TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN: VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
ö õ
TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Nhóm 2a:
Hoàng Lan Phương - 1001020123
Đào Thị Hồng Nhung - 0951010701
Nguyễn Kim Cúc - 1001070011
Vũ Thúy Ngân - 0951010697
Lớp: KTE406.4
Hà Nội, 11/2012
LỜI MỞ ĐẦU
Trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế thì vốn là một yếu tố quan trọng.
Đối với Việt Nam để đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định cần phải có một lượng vốn
rất lớn. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, thu nhập bình quân
đầu người chưa cao thì việc tích lũy được một nguồn vốn khổng lồ là việc không khả
thi do đó việc huy động vốn đầu tư nước ngoài để bổ sung cho tổng vốn đầu tư phát
triển có ý nghĩa chiến lược. FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư xã
hội, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, là một cách tăng cường năng lực sản xuất
và chuyển giao công nghệ, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá), tạo nguồn thu cho ngân sách và là một giải pháp tạo
việc làm cho người lao động đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Chính vì vai trò to lớn của vốn đầu tư nước ngoài, nhóm chúng em chọn đề tài “Vai
trò của FDI đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu những lý
luận chung về FDI, vai trò đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, thực trạng, thách
thức từ đó đề xuất những giải pháp thách thức đó. Nội dung bài tiểu luận gồm có bốn
phần:
Phần I. Cơ sở lý luận về FDI
Phần II. Vai trò của FDI đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

niệm trên lại và có thể hiểu “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn
đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ
vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật
này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Kết luận:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và
phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế
(được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh
nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi
là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài)
- FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kế đối với việc quản
lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác.Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi
kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI
2. Đặc điểm của FDI
- FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định
hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát
hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ
lệ này.
4
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải
lợi tức.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về lỗ lãi.
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Kết luận:
- Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyền kiểm soát, quyền

- Bổ sung vốn
- Chuyển giao công nghệ
- Tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
- Góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế
- Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới
Tác động tiêu cực
- Giảm sút các công ty địa phương
- Độc quyền nếu không có một hệ thống chính sách cạnh tranh hiệu quả
6
- Mặt trái của “công nghệ trọn gói”
- Lối sống, các vấn đề xã hội
7
PHẦN II. VAI TRÒ, ẢNH HƯỞNG CỦA FDI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Khu vực kinh tế có vốn FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất.
1. Về mặt kinh tế
• Vai trò của FDI tới đầu tư xã hội và tăng trưởng kinh tế
Đối với các nền kinh tế đang phát triển, đầu tư nội địa vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng đầu tư xã hội. Tuy nhiên, vốn FDI vẫn giữ vai trò quan trọng trong thúc đầy và
duy trì tăng trưởng kinh tế. Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới từ năm 1986 với
xuất phát điểm rất thấp, FDI được xem là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư
trong nước, đáp ứng nhu cho đầu tư phát triển kinh tế. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm
tỷ trọng lớn trong đầu tư xã hội những năm 1988-1996 (31% tổng vốn đầu tư năm
1994), do kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Dưới tác động cuả kinh tế thế giới và chính sách trong nước, tỷ trọng vốn FDI trong
tổng đầu tư xã hội giai đoạn 1998-2004. Sự thay đổi trong chính sách đầu tư đã thu hút
vốn đầu FDI tăng từ năm 2005.

2,7 tỷ USD, tăng 43,5%.
Sự tăng lên nhanh chóng này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của vốn FDI tới
xuất khẩu. Tuy FDI có tỷ trọng xuất khẩu cao song giá trị xuất khẩu ròng của khu vực
có vốn FDI không cao do các dự án FDI trong công nghiệp vẫn chủ yếu sử dụng các
dây chuyền lắp ráp có quy mô nhỏ và sử dụng nguồn đầu vào từ nhập khẩu là chính.
• Vai trò của FDI với nguồn thu ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩ mô
Vốn FDI có vai trò quan trọng trong nguồn thu của ngân sách Nhà nước. Thu ngân
sách từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng qua các năm . Với
những chính sách đầu tư của Nhà nước, các doanh nghiệp FDI được hưởng chính sách
khuyến khích của Chính phủ thông qua giảm thuế thu nhập trong những năm đầu hoạt
9
động. Cùng với đó, FDI đã góp phần quan trọng trong tăng thặng dư tài khoản vốn,
nhìn chung, góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Bên cạnh đó, FDI không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho
phát triển kinh tế -xã hội mà kèm theo đó là việc nâng cao năng lực kỹ thuật, trình độ
công nghệ, cải tiến phương thức quản lý, bí quyết kinh doanh và cải thiện năng lực
maketing. Các doanh nghiệp FDI cũng đã và đang thể hiện vai trò tạo động lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa.
2. Về mặt xã hội
Nguồn vốn FDI có vai trò không thể phủ nhận đối với tạo công ăn việc làm, cải thiện
nguồn nhân lực, nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống cho một bộ phận không
nhỏ dân cư
Kết quả Báo cáo do UNIDO tiến hành trên cơ sở hợp tác với Cục Đầu tư nước ngoài
(FIA), Bộ Kế hoạch đầu tư (MPI), Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI)
và Tổng Cục thống kê (GSO) vào tháng 3/2012 một lần nữa khẳng định quan điểm đã
được thừa nhận đó là FDI có tác động tích cực đến tạo công ăn việc làm cho lao động
Việt Nam. Đa số cơ hội việc làm trong các doanh nghiệp ngành chế biến có vốn đầu tư
nước ngoài thu hút lao động tham gia sản xuất trực tiếp mà đáng kể là lao động nữ,
đáng chú ý như trong ngành dệt may. Báo cáo cũng chỉ ra FDI xuất hiện chủ yếu trong
các ngành tập trung vốn và sử dụng lao động có trình độ kỹ thuật công nghệ cao. Số

tác với các nước và các tổ chức quốc tế, bảo vệ chủ quyền biên giới lãnh thổ, biển và
hải đảo, khuyến khích, động viên đồng bào ta ở nước ngoài gắn bó với quê hương.
• Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường thế giới
Vai trò này của FDI thể hiện rõ nhất ở các nước áp dụng chính sách thu hút FDI hướng
vào xuất khẩu. Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết
bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất
khẩu. Bên cạnh đó, thông qua các mối quan hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài,
hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI được tiếp cận với thị trường thế giới.
11
• Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập
vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng vận động tất yếu của
các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá, khu
vực hoá và quốc tế hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động của mạnh
mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Đối với các nước đang và kém phát triển
nói chung cũng như Việt Nam nói riêng thì quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc
tế là con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên
thế giới, có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân
công lao động quốc tế. Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt động kinh tế
hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập kinh tế với thế giới có tác động
chi phối mạnh mẽ tới sự thành công của công cuộc đổi mới, đến kết quả của sự nghiệp
CNH-HĐH cũng như tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Đầu tư nước ngoài cũng như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đặc biệt là hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã trở thành một động lực quan trọng thức đẩy
quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của tất cả các quốc gia nói
chung và Việt Nam nói riêng, là nhân tố cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng tác động
tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế
Hoạt động FDI góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các mối quan hệ kinh tế
đối ngoại của các nước đang phát triển. Nền kinh tế trong nước dầndần tham gia sâu

Nguồn: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=392&idmid=3&ItemID=13100
14
Trong 20 năm đầu sau đổi mới, FDI vào Việt Nam chủ yếu cho các ngành tận dụng lao
động giá rẻ, công nghiệp khai khoáng,… là các ngành có giá trị gia tăng thấp. Mặc dù
có những hạn chế nhất định nhưng FDI cũng đã đóng góp một phần lớn vào công cuộc
đổi mới của Việt Nam. Trước tiên, FDI đóng góp phần vốn lớn cho tăng trưởng kinh tế
Việt Nam. Số liệu thống kê bảng 1 cho thấy FDI tăng qua các năm đặc biệt là sau năm
2006 với mức tăng mạnh đột biến do là năm 2006 thì Việt Nam chính thức trở thành
thành viên WTO. Vốn là một trong các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế do đó
lượng FDI tăng cũng thúc đẩy cho tăng trưởng kinh tế.
Không chỉ vậy FDI còn giúp cho Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ thông qua
việc khi các công ti nước ngoài đầu tư vào họ sẽ đào tạo nhân công, trình độ quản lí,
và đặc biệt là chuyển giao công nghệ sản xuất vì vậy mà Việt Nam có được những
người thợ có tay nghề cao hơn, nắm bắt được những tiến bộ công nghệ của thế giới.
FDI cũng tạo them công ăn việc làm cho Việt Nam, giúp giảm bớt tình trạng thất
nghiệp, sử dụng tốt có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao. Xu hướng ban đầu
FDI vào Việt Nam để tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ, gia tăng vòng đời sản phẩm,…
mục đích chủ yếu là xuất khẩu sang các nước phát triển. Do đó FDI cũng góp phần
thúc đẩy xuất khẩu từ đó làm tăng thặng dư thương mại, giúp giảm thâm hụt thương
mại. Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách quốc gia
với số thuế lớn
Tỷ trọng FDI về số lượng DN và đóng góp thuế thu nhập (nguồn Vietnam Report)
Tuy nhiên FDI vào Việt Nam lúc này chỉ là vào các ngành tạo rta ít giá trị chủ yếu là
gia công, lắp ráp mà chưa phải là những ngành có công nghệ cao. Thậm chí các ngành
15
gia công như may mặc thì lại có nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên phần giá trị do
công nhân Việt Nam tạo ra rất ít trong sản phẩm, hay như ngành lắp ráp thì nguyên
liệu chủ yếu nhập khẩu, công nhân Việt Nam chủ yếu lắp ráp nên chỉ là lao động giản
đơn, tạo ít giá trị. Cùng với dó là các dự án FDI gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
như công ti VEDAN gây hậu quả nặng nề đến ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững

công ty có doanh thu hàng năm trên 1 tỷ USD đang lên kế hoạch hoặc cân nhắc việc
dời sản xuất về Hoa Kỳ. Tỷ lệ này đối với các công ty có doanh thu thường niên từ 10
tỷ USD trở lên là 48%. Gần hai phần ba số doanh nghiệp đã trả lời rằng: làm ăn tại
Trung Quốc tốn kém hơn kế hoạch trên giấy rất nhiều”
Nếu biết tranh thủ cơ hội bằng hệ thống giải pháp thích hợp với từng đối tác trên đây
thì sẽ thu hút thêm FDI có chất lượng cao hơn để góp phần sớm khôi phục tỷ lệ tăng
trưởng GDP hàng năm đã đạt được 7,5 - 8% theo hướng bền vững.
Mặt khác, nước ta đang đối mặt với những vấn đề nổi cộm về môi trường đầu tư, trong
đó có nguyên nhân từ tình trang suy thoái kinh tế, nhưng nguyên nhân chủ yếu là chậm
trễ, kéo dài trong việc khắc phục những yếu kém về quản lý kinh tế vĩ mô đã được
phát hiện từ nhiều năm. Thủ tục cấp phép cho hoạt động FDI còn rất nhiều bất cập, có
những hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư đã nộp 6 tháng trước vẫn chưa có kết
quả. Quy trình này quá dài và gây nhiều trở ngại cho doanh nghiệp và cần cải thiện
nhanh chóng để giúp nhà đầu tư yên lòng rót vốn. Ngoài ra, tình trạng thiếu điện, giá
điện tăng, thủ tục hành chính rườm rà, khó khăn trong việc đào tạo và giữ chân lao
động cũng được coi là thử thách không nhỏ của doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư
vào Việt Nam.
Những ý kiến đa chiều của đại diện các tổ chức quốc tế, nhà đầu tư có thể chưa phản
ánh đầy đủ những tiến bộ trong điều hành kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính
mà Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện.
2. Thách thức
17
Tăng trưởng kinh tế sẽ liên quan chặt chẽ đến đầu tư nội địa, đặc biệt vào các lĩnh vực
sàn xuất giá trị lớn.
Việt Nam trong quá trình chạy đua toàn cầu để thu hút vốn đầu tư. Sự cạnh tranh là rất
lớn. Các quốc gia được các nhà đầu tư xếp hạng phụ thuộc vào các yếu tố như sự ổn
định kinh tế và chính trị, hiệu lực của luật pháp, mức thuế, sự khuyến khích của chính
phủ đối với nhà đầu tư, sự bãi bỏ các quy định hạn chế quyền sở hữu của các nhà đầu
tư nước ngoài trong những lĩnh vực kinh doanh chính, vấn đề bảo vệ sở hữu trí
tuệ Trong khi đó, nhiều yếu tố trong số này của Việt Nam được đánh giá cao.

hướng dẫn các doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự
án (hầu hết các địa phương đều phản ánh vấn đề này). Đặc biệt là các công ty luật, đa
số hoạt động kém hiệu quả và chi phí lớn đã làm giảm lòng tin đối với nhà đầu tư, hay
như kỷ cương trong lĩnh vực ngân hàng còn yếu kém.
Về công tác quy hoạch: Công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế khắc phục còn
chậm. Công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu
và chưa đồng bộ bởi các địa phương có quan tâm nhưng chưa triệt để đặc biệt trong
bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp giấy phép và đầu tư về các địa phương, dẫn đến
tình trạng mất cân đối chung. Một số địa phương cấp quá nhiều giấy phép cho các dự
án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng dư thừa, lãng phí, hiệu quả
đầu tư thấp và gây ra số lượng tương đối lớn các doanh nghiệp phải giải thể, giảm quy
mô hay thậm chí là ngừng hoạt động.
Về nguồn nhân lực: Như đã nói ở trên, chủ trương của chính phủ Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay là hướng tới việc thu hút nguồn vốn FDI có chất lượng và hiệu quả.
Hiện tại, chúng ta có hơn 13.500 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn
đăng ký là 200 tỷ USD. Tuy nhiên trong bức tranh chung đó, theo một số chuyên gia
kinh tế, việc thu hút, sử dụng và quản lý vốn FDI thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn
chế. Đó là việc chưa tận dụng được hiệu quả nguồn vốn này, việc thu hút các dự án
thuộc lĩnh vực công nghệ cao còn hạn chế, chuyển giao công nghệ còn chậm, thậm chí
một số địa phương đã lạm dụng các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài mà không
tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội. Nguyên nhân trong đó phải kể đến là do chất lượng
nguồn nhân lực của Việt Nam. Nó đã từng là yếu tố được xem là lợi thế thu hút các dự
19
án đầu tư vì lao động giá rẻ.Tuy vậy, nay đã không còn giữ được sức hấp dẫn như
trước vì nguồn nhân lực của Việt Nam tuy rất dồi dào nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo
chưa cao, lao động có trình độ quản lý và tay nghề cao còn rất thiếu. Tính đến nay
chúng ta chỉ mới có khoảng 32% lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật nhưng
chất lượng nguồn nhân lực cũng chưa cao, chưa đồng đều và sử dụng chưa hiệu quả,
trong khi đó con số này của các nền kinh tế công nghiệp mới là 60 - 70%. Ngoài ra lao
động Việt Nam có thể lực yếu, tác phong công ngiệp và trình độ ngoại ngữ kém.

chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về môi trường. Nguyên nhân là do ý thức của
doanh nghiệp thứ cấp, kể cả doanh nghiệp là chủ đầu tư hạ tầng nhiều khi chưa cao,
vẫn đặt lợi ích kinh tế lên trên trách nhiệm bảo vệ môi trường; công tác phối hợp kiểm
tra, giám sát bảo vệ môi trường của các cơ quan Nhà nước chưa thật chặt chẽ. Mặc dù
số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các
Ban Quản lý các Khu công nghiệp, tại khu vực xung quanh Khu công nghiệp ở một số
địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép. Nguyên nhân là
do việc vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa tuân thủ theo quy định trong khi công
tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý còn hạn chế, chưa có chế tài
xử phạt có tính răn đe.
Ngoài ra, dịch vụ hành chính, hệ thống thuế, hải quan cũng còn nhiều bất cập và
chưa đồng bộ. Các dự án FDI chậm được triển khai hoặc giải ngân không đúng tiến độ
do các vướng mắc trong vấn đề đất đai, đền bù và giải phóng mặt bằng. Có thể thấy
nếu các điều kiện không sớm được cải thiện, các hạn chế không được giải quyết thì
chắc chắn nguồn vốn FDI đã cấp và sắp được cấp phép sẽ chỉ tăng trên giấy, khó mà
biến thành hiện thực được. Để chuyển việc thu hút và thực hiện FDI từ lượng sang
chất cần phải thực hiện nhiều giải pháp mang tính thực tế và hiệu quả.
21
PHẦN IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG HUY ĐỘNG FDI Ở VIỆT NAM
1. Về luật pháp, chính sách :
- Sửa đổi các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn
thiếu và loại bỏ các điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư không phù hợp với cam kết của
Việt Nam với WTO.
- Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình
phúc lợi.
- Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân, giảm khoảng cách giữa vốn đăng ký và
vốn thực hiện.
- Không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu; tác động xấu đến môi trường;
thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân
nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất.

4. Về cải thiện cơ sở hạ tầng
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ
tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Nâng cao chất
lượng xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng xây dựng một cách đồng bộ hệ thống hạ
tầng kỹ thuật với các tiện nghi, tiện ích công cộng phục vụ cho KCN; gắn kết cấu hạ
tầng trong hàng rào với ngoài hàng rào KCN. Đẩy nhanh tiến độ các dự án động lực đã
thu hút được và cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu trong các KKT để tạo tiền đề cho việc
hình thành khu vực phát triển công nghiệp nòng cốt trong các KKT và thu hút các nhà
đầu tư khác.
23
-Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, ưu tiên các lĩnh
vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường; hệ thống đường bộ cao tốc; nâng cao chất
lượng dịch vụ đường sắt.
- Tăng cường giám sát, thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường gắn
với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm. Nâng cao năng lực quản lý và
kỹ thuật về môi trường cho các cơ quan liên quan để tạo điều kiện cho các cơ quan
quản lý có đầy đủ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường
- Giải quyết tốt việc cung cấp điện. khuyến khích sản xuất và sử dụng điện từ và các
loại năng lượng mới.
- Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế
ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng.
- Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ
cảng biển
- Tập trung thu hút vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính-viễn thông
và công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ mới và phát triển hạ tầng mạng. Tập
trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ tiên tiến, hiện
đại, thân thiện với môi trường, các ngành nghề xác định là mũi nhọn phát triển và có
lợi thế của Việt Nam và phù hợp với chương trình tái cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư của
đất nước.
5. Về nguồn nhân lực :

cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các
dự án đầu tư nước ngoài.
8. Về xúc tiến đầu tư
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status