của mình một cách sáng tạo và có lời”.
Định nghĩa tổng quát của Philip Kotler cho rằng: “Marketing là một dạng hoạt
động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi”
1.1.2. Khái niệm quản trị Marketing
1.1.2.1. Khái niệm
Là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, phân phối,
khuyến mãi hàng hóa, dịch vụ hoặc ý tưởng để tạo ra sự trao đổi giữa các nhóm mục
tiêu, thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng hoặc tổ chức.
1.1.2.2. Vai trò của quản trị marketing
Thúc đẩy tiến trình phát triển và đổi mới sản phẩm.
Đóng vai trò trung tâm trong việc dịch chuyển thông tin khách hàng thành
các sản phẩm và dịch vụ mới.
Định vị sản phẩm trên thị trường.
Marketing có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất
kinh doanh, là cơ sở để lập kế hoạch kinh doanh và chỉ đạo hoạt động của doanh
nghiệp.
1.1.3. Khái niệm khách hàng
Là mục tiêu của mọi doanh nghiệp. Khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ của
doanh nghiệp là một phần của môi trường bên ngoài. Doanh số là một yếu tố tối quan
trọng đối với sự sống còn của một doanh nghiệp. Do vậy các nhà quản trị phải đảm
bảo được rằng nhân viên của mình sẽ sản xuất ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu
của khách hàng. Nhà quản trị phải làm cho nhân viên của mình hiểu là không có khách
hàng thì không cò doanh nghiệp và họ sẽ không có cơ hội làm việc nữa. Họ phải hiểu
rằng doanh thu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến tiền lương của họ. Nhiệm vụ của
quản trị nhân sự là làm cho các nhân viên hiểu được điều này.
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
hay ước muốn của khách hàng chứ không phải bán những đặc tính vật chất của sản
phẩm.
1.1.6. Khái niệm thị trường
Thị trường là tập hợp những người mua hiện thực hay tiềm năng đối với một
sản phẩm. Quy mô của thị trường phụ thuộc vào cá nhân có nhu cầu và có những sản
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
4
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
phẩm được người khác quan tâm đến và sẵn lòng đem đổi những sản phẩm này để lấy
cái mà họ mong muốn.
Một thị trường có thể hình thành xung quanh một sản phẩm, một dịch vụ hoặc
bất kỳ cái gì có giá trị khác. Không nên quan niệm hạn hẹp thị trường như là một địa
điểm diễn ra các quan hệ trao đổi. Trong các xã hội phát triển, thị trường không nhất
thiết phải là những địa điểm cụ thể. Một nhà kinh doanh có thể quảng cáo một sản
phẩm trên chương trình tivi vào giờ tối, nhận đặt hàng của hàng trăm khách qua điện
thoại, và gửi hàng hoá qua đường bưu điện cho khách hàng trong những ngày sau đó,
mà không cần có bất kỳ cuộc tiếp xúc nào với người mua.
1.2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Môi trường bên ngoài
1.2.1.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường kinh tế.
Các yếu tố kinh tế chi phối hoạt động của công ty như là chính sách kinh tế, tài
chính, tiền tệ, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, lực lượng lao động,…Ngoài ra, công ty
còn phải chú ý đến việc phân bố lợi tức trong xã hội. Xét tổng quát thì có bốn yếu tố
thuộc lĩnh vực kinh tế mà công ty cần xử lý là: tỷ lệ phát triển kinh tế, lãi suất, hối suất,
tỷ lệ lạm phát.
Môi trường chính trị và pháp luật.
Bao gồm các chính sách, quy chế, định chế luật, chế độ đãi ngộ, thủ tục và quy
định của Nhà nước. Luật pháp cùng các cơ quan Nhà nước có vai trò điều tiết các hoạt
1.2.1.2. Môi trường vi mô
Đối thủ cạnh tranh.
Ta đã biết cơ cấu cạnh tranh là sự phân bổ số lượng và tầm cỡ các công ty cạnh
tranh nhau trong cùng một ngành kinh doanh. Cơ cấu cạnh tranh khác nhau sẽ tạo ra
động lực cạnh tranh khác nhau. Ngành phân tán manh mún tức là có nhiều công ty vừa
và nhỏ hoạt riêng biệt không có sự thống nhất, các công ty dễ phát sinh cạnh tranh về
giá cả dẫn đến nhiều nguy cơ hơn là cơ hội. Ngành hợp nhất là ngành có sự tương trợ
giữa các công ty vì thế cơ cấu cạnh tranh cũng hết sức phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp
đến ngành.
Tình hình thị trường.
Là yếu tố chi phối mức độ cạnh tranh giữa các công ty. Nhu cầu thị trường tăng
làm giảm áp lực cạnh tranh là cơ sở hàng đầu mở rộng thị phần của công ty và ngược
lại khi nhu cầu thị trường giảm sút là nguy cơ để công ty tìm cách chống chọi, bảo vệ
thị phần của mình.
Khách hàng.
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
6
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
Là nhân tố then chốt hết sức quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại
của công ty. Sự đòi hỏi của khách hàng luôn là thách thức cũng như nó sẽ mở ra những
cơ hội mới cho công ty.
Nhà cung cấp.
Đối với các công ty sản xuất thương mại thì đây là nhân tố khá quan trọng gắn
liền với các quyết định lựa chọn nhà cung ứng hàng hoá cho công ty. Việc lựa chọn
nhà cung cấp tốt là một thành công đáng kể trong suốt quá trình kinh doanh của công
ty.
1.2.2. Môi trường bên trong
Chiến lược marketing.
Nhân tố marketing ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh nhất là
trên quan điểm chiến lược. Nó giúp công ty hướng đạo và phối hợp các hoạt động kinh
Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin không
chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên cơ
sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến
hoạt động marketing sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân vật lực.
Nghiên cứu định tính
Tìm hiểu động cơ, những yếu tố thúc đẩy
Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Bằng cách nào? Tại sao?
Dựa trên số lượng nhỏ
Nghiên cứu định lượng
Đo lường
Phân khúc và so sánh
Dựa trên số lượng lớn và nội dung phỏng vấn được sắp xếp có chủ ý
1.3.2. Chiến lược sản phẩm
- Sản phẩm là tất cả những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của
khách hàng và có khả năng đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự
chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.
- Bao bì sản phẩm: Gồm tất cả các hoạt động liên quan đến thiết kế và sản xuất
bao gói cho sản phẩm.
Chức năng của bao bì gồm:
- Bảo vệ sản phẩm;
- Cung cấp thông tin cho khách hàng (thành phần, địa điểm sản xuất, hạn sử
dụng, );
- Kích thích tiêu thụ thông qua kiểu dáng, màu sắc.
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
8
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
Nhãn hiệu sản phẩm: Gồm thuật ngữ tên gọi, chữ viết, biểu tượng, hình ảnh hay
là sự phối hợp giữa chữ và hình ảnh được ghi hoặc gắn tên sản phẩm của cá nhân hoặc
doanh nghiệp để phân biệt nó với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Quyết định về chất lượng của hàng hóa: Một trong những công cụ chủ yếu để
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
Hai là: Bổ sung mặt hàng cho chủng loại sản phẩm. Cách làm này có nghĩa là
theo bề rộng mà doanh nghiệp đã lựa chọn, doanh nghiệp cố gắng đưa thêm những mặt
hàng mới trong khuôn khổ đó. Việc bổ sung sản phẩm xuất phát từ các mục đích sau:
- Mong muốn có thêm lợi nhuận;
- Để lấp chỗ trống trong chủng loại hiện có;
- Tận dụng năng lực sản xuất, dịch vụ dư thừa;
- Mưu toan trở thành doanh nghiệp chủ chốt với chủng loại đầy đủ.
Về danh mục sản phẩm: Là tập hợp tất cả các chủng loại hàng hóa và các đơn vị
hàng hóa do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua. Danh mục hàng hóa
được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ hài hòa của nó.
1.3.3. Chiến lược giá cả
Giá cả là một trong những đặc trưng cơ bản của hàng hóa mà người tiêu dùng
nhận thấy một cách trực tiếp nhất. Nó có đặc trưng:
- Về mặt kinh tế: Cần bao nhiêu tiền để có được hàng hóa đó;
- Về mặt tâm lý xã hội: Thể hiện những giá trị thu được khi tiêu dùng hàng hóa;
- Thể hiện chất lượng giả định của hàng hóa.
Giá cả là yếu tố duy nhất trong marketing - mix tạo ra doanh thu cho doanh
nghiệp. Giá cả có thể là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng của sản phẩm.
* Mục tiêu của chính sách giá trong hoạt động marketing: Đảm bảo không
phải đóng cửa sản xuất; tối đa hóa doanh thu; tối đa hóa lợi nhuận; những mục tiêu
khác,
* Các kiểu chiến lược giá:
- Xác định giá cho sản phẩm mới: Đây là chiến lược giá được soạn thảo gắn với
giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm.
- Chiến lược giá áp dụng cho danh mục hàng hóa: Trên thực tế nhiều công ty sẽ
thu lợi nhuận cao hơn nếu họ theo quan điểm hình thành giá cả: xem sản phẩm chỉ là
một bộ phận của danh mục sản phẩm. Trong trường hợp này công ty phải xây dựng
một bộ giá bán đảm bảo được lợi nhuận tối đa trên toàn bộ danh mục sản phẩm chứ
không phải cho từng sản phẩm riêng rẽ.
hỗ trợ các hoạt động xúc tiến bán hàng.
- Thay đổi giá: Trong nhiều trường hợp do những biến đổi của môi trường kinh
doanh, công ty buộc phải thay đổi chiến lược định giá của mình, nghĩa là chủ động
thay đổi mức giá cơ bản hoặc đối phó lại với việc thay đổi giá của đối thủ cạnh tranh.
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
11
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
1.3.4. Chiến lược phân phối
Phân phối là toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm từ nơi sản xuất đến tận
tay người tiêu dùng có nhu cầu, đảm bảo về số lượng, chất lượng, thời gian, chủng
loại, kiểu dáng, màu sắc, mà người tiêu dùng yêu cầu.
1.3.4.1. Vai trò của phân phối hàng hóa
- Chính sách phân phối có ảnh hưởng đến chính sách sản phẩm, chính sách giá
cả, quảng cáo và xúc tiến bán hàng. Chu trình sản xuất - phân phối có liên quan chặt
chẽ với nhau. Phân phối làm cho cung cầu ăn khớp với nhau, vì sản xuất thường tập
trung ở một vài địa điểm, song người tiêu dùng lại phân tán khắp nơi, họ có yêu cầu
khác nhau, phân phối đưa hàng hóa tới nơi người tiêu dùng cần.
- Phân phối làm tăng giá trị hàng hóa vì:
+ Hàng hóa trong phân phối chịu các thay đổi về vật chất và địa lý;
+ Hàng hóa trong phân phối chịu những thay đổi về không gian và thời gian;
+ Hàng hóa trong phân phối chịu những thay đổi về tâm lý và thương mại.
1.3.4.2. Các quyết định phân phối
- Xử lý đơn đặt hàng
- Kho, bãi dự trữ
- Khối lượng hàng dự trữ
- Vận chuyển
1.3.4.3. Các phương thức phân phối
- Phân phối rộng rãi
- Phân phối duy nhất
- Phân phối chọn lọc
Đại lý
Ng.bán buôn
Ng.bán lẻ
Ng.tiêu dùng
Ng. Sản xuất
Ng.bán buôn
Ng.bán lẻ
Ng.tiêu dùng
Ng. Sản xuất
Ng.bán lẻ
Ng.tiêu dùng
Ng. Sản xuất
Ng.tiêu dùng
Hình 1.1: Hệ thống kênh phân phối và dịch vụ.
1 2 3 4
13
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
trung gian. Các mục tiêu được xác định phụ thuộc vào mục tiêu của marketing - mix
và mục tiêu chiến lược tổng thể của các công ty.
- Đặc điểm người tiêu thụ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc thiết kế
kênh. Khách hàng càng ở phân tán về địa lý thì kênh càng dài. Nếu khách hàng mua
hàng thường xuyên từng lượng nhỏ thì cũng cần kênh dài.
- Một yếu tố khác chi phối đến việc thiết kế kênh đó là đặc điểm của sản phẩm.
Những sản phẩm dễ hư hỏng cần kênh trực tiếp. Những sản phẩm cồng kềnh, khối
lượng lớn đòi hỏi các kênh ngắn để giảm tối đa quãng đường và chi phí vận chuyển.
Những hàng hóa không tiêu chuẩn hóa cần được bán trực tiếp, các sản phẩm có giá trị
đơn vị cao thường do đội ngũ nhân viên của công ty bán chứ không qua trung gian.
- Ngoài ra khi thiết kế kênh phân phối phải tính đến đặc điểm của trung gian
như: có những loại trung gian nào trên thị trường. Khả năng mạnh yếu của các trung
gian trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ.
cáo và các hoạt động truyền thông khác. Phân phối ngân sách quảng cáo cho các loại
sản phẩm, các thị trường cần hoạt động quảng cáo.
Quyết định nội dung truyền đạt: Các nhà quảng cáo dùng nhiều giải pháp để
hình thành những ý tưởng diễn tả mục tiêu quảng cáo. Nhìn chung nội dung quảng cáo
thường được đánh giá dựa trên tính hấp dẫn, tính độc đáo và mức độ tin cậy
Quyết định phương tiện quảng cáo: Căn cứ vào mục tiêu quảng cáo, đối
tượng quảng cáo và đối tượng khách hàng mà chọn phương tiện truyền tin quảng cáo.
Có thể chọn phương tiện truyền tin đại chúng hoặc phương tiện truyền tin chuyên biệt,
phương tiện quảng cáo chính và phương tiện quảng cáo bổ sung,
1.3.5.2. Marketing trực tiếp
Công cụ này dùng để thông tin một cách trực tiếp cho khách hàng hoặc yêu cầu
họ có phản ứng lại tại bất kỳ một địa điểm nào. Những công cụ chủ yếu của marketing
trực tiếp là: Marketing bằng Catalog, Marketing bằng thư trực tiếp, marketing qua điện
thoại, thương mại điện tử.
1.3.5.3. Bán hàng trực tiếp
Là hình thức thuyết trình sản phẩm do nhân viên của doanh nghiệp thực hiện
trước khách hàng, có thể là mặt đối mặt hoặc qua điện thoại. Địa điểm thuyết trình có
thể tại nhà riêng, tại công sở hoặc những nơi tập trung những người mua triển vọng.
1.3.5.4. Quan hệ công chúng
Bao gồm nhiều hình thức truyền thông nhằm tạo nên thái độ thân thiện đối với
doanh nghiệp và những sản phẩm của doanh nghiệp mà thường không nói rõ một
thông điệp bán hàng cụ thể nào. Khán giả mục tiêu có thể là khách hàng, cổ đông, cơ
quan nhà nước hay các nhóm dân cư có mối quan tâm riêng. Các hình thức có thể là
bản tin, báo cáo hàng năm, vận động hành lang và tài trợ cho các sự kiện từ thiện hoặc
thể thao văn hóa.
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
15
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
Quan hệ công chúng có ba phẩm chất khác biệt sau:
- Độ tín nhiệm cao: Nội dung và tính chất của thông tin có vẻ xác thực và đáng
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
2.1.1. Sơ lược về công ty
Tên công ty: Công ty dệt may xuất khẩu Thành Công
Trụ sở chính: Tổ 16 – Phường Bồ Xuyên – Tp Thái Bình – tỉnh Thái Bình
Ngành nghề kinh doanh : Sản xuất các loại khăn mặt và phụ liệu ngành may,
xuất khẩu các loại bông sợi, nguyên liệu dệt.
Điện thoại: 0363733612
Fax : 0363738999
Email : [email protected]
Công ty dệt may xuất khẩu Thành Công được thành lập vào ngày 18 tháng 10
năm 2001 và chính thức đi vào hoạt động ngày 16 tháng 02 năm 2002. Trong những
năm qua công ty dệt may xuất khẩu Thành Công đã luôn đầu tư và phát triển dây
chuyền sản xuất đồng bộ và các trang thiết bị chuyên dùng hiện đại. Khi mới thành lập
công ty chỉ có 60 lao động xưởng sản xuất nhỏ và thiếu vốn về trang thiết bị kỹ thuật
sản xuất nhưng đến nay với sự quan tâm giúp đỡ của UBND tỉnh Thái Bình cũng như
sự cố gắng của cán bộ công nhân viên công ty thì công ty đã có 862 công nhân và 5
phân xưởng sản xuất với dây chuyền sản xuất công nghiệp hiện đại được nhập từ Nhật
Bản, CHLB Đức. Năng lực sản xuất mỗi năm khoảng hơn 4 triệu sản phẩm các loại.
Với sự cố gắng không ngừng công ty dệt may xuất khẩu Thành Công đã nhận được
những tình cảm, sự tín nhiệm của khách hàng tiêu dùng trong nước và quốc tế.
Đối với Thành Công, chất lượng sản phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của
ban lãnh đạo công ty và công nhân lao động. Sản phẩm của công ty tuy không nhiều
song chất lượng và uy tín của nó được rất nhiều người biết đến và được đánh giá cao
như: khăn mặt, khăn bông, khăn tay, sợi dệt…
Đối với thị trường trong nước, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của công ty được
thiết lập trên toàn quốc nhưng nhiều nhất vẫn là các tỉnh Miền Bắc và hàng xuất khẩu
GVHD: Trần Phi Hoàng Lớp: DHQT2ATCTB
17
Báo cáo thực tập SVTH: Nguyễn Tuấn Anh
sang Canada, Nhật Bản. Theo báo cáo của phòng kế toán thì doanh thu hàng năm của