tiểu luận kinh tế phát triển so sánh nghiên cứu về đất nước hungary - Pdf 20

**** TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ****
KHOA KẾ HOẠCH & PHÁT TRIỂN
______&&&_____
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN SO SÁNH Đề tài: Nghiên cứu về đất nước Hungary
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Thị Nhiệm
Nhóm: 2
Lớp: KTPT-K47A-QN
MỤC LỤC
I/ Đặc trưng
1/ Giới thiệu chung 8
1.1/ Thể chế chính trị 8
1.2/ Các lãnh đạo chủ chốt hiện nay 9

4.2.4/ Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung 28
4.2.5/ Các ngành kinh doanh văn hóa, sự phát triển các trương trình và các
quan hệ đối tác 29
4.2.6/ Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hóa 29
4.2.7/ Công nghệ mới và chính sách văn hóa 31
4.2.8/ Giáo dục nghệ thuật 32
4.3.9/ Vấn đề di sản 32
5/ Quy định pháp luật trong lĩnh vức văn hóa 32
5.1/ Phân chia thẩm quyền 32
5.2/ Phân bổ nguồn tài chính nhà nước 32
5.3/ An sinh xã hội 32
5.4/ Luật thuế 33
5.5/ Luật lao động 33
6/ Luật văn hóa 34
IV/ Chính phủ và xã hội
1/ Tổng quan 34
2/ Khung hiến pháp 34
3/ Chính quyền địa phương 35
4/ công lý 35
5/ Quy trình chính trị 36
6/ Sự ổn định 36
7/ Sức khỏe và phúc lợi 37
8/ Nhà cửa 38
9/ Giáo dục và những xem xét chung 39
10/ Giáo dục và giáo dục bậc cac hơn 40
V/ Kinh tế Hungary qua các giai đoạn phát triển
1/ Tổng quan về kinh tế Hungary 41
2/ Kinh tế nông nghiệp 43
3/ Kinh tế với thế mạnh tài nguyên 44
4/ Kinh tế và sản xuất 44

XHXH: Xã hội chủ nghĩa
BT: Công ty hợp danh hữu hạn (beteti tarsasag)
MAK: Quỹ sáng tạo nghệ thuật
GDP: Tổng sản phẩm trong nước
NEM: Cơ chế kinh tế mới
Comecon: Hội đồng tương trợ kinh tế (1949 - 1991)
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
EU: Hội liên hiệp các nước Châu Âu
NATO: Tổ chức hiệp ước Bắc đại Tây dương
MSZP: Đảng xã hội Hungary
FIDESZ: Đảng liên minh Dân chủ trẻ (1998 - 2002)
Đảng liên minh công dân (2003)
SZDSZ: Đảng liên minh Dân chủ tự do

TÓM TẮT NỘI DUNG BÀI

1/ Giới thiệu chung
Hungary (phát âm: Hung-ga-ri, Hán-Việt: Hung Gia Lợi, tiếng Hungary:
Magyarország), tên chính thức là Cộng hòa Hungary.
Cộng Hòa Hungary (Maguyar Koztarsasag) là một quốc gia thuộc khu vực Trung
Âu phía Tây sông Danube, có diện tích 93,030km2, tọa lạc trên vùng đồng bằng phì
nhiêu chiếm tới 3/4 diện tích đất đai, phần còn lại là đồi núi, không giáp biển, các nước
láng giềng cùng biên giới là Cộng Hòa Áo phía Tây, Slovakia và Ucraina phía Bắc,
Romania phía Đông, Serbia - Montenegro, Crotia và Slovenia phía Nam. Như để bù lại
cho sự thiếu vắng màu xanh của đại dương, đất nước này có rất nhiều sông sâu và hồ
rộng. Trong số 1200 hồ rộng và nổi tiếng là hồ Balaton – lớn nhất Trung Âu. Con sông
Danube dài thứ hai ở Châu Âu tựa dải nơ xanh chảy qua chia thủ đô Budapest làm hai
phần. Quốc gia này còn giầu có về số lượng suối nước nóng với nhiều dược chất. Trữ
lượng nước nóng của Hungary đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Iceland. Dân số trên
10.032.375 (tháng 7/2004), trong đó 90% là người Hungary, số còn lại là người Croatia,
Đức, Zigan, Romania, Serbia, Slovakia, Slovenia, (2/3 sống ở thành thị), thủ đô Budapest
chỉ có khỏang trên 1,7 triệu người.
Tôn giáo: Số người theo đạo Thiên chúa La mã chiếm 67,8%, 21% theo đạo Tin
lành, còn lại: Phúc âm 6,2%, Do thái 5,9%, Cơ đốc Hy lạp 2,2%, Chính thống giáo 0,6%.
Tín ngưỡng: Đạo Cơ đốc, Can vin.
Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Hungary (93,6%).
Cơ cấu hành chính: Đất nước chia thành 19 hạt, 21 tỉnh thành phố và thủ đô
Budapest.
1.1/ Thể chế chính trị
Thể chế Cộng hoà, đứng đầu là Tổng thống. Chế độ dân chủ đại nghị, đa đảng.
Tổng thống do Quốc hội bầu, nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội 1 viện gồm 386 ghế, hình thành
từ danh sách bầu cử của các đảng lọt vào Quốc hội (đạt 5% số phiếu bầu trở lên) và các
đại biểu thắng cử trực tiếp tại các khu vực bầu cử. Nhiệm kỳ Quốc hội 4 năm. Thủ tướng
do Tổng thống đề cử và Quốc hội bỏ phiếu bầu từ Đảng hoặc Liên minh giành được đa số
trong Quốc hội. Các thành viên Chính phủ do Thủ tướng đề cử và Tổng thống ra quyết
định bổ nhiệm.

Địa hình: địa hình bằng phẳng, có một vài dãy đồi và núi thấp ở vùng biên giới
giáp Slovakia.
Tài nguyên thiên nhiên: bôxít, than, khí gas tự nhiên, đất đai màu mỡ, đất canh
tác.
Tài nguyên đất: đất có thể canh tác: 50,09%, đất canh tác thường xuyên: 2,06%,
khác: 47,85% (2001).
2.2/ Vị trí địa lý
Hungary có vị trí chiến lược, nằm trên tuyến chính giữa Đông Âu và bán đảo
Balkan, cũng như giữa Ukraine và lòng chảo Địa Trung Hải.
Hai con sông sông Danube và Tisza chạy theo hướng Bắc Nam chia Hungary
thành 3 vùng chính. Hungary có đường biên giới chung dài tổng cộng 2.216,8 km với các
nước Ukraine (103km), Slovenia (102km), Áo (366 km), Croatia (329 km), Romania
(443 km), Serbia (151 km), Slovakia (677 km).
Từ rất xa xưa cho đến ngày nay, Hungary luôn là chiếc cầu nối giữa Ðông và Tây
Âu. Người Hungary đến châu Âu và lập nghiệp ở vùng lòng chảo Các-pát từ năm 896, họ
luôn gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập châu Âu. Tuy diện tích có
hơn 93 nghìn km2, chiếm 1% lãnh thổ châu Âu, nhưng Hungary có tới 520 nghìn ha đất
dành cho các khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có mười công viên quốc gia. Hungary có
nhiều sông ngòi và hồ lớn. Và dường như dưới mặt đất của Hungary là cả một biển nước
trị bệnh. Nguồn nước nóng, nước khoáng của Hungary chữa được các bệnh tê thấp, rối
loạn vận động, các căn bệnh ngoài da, các chứng rối loạn tiêu hóa, v.v. Là nước chịu ảnh
hưởng của cả hai nền văn hóa Ðông và Tây, trải qua hơn một nghìn năm lịch sử, những
kiến trúc thời La Mã, các dinh thự lộng lẫy, các nhà thờ thời trung cổ, vương cung, thánh
đường tráng lệ cùng các tòa lâu đài cổ kính của Hungary vẫn trường tồn cùng thời gian,
cuốn hút du khách nước ngoài đến chiêm ngưỡng và khám phá.
Thủ đô Budapest là một trong số những thành phố có vị trí độc đáo và đẹp nhất
châu Âu. Con sông Danube trong xanh chảy qua trung tâm thành phố lịch sử này và chia
thành phố thành hai phần hoàn toàn tương phản nhau. Phía bờ trái là thành phố Bu-đa
được xây dựng trên một ngọn đồi với nhiều tòa lâu đài tuyệt đẹp. Trong khi đó thành phố
Pest nằm phía bờ phải được xây dựng trên một bình nguyên gồm những tòa nhà cổ kính

như là Pannonia. Sau khi Đế chế La mã phía tây sụp đổ dưới áp lực di dân của các bộ lạc
Germanic và Carpia, Giai đoạn di dân tiếp tục đem lại nhiều kẻ xâm lược châu Âu. Một
trong những người đầu tiên đến vùng này là người Hun, những người đã xây dựng nên
một đế quốc hùng mạnh dưới thời Attila. Bây giờ người ta tin rằng nguồn gốc của cái tên
"Hungary" không phải đến từ những kẻ xâm lược thuộc dân du mục từ Trung Á gọi là
người Hung, mà nó xuất phát sau này, từ một liên minh với người Bulgar vào thế kỉ thứ 7
gọi là On - Ogour, mà trong tiếng Thỗ Nhĩ Kì cổ nghĩa là "Mười Mũi Tên"
Sau khi sự cai trị của người Hung mờ nhạt dần, người Ostrogoth và sau đó là
người Lombard đã dần cai quản vùng Pannonia, và người Gepid cai quản phần đông của
Carpathian Basin trong khoảng 100 năm, trong suốt giai đoạn này những bộ lạc Slavic
bắt đầu nhập cư vào khu vực này. Vào những năm 560, những người Slav bị khuất phục
bởi người Avar, những tộc người này đã cai trị vùng đất hơn hai thế kỷ. Người Frank
dưới quyền của Charlemagne từ phía tây và những người Bulgar từ phía đông nam đã
đánh đổ được sự thống trị của người Avar vào đầu thế kỉ thứ 9. Tuy nhiên, người Frank
sớm rút đi, và vương quốc Slavonic của Great M oravia và Balaton Principality đã tiếp tục
cai quản phần còn lại của Pannonia cho đến hết thế kỉ. Những người Magyar đã di cư vào
Hungary vào cuối thế kỉ thứ 9.
1/ Hungary thời trung cổ
Truyền thống Magyar cho rằng đất nước của người Magyar (Magyarország) được
thành lập bởi Árpád, người đã dẫn dắt người Magyar vào vùng đồng bằng Pannonian vào
khoảng năm 896 AD, và - theo như truyền thuyết- là một người họ hàng xa với Attila.
Cái tên "Mười Mũi Tên" được nói trên kia được dùng để chỉ mười bộ lạc, liên minh đã
làm thành phần nòng cốt của quân đội xâm lược người Magyar.
Vương quốc Hungary được thành lập vào năm 1000 bởi Vua Stephen I của
Hungary. Tên thật là Vajk, Stephen là một hậu duệ trực tiếp của Árpád, và được rửa tội từ
lúc còn nhỏ tuổi. Ông kết hôn với Giselle xứ Bavaria, con gái của Henry II, Duke xứ
Bavaria vào năm 996, và sau cái chết của cha ông là Hoàng tử Géza vào năm 997, ông trở
thành người cai trị và là vua theo Thiên chúa giáo đầu tiên của Hungary.
St. Stephen I nhận vương miện và thập tự kép từ Giáo hoàng Silvester II vào năm
1000. Vì là một vị vua Thiên chúa giáo, ông thiết lập Nhà thờ Hungary với mười giáo

người Ottoman ông chỉ hoãn lại trận đánh cuối cùng với Đế quốc Ottoman vừa được gia
cố.
2/ Sự chiếm đóng của Ottoman giai đoạn 1526 - 1686
Hai thế kỉ theo sau đó là những cuộc chiến triền miên chống lại Đế quốc Ottoman
lần này là bên trong đất của người Hungary. Quân Ottoman đã giành được một chiến
thắng quyết định đối với quân đội Hungary tại trận đánh Mohács vào năm 1526. Những
thập kỉ tiếp theo là những hỗn loạn chính trị triền miên, giới quý tộc Hungary phân chia
thành nhiều phe đã bầu lên hai vị vua cùng một lúc, Ferdinand Habsburg (1526 - 1540)
và János Szapolyai (1526 - 1540), hai vua xây dựng hai quân đội riêng đánh lại lẫn nhau
và làm đất nước thêm suy yếu đi. Sau sự chinh phục của Buda bởi quân Ottoman vào
năm 1541, Vương quốc Hungary đã bị chia làm 3 phần: một phần ba Hungary rơi vào
dưới sự cai trị của Ottoman; một phần ba (ở phía Tây) vẫn dưới quyền cai trị của
Habsburg và một phần ba còn lại, ở phía đông (nguyên ban đầu ủng hộ János Szapolyai),
vẫn độc lập (Bang Transylvania) và sau này trở thành một nước lớn bán độc lập chư hầu
của Đế quốc Ottoman. Chỉ cho đến hơn 150 năm sau, vào cuối thế kỉ 17, Áo và các nước
Thiên chúa giáo liên minh đã lấy lại được lãnh thổ của Vương quốc này từ Đế quốc
Ottoman.
3/ Nhà Habsburg và Đế quốc Áo-Hungary 1686 - 1918
Sau cuộc rút quân cuối cùng của người Ottoman, đấu tranh bắt đầu xảy ra giữa
quốc gia Hungary và các vua Habsburg về sự bảo vệ quyền lợi của giai cấp quý tộc (do
đó bảo vệ chủ quyền của Hungary). Cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa tuyệt đối kiểu Áo
đã đưa đến một cuộc nổi loạn không thành cho chủ nghĩa tự do giữa 1703 và 1711, lãnh
đạo bởi một nhà quý tộc người Transylvania, Ferenc II Rákóczi. Cuộc cách mạng và
chiến tranh năm 1848–1849 đã xóa bỏ serfdom và đem lại quyền dân sự. Người Áo cuối
cùng thì cũng thắng được, nhưng chỉ với sự giúp đỡ của người Nga.
Nhờ vào những chiến thắng chống lại Áo bởi liên quân Pháp - Ý (Trận đánh
Solferino, 1859) và Phổ (Trận đánh Königgrätz, 1866), Hungary đã cuối cùng, vào năm
1867, theo lý thuyết trở thành một nửa bình đẳng của Đế chế Áo-Hung. Sau khi đạt được
điều này, nhà nước Hungary đã cố gắng thống nhất vương quốc về mặt dân tộc bằng
chính sách Magyar hoá người các quốc tịch khác. Sự thất bại trong thế chiến thứ nhất đã

9 năm 1919 đã diễn ra lễ kí kết Hòa ước Saint Germain giữa Áo và các nước thắng trận
phe Hiệp ước trong đó Áo mất đi gần 3/4 lãnh thổ về tay Nam Tư, Ý, Romania, Tiệp
Khắc và Ba Lan, bồi thường chiến phí và một điều khoản quan trọng là không được sáp
nhập vào Đức. Ngày 4 tháng 6 năm 1920 đã diễn ra lễ kí kết Hòa ước Trianon giữa
Hungary và các nước thắng trận phe Hiệp ước trong đó Hungary cũng mất đi gần 3/4 lãnh
thổ về tay Tiệp Khắc, Nam Tư, Romania và phải bồi thường 2.200.000 franc vàng.
3.2/ Những ảnh hưởng kinh tế, địa-chính trị
Thế chiến thứ nhất để lại rất nhiều hậu quả trước mắt và lâu dài. Cuộc chiến làm
hơn hai mươi triệu người chết và hàng chục triệu người khác bị tàn phế, các thành phố
làng mạc của các bên lâm chiến bị phá huỷ. Ngoài sức mạnh tàn phá nhân mạng, kinh tế,
vật chất, nó còn gây hãi hùng lâu dài về tâm lý cho cả châu Âu gây ra một thế hệ bị mất
mát của châu Âu. Chính cuộc chiến này làm cho châu Âu tụt hậu và mất đi vai trò lãnh
đạo văn minh nhân loại mà nó đã đảm đương trong hơn 300 năm qua và dần dần vai trò
đó chuyển sang bên kia đại dương cho Bắc Mỹ.
Chiến tranh gây ra sự thay đổi rất lớn trong bản đồ chính trị châu Âu. Bốn đế
quốc Nga, Đức, Áo - Hung, Ottoman với các triều đình quân chủ hàng trăm năm bị sụp
đổ trong đó hai cường quốc Áo - Hung và Ottoman bị phân rã và mất hẳn vai trò cường
quốc. Hai đế quốc Đức, Nga bị cắt xén lãnh thổ và bị kiềm chế với tình cảm dân tộc nước
lớn bị tổn thương sâu sắc và đó là đất đai rất tốt cho tư tưởng phục thù để dẫn đến một thế
chiến mới. Rất nhiều các nước nhỏ xuất hiện từ sự phân rã của các đế quốc và từ sự phân
chia mang tính chủ quan, quan liêu của các cường quốc thắng trận dẫn đến các mâu thuẫn
lộn xộn gây mất ổn định thế giới sau này.
4/ Nội chiến 1918-1941
Vào tháng 3 năm 1919, quân Cộng sản nắm lấy chính quyền ở Hungary. Vào
tháng 4, Béla Kun tuyên bố thành lập Cộng hòa Xô viết Hungary. Nhưng nhà nước của
Kun, cũng như chính thể tiền nhiệm, không tồn tại được lâu. Điều này vẫn xảy ra mặc
cho một số chiến thắng quân sự ban đầu chống lại quân độ Tiệp Khắc.
Vào ngày 13 tháng 6 năm 1919, Hội nghị Hòa bình Versailles đã ra lệnh cho
Hungary phải di tản các lãnh thổ phía bắc và Romania to phải rời khỏi Tiszántúl.
Hungary đã tuân thủ mệnh lệnh đó tính cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1919. Nhưng quân

sau khi quân đoàn Hungary thứ 2 chịu thất bại nặng nề tại sông Don, nhà nước Hungary
tìm cách thương lượng đầu hàng quân Đồng Minh. Vào ngày 19 tháng 3 năm 1944, để
đối phó với sự trở mặt này, quân Đức lặng lẽ chiếm Hungary trong chiến dịch
Margarethe. Nhưng, đến bây giờ thì người ta biết rõ là người Hungary không muốn làm
vệ tinh cho Đức. Vào ngày 15 tháng 10 1944, Horthy đã cố gắng yếu ớt để đưa đất nước
ra khỏi cuộc chiến. Lúc này quân Đức mở chiến dịch Panzerfaust và Horthy được thay
thế bởi một nhà nước bù nhìn dưới quyền thủ tướng thân Đức Ferenc Szálasi. Szálasi và
Đảng Mũi tên Chữ thập thân phát xít của ông ta trung thành với quân Đức cho đến hết
cuộc chiến. Vào cuối năm 1944, quân Hungary ở Mặt trận phía Đông lại chiến thắng một
lần nữa ở trận đánh Debrecen. Nhưng ngay lập tức sau đó là sự xâm lăng Hungary của
quân đội Xô viết và trận đánh Budapest. Trong khi quân Đức chiếm đóng vào tháng 5 - 6
năm 1944, Đảng Mũi tên Chữ thập và cảnh sát Hungary đã trục xuất gần 440,000 dân Do
Thái, đa số là đến trại tập trung Auschwitz. Cuộc chiến đã làm Hungary thiệt hại nặng nề
và tổn thất 60% nền kinh tế làm tổn thất nhiều nhân mạng. Vào 13 tháng 2 năm 1945,
thành phố thủ đô Hungary đầu hàng không điều kiện. Vào 8 tháng 5 năm 1945, thế chiến
thứ hai ở châu Âu chính thức chấm dứt.
6/ Thời đại Xô viết 1945-1989
Sau khi phát xít Đức thất bại, quân đội Xô viết đã chiếm đóng hầu hết đất nước và
qua ảnh hưởng của họ Hungary dần dần trở thành một nước cộng sản thân cận với Liên
Xô. Sau năm 1948, lãnh đạo cộng sản Mátyás Rákosi đã thiết lập chế độ theo kiểu Stalin
với bắt buộc hợp tác xã hóa và kinh tế kế hoạch. Sự cầm quyền của nhà nước Rákosi đã
vượt quá sức chịu đựng của người dân Hungary sau chiến tranh. Điều này đã dẫn tới cách
mạng Hungary 1956 và Hungary tạm thời rút lui khỏi khối Hiệp ước Warszawa. Liên Xô
đã trả đũa mạnh mẽ với biện pháp vũ trang, gửi trên 150,000 quân và 2,500 xe tăng. Gần
1/4 triệu người đã bỏ chạy khỏi đất nước trong khoảng thời gian ngắn khi các biên giới để
ngỏ vào năm 1956. Từ những năm thập niên 1960 đến cuối những năm thập niên 1980,
Hungary thường được gọi một cách mỉa mai là "trại lính vui vẻ nhất" bên trong khối
Đông Âu. Điều này xảy ra dưới thời cầm quyền độc đoán của nhà lãnh đạo mà vai trò còn
nhiều tranh cãi, János Kádár. Người lính Xô viết cuối cùng rời đất nước Hungary vào
năm 1991 và kết thúc sự hiện diện của quân đội Liên Xô ở Hungary.

phát triển kinh tế chung.
Chính quyền Antall của năm 90 – 94 đã bắt đầu thị trường sửa đổi với giá và các
phương pháp tự do thương mại, một hệ thống thuế chắp vá, và một thị trường non nớt
dựa trên hệ thống ngân hàng.
7/ Cộng hòa Hungary 1989-đến nay
Trong cuối thập kỉ 1980, Hungary đã dẫn đầu phong trào giải tán Hiệp ước
Warszawa và chuyển sang một thể chế dân chủ nhiều ứng cử viên. Điều này nghĩa là mặc
dù có nhiều ứng cử viên, đảng cộng sản, MSZMP, vẫn không được đem ra bàn cãi. Tuy
nhiên, các ứng cử viên độc lập được bầu lên để phản đối lại đảng. Vào thời điểm đó, áp
lực cải cách tăng dần từ bên trong đảng. Họ cũng di chuyển về phía một nền kinh tế thị
trường. Vào 23 tháng 10 năm 1989, Mátyás Szűrös tuyên bố Cộng hòa Hungary thứ III
và trở thành tổng thống lâm thời. Bầu cử tự do ở Hungary diễn ra lần đầu tiên vào năm
1990. Theo sau sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991, Hungary phát triển một mối quan
hệ gần hơn với Tây Âu cũng như các nước Trung Âu. Nước này trở thành một thành viên
của nhóm Visegrad vào năm 1991, gia nhập NATO năm 1999, và trở thành một nước
thành viên của Liên minh châu Âu vào 1 tháng 5 năm 2004.
Cuối năm 1989, Hungary thay đổi thể chế chính trị. Ngày 23/10/1989, Quốc hội
Hungary thông qua Hiến pháp mới và tuyên bố thành lập Cộng hòa Hungary theo chế độ
dân chủ đại nghị, nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường tự do. Trải qua 5 cuộc bầu cử
Quốc hội đa đảng (tháng 3/1990, 5/1994, 5/1998, 4/2002, 4/2006), các chính phủ liên
hiệp cánh hữu và cánh tả thay phiên nhau cầm quyền. Tại cuộc bầu cử 4/2006, lần đầu
tiên kể từ năm 1990 đến nay, Liên minh trung tả tiếp tục nhận được sự ủng hộ của cử tri
để lập Chính phủ điều hành đất nước nhiệm kỳ 2006 – 2010.
Tuy Hungary có chủ quyền theo Hiến pháp và có một biểu thuế quan tự do từ
năm 1867 nhưng đất nước này vẫn bị đế chế Áo chi phối về kinh tế và chính trị. Thật khó
mà có sự thay đổi trong giai đọan này, cũng như trong suốt thời kỳ chiến tranh về kinh tế
chính trị dân tộc, việc ban hành chính sách tối ưu hội nhập tự do thương mại (chủ yếu
nhờ thị trường thuộc địa rộng lớn) và sự bảo hộ thị trường (dựa trên lập luận kinh doanh
từ trong trứng nước) đóng một vai trò thiết yếu.
Vào khoảng năm 1994, tuy nhiên, cái giá phải trả của sự chi tiêu quá khả năng

19 đã cho thấy một sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc này, trong đó văn hoá đóng một vai
trò rất quan trọng. Phần lớn các thiết chế văn hoá của Hungary hiện nay đều được hình
thành từ thế kỉ 19.
Đặc thù của Hungary cũng kế thừa từ cấu trúc xã hội Đông Âu giai đoạn này.
Tầng lớp thượng lưu trong xã hội với những tiêu chuẩn văn hoá cao có thể so sánh với
các nước phát triển nhất, trong khi đó đa số dân chúng vẫn ở trong tình trạng lạc hậu.
Đến giữa thế kỉ 20, trong khi tầng lớp trung lưu đã hình thành nên cơ sở cho sự phát triển
dân chủ, kinh tế và xã hội ở Đông Âu, thì hơn một nửa thành phần xã hội ở Hungary vẫn
là nông dân. So với Tây Âu, tầng lớp lao động và giới trí thức vẫn còn có vai trò khiêm
tốn, giai cấp tư sản còn yếu kém. Tại thời điểm đó, là một nước Trung Âu, Hungary đã
xây dựng một thể chế theo hướng phương Tây, đối lập với vùng Balkan và Đông Âu.
1.2/ Sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, chính sách văn hoá đóng một vai trò chiến lược
nhằm giúp đất nước vượt qua những khó khăn, hungary lúc đó mới tách ra từ nhà nước
Áo - Hung. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, chính sách văn hoá tập trung vào việc tái
thiết chính trị và xây dựng cơ sở vật chất. Vào thời điểm đó, các tư tưởng của giai cấp tư
sản, phe bảo thủ, chủ nghĩa dân tộc dần bị triệt tiêu. Vào cuối những năm 1940, thành
phần cấp tiến đã bị loại trừ khỏi chính sách văn hoá kiểu Bolshevik. trước cách mạng
1956 chính sách văn hoá mô phỏng một cách máy móc các mô hình chính sách của Liên
Xô.
1.3/ Giai đoạn 1918-1980
Sau làn sóng cách mạng, đến đầu những năm 1960 chủ nghĩa giáo điều về văn
hoá đã bắt đầu mờ nhạt dần. Đến năm 1989, tương tự như trong các lĩnh vực khác của
đời sống, chính sách văn hoá được xem xét thay đổi và đã diễn ra sự chuyển đổi dần dần
của toàn bộ khối Cộng sản. Do hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng yếu đi, các nguồn
lực công ngày càng suy yếu và cùng với việc kiểm soát về chính trị ngày càng ít đi, nhà
nước đã cắt giảm việc tài trợ cho văn hoá. Vào cuối những năm 1980, quá trình thương
mại hoá văn hoá bắt đầu diễn ra, và quỹ hội Soros của Hungary đóng vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ tài chính.
1.4/ Thời kỳ xã hội chủ nghĩa

tổ chức như bảo tàng, thư viện, cơ quan lưu trữ, đôi khi các thành phố cùng quản lí một
tổ chức). Bên cạnh chính quyền trung ương, cấp quản lí thực sự đáng kể khác là 3167
chính quyền địa phương.
Việc gia nhập EU buộc Hungary phải hoàn thành việc phân chia vùng (có thể là 7
vùng) và trao cho các vùng quyền quản lí thực tế, bao gồm thẩm quyền đối với các chính
sách văn hoá của vùng. Và việc gia nhập EU cũng thúc đẩy việc hình thành nên 167 tiểu
vùng: chúng không phải là những đối tác đầy đủ của chính phủ trung ương, tuy nhiên lại
có nhiều cơ hội nhận được hỗ trợ từ các quỹ của EU, trong đó có xin hỗ trợ cho mục đích
văn hoá.
Nghị viện Hungary theo chế độ một viện, và đây là cơ quan lập pháp. Bên cạnh
vai trò chuẩn bị luật, Uỷ ban Văn hoá và Báo chí và Uỷ ban Giáo dục và Khoa học cũng
có chức năng giám sát bằng cách đưa các vấn đề văn hoá vào chương trình hoạt động của
mình. Tuy nhiên, nhìn chung Nghị viện và các Uỷ ban thuộc Nghị viện có thẩm quyền
hạn chế, trong hầu hết mọi trường hợp các cơ quan này một mặt phản ánh ý chí của
Chính phủ, và mặt khác là ý chí của các đảng đối lập.
2.2/ Hợp tác giữa các bộ ngành và giữa các cấp chính quyền
Hợp tác giữa các bộ được quy định bắt buộc theo nghị định của chính phủ.
Không có một cơ quan chính thức nào có nhiệm vụ thúc đẩy sự hợp tác đó. Ngoại lệ duy
nhất là Văn phòng phát triển quốc gia, là cơ quan điều phối việc đóng góp của các bộ
liên quan đến Kế hoạch phát triển Quốc gia.
2.3/ Hợp tác quốc tế về văn hoá
Hiện tại Hungary có 22 viện văn hoá hoạt động trên toàn thế giới. Các viện này
đều thuộc quản lí của Bộ Di sản Văn hoá. Cơ quan mới được thành lập gần đây nhất là
Trung tâm Văn hoá Hungary ở Brussels, thành lập tháng 12/ 2004. Các viện văn hoá có
trách nhiệm quảng bá văn hoá Hungary ở nước ngoài thông qua các triển lãm, các thuyết
trình, buổi hoà nhạc, v.v Chính phủ cũng hỗ trợ việc tham gia vào các sự kiện văn hoá
lớn. Gần đây, việc quảng bá văn hoá được nhấn mạnh vào các sự kiện như:
- “MAGYart”, Năm văn hoá Hungary ở Pháp, 2001.
- “Ungherua in primo piano” ở Italy 2002.
- “Magyar” ở Anh, năm 2003-2004.

Trích đoạn công lý Kinh tế Hungary qua các giai đoạn phát triển Đối ngoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status