Khảo sát tình hình nhiễm listeria monocytogenes trong rau xà lách - Pdf 20

1
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đồ án, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
tận tình của thầy cô và bạn bè. Nhân đây em xin chân thành cảm ơn:
- Quý Thầy Cô Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy chúng em trong
những năm học đại học.
- Đặc biệt TS Nguyễn Minh Trí và Th.S Nguyễn Thị Thanh Hải đã hướng
dẫn em hết sức tận tình và chu đáo. Quý thầy cô trong bộ môn Hóa – Vi sinh đã
tạo điều kiện giúp đỡ em về tinh thần cũng như vật chất trong khi làm đề tài. Các
bạn trong khoa chế biến đã giúp đỡ, hỗ trợ mình trong quá trình làm.
- Gia đình đã động viên, ủng hộ, khích lệ con trong thời gian qua.
Nha Trang, tháng 6, năm 2011
Sinh Viên
Nguyễn Thị Thảo My
2 MỤC LỤC

3.2.2. Các loại hóa chất và dụng cụ thí nghiệm 32
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.3.1. Bố trí thí nghiệm 33
3.3.2. Quy Trình Thực hiện 34
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1. ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN XÀ LÁCH THEO CÁC CÁCH XỬ LÝ 39
4.1.1. Kết quả đánh giá cảm quan về chỉ tiêu màu sắc và trạng thái rau xà lách
theo phương pháp cho điểm. 39
4.1.2. Kết luận 41
4.2. TÌNH HÌNH NHIỄM Listeria monocytogenes TRÊN RAU XÀ LÁCH 41
4.2.1. Tình hình nhiễm Listeria monocytogenes tại các vườn rau. 41
4.2.2. Ảnh hưởng của các quá trình xử lý đến mức nhiễm Listeria monocytogenes43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Phụ Lục 1 49
Phụ lục 2 56
Phụ lục 3 62 4 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
2.1 Thành phần hóa học của vi khuẩn gram (+) và gram (-) 16
4.1
Rau xà lách sau 5 ngày bảo quản lạnh (<4
0
C) theo các cách
xử lý

Phước Hải
59
4.12
Kết quả dương tính với Listeria monocytogenes đường
Rhamnose tại vườn rau Phú Thạnh
59
4.13
Kết quả dương tính với Listeria monocytogenes tại vườn rau
Đồng Nai
60
5 4.14
Kết quả dương tính với Listeria monocytogenes tại vườn rau
Diên Phú 1
60
4.15
Kết quả dương tính với Listeria monocytogenes tại vườn rau
Diên Phú 2
61
4.16
Kết quả dương tính với tại Listeria monocytogenes vườn rau
Diên Phú 3
61
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các phương pháp xử
lý đến sự biến đổi bên ngoài của cây rau
33
3.3 Sơ đồ qua quá trình kiểm tra Listeria monocytogenes 33
3.4 Sơ đồ xử lý mẫu và tăng sinh 34
3.5 Sơ đồ định danh Listeria monocytogenes 36
3.6
Esculin dương tính (bên trái)_ Esculin dương tính (bên
phải)
36
3.7
Các ống nghiệm kiểm tra khả năng lên men đường
Rhamnose_ dương tính (mầu vàng) âm tính (mầu xanh)
37
3.8 Hình ảnh Listeria monocytogenes trên thạch máu cừu 38
3.9 Sơ đồ cách tra bảng Mac Crandy 38
4.1
Biểu dồ biểu diễn tình hình nhiễm Listeria monocytogenes ở
các vùng kiểm tra
41
4.2 Máy hấp vô trùng 62
7 4.3 Phòng cấy vi sinh 62
4.4 Tủ sấy 62
4.5 Máy cân điện tử 62
4.6 Đường Rhamnose 62
4.7 Dung dich BPW 62
4.8 Ống canh thang chứa môi trường BLEB 63

dinh dưỡng và ngon miệng hơn so với các sản phẩm đông lạnh, nhưng việc đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho những mặt hàng này thì các cơ quan chức năng
không thể đảm bảo 100% tất cả các sản phẩm bày bán tại các chợ đó được kiểm
định. Các mặt hàng thực phẩm tươi sống được bày bán tại các chợ tiềm ẩn các
nguy cơ gây ra các bệnh dịch. Đối với thực phẩm đông lạnh: Các nước phát triển
trên thế giới đa phần sử dụng thực phẩm đông lạnh và là thực phẩm chính trong
các bữa ăn hàng ngày bởi nó được đảm bảo vệ sinh tuyệt đối, được cấp chứng nhận
về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhưng dù nói gì đi chăng nữa, chúng ta không thể làm lơ trước những vụ
ngộ độc nghiêm trọng do thực phẩm gây ra. Thông tin từ Bộ Y tế cho biết, trong
năm 2010 toàn quốc đã xảy ra 132 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.676 người mắc,
3.281 người nhập viện và có 41 trường hợp tử vong. Riêng trong quý IV năm
2010, cả nước xảy ra 18 vụ ngộ độc làm 4 người tử vong do độc tố cá nóc tại các
tỉnh Phú Yên, Bến Tre, Bình Thuận, trong đó có 3 vụ ngộ độc lớn từ 30 người trở
lên [5]
Vấn đề an toàn thực phẩm đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Có
nhiều nguyên nhân gây ra các vụ ngộ độc thực phẩm như do nguyên liệu dùng chế
9 biến hay thực phẩm bị nhiễm dộc tố của vi khuẩn nhưng phần lớn nguồn gốc từ vi
sinh vật. Lâu nay, trong vấn đề an toàn thực phẩm, chúng ta chỉ lưu ý đến một số
loại vi khuẩn chủ yếu như E.coli, Staphylococcus aureus, Clostridium perfringgens
mà chưa lưu ý đến một số loại khác như Listeria monocytogenes. Trong một đợt
dịch gần đây, các chuyên gia dịch tễ học Hoa Kỳ đã thống kê cho thấy tỉ lệ tử vong
35% do nhiễm Listeria monocytogenes ở người lớn không có thai nghén, 11% ở
những người dưới 40 tuổi và 63% ở những người trên 60 tuổi [18]
Điều đáng nói là ngành y tế nước ta vẫn chưa quan tâm nghiên cứu, tầm
soát. Có thể nói chúng ta đã bỏ sót loại vi khuẩn này là tác nhân gây ra nhiều bệnh
nguy hiểm, khả năng thực phẩm bị nhiễm Listeria monocytogenes tại Việt Nam

2.1.2. Rau xà lách
Là loại rau có mặt trong danh sách loại rau được ăn sống nhiều nhất cùng với
xà lách xoang, rau muống, cải bẹ xanh, rau đắng, rau tần ô (cải cúc), rau má, rau thơm
gia vị (húng, tía tô, húng quế ).[7]

Hình 2.1: Xà lách cuộn
a. Nguồn gốc
Xà lách là loại cây thân thảo, ngắn ngày, dùng để ăn lá có nguồn gốc từ khu
vực Địa Trung Hải, được chú ý làm thức ăn cho người cách nay khoảng 4.500
năm. Đến nay, cây rau xà lách được trồng ở khắp nơi trên thế giới. Hiện tại có
khoảng 2 loại xà lách khác nhau: xà lách cuốn bắp tròn, xà lách cuốn bắp dài [9]
11 Với người Việt Nam, xà lách thật sự quen thuộc khi hầu như luôn có mặt
trong các bữa ăn hàng ngày. Xà lách là rau ăn kèm nhiều loại thực phẩm khác nhau
như các món : riêu cua, riêu cá, bánh tôm, nem rán, bún chả, bún riêu, bún ốc Theo
thống kê, hiện lượng người tiêu thụ khoảng 200g rau/ người/ ngày [7]
b.Thành phần và công dụng của xà lách
Cứ 100 gam xà lách sẽ cung cấp khoảng 2,2 gam carbohydrate, 1,2 gam
chất xơ, 90 gam nước, 166 microgram vitamin A, 73 microgram folate (vitamin
B9). Xà lách còn chứa rất nhiều muối khoáng với những nguyên tố kiềm, nhờ đó
giúp cơ thể “dọn dẹp” máu, giúp tinh thần tỉnh táo và giúp cơ thể tránh được nhiều
bệnh tật. Là một kho cung cấp chất xơ, giàu cellulose nên xà lách còn giúp ruột co
bóp, nhờ đó giúp thoát khỏi tình trạng táo bón. Cải xà lách đem lại giấc ngủ tốt vì
có chứa một chất gây ngủ là letucarium. Đối với bệnh nhân tiểu đường, xà lách là
một loại thực phẩm lý tưởng vì thuộc nhóm rau cải có thành phần carbohydrate
thấp hơn 3%. Xà lách còn chứa một hàm lượng đáng kể chất sắt nên là một loại
thực phẩm rất tốt cho những người bị thiếu máu do thiếu sắt [9]
Nhờ có chứa nhiều beta-carotene nên xà lách được các nhà y học xem là

chế cỏ dại và rửa trôi phân. Không nên trồng liên tục nhiều vụ rau cải trên cùng
chân đất. Lên luống: cao 15  20cm, rộng 90cm, rãnh 30cm, đất mặt luống phải
bằng phẳng, tơi xốp không gồ ghề để dễ phủ bạt và đục lỗ. Bón lót: toàn bộ phân
chuồng (200kg hữu cơ Humix), 30kg lân vi sinh, 30kg Bánh dầu, 3kg Ure, 3kg
Kali. Phủ bạt: dùng bạt kích cỡ 90cm, kéo căng, dùng ghim tre ghim thật chặt,
hoặc đắp đất cố định bạt.
Sâu và bệnh hại: Sâu hại chính trên cây họ cải gồm sâu xanh, sâu khoang,
sâu tơ, sâu xanh da láng sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh phòng trị: BT, Vi-BT,
Dipel, Delfin,
Amectin , Thiamectin, Centari….
Bệnh hại chính:
Chết cây con, thối nhũn, đốm vòng: sử dụng Aliette, COC85, Ridomil,
Monceren, Validacine phun phòng trị. Liều lượng phun có ghi trên bao bì sản
phẩm, chú ý ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 8-10 ngày.
Thu hoạch và bảo quản: Sau khi cấy ra ruộng 35  40 ngày có thể thu
hoạch, không để quá già làm giảm chất lượng sản phẩm, khi thu dùng dao cắt sát
gốc. Bảo quản cẩn thận, tránh để sản phẩm bị dập nát và bụi bặm bám vào, nên
đóng gói trước khi vận chuyển, phải đảm bảo tươi, sạch khi đưa ra tiêu thụ [8]
13 2.Những nghiên cứu khoa học về rau xà lách:
Nghiên cứu trồng rau xà lách trong một số dung dịch thủy canh nhằm sản
xuất rau an toàn của tác giả Lê Văn Thiên.
Nghiên cứu sự hút thu Cu, Pb, Zn và tìm hiểu khả năng sử dụng phân bón
để giảm thiểu sự tích lũy chúng trong rau cải xanh và rau xà lách của PGS.TS
Nguyễn Xuân Cự.
Studies on lettuce seed germination-I .Coumarin induced dormancy (nghiên
cứu sự nẩy mầm của rau xà lách và chất gây ngủ ở xà lách) của A.M.M.Berrie, W.
Parker, B.A.Knights and M.R.Hendrie. Departments of Botany and Chemistry,

Trường hợp có 3 mẫu trở lên người ta thường dùng phương pháp phân tích
phương sai ANOVA (Analysis of Variance). Phương pháp giúp tính được chuẩn F
để kiểm định xem liệu ba mẫu có khác nhau không? Nếu có ta sẽ dùng chuẩn tiếp
t
student
để xác định mẫu nào khác mẫu nào hoặc các thành viên cho điểm có khác
nhau không.
Chuẩn F là tương quan giữa phương sai tính riêng cho từng yếu tố (mẫu hay
người thử) so với phương sai sai số của từng thực nghiệm. Nếu giá trị F tính được
lớn hơn hoặc bằng giá trị F
tc
ở một mức ý nghĩa nào đó thì sự khác nhau về yếu tố
đó được coi là có nghĩa ở mức ý nghĩa đó [11]
2.3. TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN Listeria monocytogenes
2.3.1. Sơ lượt về vi khuẩn
2.3.1.1. Đặc điểm chung của vi sinh vật.
Vi sinh vật (microorganisms) là tên gọi chung tất cả các vi sinh vật nhỏ bé,
muốn thấy rõ được người ta phải sử dụng tới kính hiển vi.
Chúng sống mọi nơi trên trên trái đất, ngay cả trong những nơi mà điều kiện
tưởng chừng hết sức khắc nghiệt vẫn thấy có sự phát triển cúa chúng. Trong đường
ruột của con người có không dưới 100  400 loài vi sinh vật khác nhau, chúng
chiếm tới 1/3 khối lượng khô của phân. Chiếm số lượng cao nhất trong đường ruột
15 của người là vi khuẩn Bactiroides Fragilis, gấp 100  1000 lần số lượng của vi
khuẩn Escherichia coli. Ở độ sâu 10.000m của Đông Thái Bình Dương, nơi hoàn
toàn tối tăm lạnh lẽo và có áp suất cao người ta vẫn phát hiện thấy có khoảng 1
triệu  10 tỉ vi khuẩn/1ml (chủ yếu là vi khuẩn Lưu huỳnh). Ở dộ cao tới 84 km
người ta vẫn phát hiện thấy có vi sinh vật. Mặt khác khi khoang lớp đá trầm tích


Năng lực thích ứng mạnh và dễ phát sinh biến dị. Người ta nhận thấy số
lượng enzim thích ứng chiếm tới 10% lượng chứa protein trong tế bào vi sinh vật.
Phần lớn vi sinh vật có thể giữ nguyên sức sống ở nhiệt độ nitơ lỏng (-196
0
C),
thậm chí ở nhiệt độ của hidro lỏng (-253
0
C). Chúng dồng thời cũng dễ phát sinh
biến dị bởi vì thường là đơn bào, đơn bội, sinh sản nhanh, số lượng nhiều, tiếp xúc
trực tiếp với môi trường sống. Tần số biến dị ở vi sinh vật là 10
-5
 10
-10
. Hình thức
biến dị là đột biến gene và dẫn đến nhiều thay đổi về hình thái cấu tạo, kiểu tao đổi
chất, sản phẩm trao đổi chất, tính kháng nguyên, tính đề kháng…. [1]
2.3.1.2. Cấu tạo của vi sinh vật:
a.Thành tế bào :
Thành tế bào (cell wall) giúp duy trì hình thái của tế bào, hỗ trợ sự chuyển
động của tiên mao (flagellum), giúp tế bào đề kháng với áp suất thẩm thấu, hỗ trợ
quá trình phân cắt tế bào, cản trở sự xâm nhập của một số chất có phân tử lớn, liên
quan đến tính kháng nguyên, tính gây bệnh, tính mẫn cảm với Thực khuẩn thể
(bacteriophage).
Năm 1884 H.Christian Gram đã phát hiện ra phương pháp nhuộm phân biệt
để phân chia vi khuẩn thành 2 nhóm khác nhau: vi khuẩn Gram dương (G+) và vi
khuẩn Gram âm (G-). Phương pháp nhuộm Gram về sau được sử dụng rộng rãi khi
định loại vi sinh vật. Thành phần hoá học của 2 nhóm này khác nhau chủ yếu như
sau:
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của gram (+) và gram (-)

 Duy trì áp suất thẩm thấu bình thường trong tế bào
 Là nơi sinh tổng hợp các thành phần của thành tế bào và các polyme của
bao nhày (capsule)
 Là nơi tiến hành quá trình phosphoryl oxy hoá và quá trình phosphoryl
quang hợp (ở vi khuẩn quang tự dưỡng)
 Là nơi tổng hợp nhiều enzym, các protein của chuỗi hô hấp.
 Cung cấp năng lượng cho sự hoạt động của tiên mao
c. Tế bào chất :
Tế bào chất (TBC- Cytoplasm) là phần vật chất dạng keo nằm bên trong
màng sinh chất, chứa tới 80% là nước. Trong tế bào chất có protein, acid nucleic,
hydrat carbon, lipid, các ion vô cơ và nhiều nhiều chất khác có khối lượng phân tử
thấp.
18 Bào quan đáng lưu ý trong TBC là ribosom. Ribosom nằm tự do trong tế
bào chất và chiếm tới 70% trọng lượng khô của TBC. Ribosom gồm 2 tiểu phần
(50S và 30S), hai tiểu phần này kết hợp với nhau tạo thành ribosom 70S (S là đơn
vị Svedberg - đại lượng đo tốc độ lắng khi siêu ly tâm).
Trong tế bào chất của vi khuẩn còn có thể gặp các chất dự trữ như các hạt
glycogen, hạt PHB (Poly-ß-hydroxybutyrat), Cyanophycin, Phycocyanin, các hạt
dị nhiễm sắc (metachromatic body), các giọt lưu huỳnh.
Ở loài vi khuẩn diệt côn trùng Bacillus thuringiensis và Bacillus sphaericus
còn gặp tinh thể độc (parasoral body) hình quả trám, có bản chất protein và chứa
những độc tố có thể giết hại trên 100 loài sâu hại (tinh thể độc chỉ giải phóng độc
tố trong môi trường kiềm do đó các vi khuẩn này hoàn toàn vô hại với người, gia
súc, gia cầm, thuỷ hải sản- có hại đối với tằm).
d. Thể nhân:
Thể nhân (Nuclear body) ở vi khuẩn là dạng nhân nguyên thuỷ, chưa có màng
nhân nên không có hình dạng cố định, và vì vậy còn được gọi là vùng nhân. Khi

- Là nơi tích luỹ một số sản phẩm trao đổi chất (dextran, xantan )
- Giúp vi khuẩn bám vào giá thể (trường hợp các vi khuẩn gây sâu răng như
Streptococcus salivarrius, Streptococcus mutans ).
i. Tiên mao và khuẩn mao :
Tiên mao (Lông roi, flagella) không phải có mặt ở mọi vi khuẩn, chúng
quyết định khả năng và phương thức di động của vi khuẩn. Tiên mao là những sợi
lông dài, dưới kính hiển vi quang học chỉ có thể thấy rõ khi nhuộm theo phương
pháp riêng. Dưới kính hiển vi điện tử có thể thấy rất rõ cấu trúc của từng sợi tiên
mao. Để xác định xem vi khuẩn có tiên mao hay không còn có cách thử gián tiếp
nhằm biết khả năng di động của chúng. Cấy bằng que cấy nhọn đầu vào môi
trường thạch đứng chứa 0,4% thạch (agar-agar), còn gọi là môi trường thạch mềm.
Nếu thấy vết cấy lan nhanh ra xung quanh thì chứng tỏ là vi khuẩn có tiên mao, có
khả năng di động.
Tiên mao có thể gốc (basal body), gồm 1 trụ nhỏ được gắn với 4 đĩa tròn (vi
khuẩn G
-
) có dạng vòng nhẫn (ring), ký hiệu là các vòng L, P, S và M. Vòng L
nằm ngoài cùng, tương ứng với lớp liposaccarid của màng ngoài; vòng P tương
20 ứng với lớp peptidoglycan, vòng S tương ứng với lớp không gian chu chất; vòng
M nằm ở trong cùng. Vi khuẩn G
+
chỉ có 2 vòng: 1 vòng nằm ngoài tương ứng với
thành tế bào và 1 vòng trong tương ứng với màng sinh chất. Xuyên giữa các vòng
là 1 trụ nhỏ (rod) có đường kính 7nm. Bao bọc tiêm mao ở phần phía ngoài là một
bao ngắn có hình móc (hook). Sợi tiên mao (filament) dài khoảng 10  200m và
có đường kính khoảng 13  20nm. Đường kính của bao hình móc là 17nm.
Khoảng cách giữa vòng S và vòng M là 3mm, giữa vòng P và vòng L là 9nm, giữa

(Planococcus) là có tiên mao. Xoắn thể có một dạng tiên mao đặc biệt gọi là tiên
mao chu chất (periplasmic flagella), hay còn gọi là sợi trục (axial fibrils), xuất phát
từ cực tế bào và quấn quang cơ thể. Chúng giúp xoắn thể chuyển động được nhờ
sự uốn vặn tế bào theo kiểu vặn nút chai.
f. Khuẩn mao và Khuẩn mao giới:
Khuẩn mao (hay Tiêm mao, Nhung mao, Fimbriae) là những sợi lông rất
mảnh, rất ngắn mọc quanh bề mặt tế bào nhiều vi khuẩn Gram âm. Chúng có
đường kính khoảng 7  9nm, rỗng ruột (đường kính trong là 2  2,5nm), số lượng
khoảng 250-300 sợi/ vi khuẩn. Kết cấu của khuẩn mao giản đơn hơn nhiều so với
tiên mao. Chúng có tác dụng giúp vi khuẩn bám vào giá thể (nhiều vi khuẩn gây
22 bệnh dùng khuẩn mao để bám chặt vào màng nhầy của đường hô hấp, đường tiêu
hoá, đường tiết niệu của người và động vật).

Hình 2.4: Khuẩn mao ở vi khuẩn E.coli
Có một loại khuẩn mao đặt biệt gọi là khuẩn mao giới (Sex pili, Sex pilus-số
nhiều) có thể gặp ở một số vi khuẩn với số lượng chỉ có 1  10/ vi khuẩn. Nó có cấu
tạo giống khuẩn mao, đường kính khoảng 9-10nm nhưng có thể rất dài. Chúng có thể
nối liền giữa hai vi khuẩn và làm cầu nối để chuyển vật chất di truyền (ADN) từ thể
cho (donor) sang thể nhận (recipient). Quá trình này được gọi là quá trình giao phối
(mating) hay tiếp hợp (conjugation). Một số thực khuẩn thể (bacteriophage) bám vào
các thụ thể (receptors) ở khuẩn mao giới và bắt đầu chu trình phát triển của chúng [1]
3. Các loài vi khuẩn:
Vi sinh vật được chia thành nhiều nhóm khác nhau.Những nhóm chủ yếu là
vi khuẩn, xạ khuẩn (Actinomycetes), vi khuẩn lam (Cyanobacteria), và nhóm vi
khuẩn nguyên thủy Micoplatma (Mycoplasma), Ricketxi (Ricketsia), Clamidia
(Chlamydia) [1]
2.3.2. Giới thiệu chung về giống vi khuẩn Listeria spp và loài Listeria

2.3.2.2. Khả năng chịu đựng
Chúng có thể chịu được độ mặn và pH ở khoảng rộng giữa 5 và 9, không
chịu được nóng L. monocytogenes thuộc loại ưa lạnh, khả năng đặc biệt của chúng
là sống rất dai và phát triển ở nhiệt độ thấp đến 2.5
0
C và cao đến 44
0
C [3]
2.3.2.3. Phân bố và nguồn lây nhiễm
Listeria monocytogenes có mặt ở khắp mọi nơi trong tự nhiên và bị cách ly
khỏi nước, đất và chất thực vật. Vi khuẩn này có thể truyền qua cơ thể người qua
đường ăn uống những thực phẩm nhiễm bẩn hoặc ăn sống. Sự nhiễm bẩn có thể
xảy ra bất kỳ khâu nào trong quá trình sản xuất sản phẩm từ nông trường, khâu chế
biến, phân phối, bảo quản,… những loại thực phẩm đặc biệt liên kết với loài
Listeria monocytogenes gồm: sản phẩm sữa đặc biệt như pho mát mềm, kem,
bơ…, thịt pate và thịt jambon, thịt gà, trứng, hải sản, các loại rau ăn sống, thức ăn
chế biến sẵn hay để lạnh [3].
2.3.2.4. Đặc điểm gây bệnh.
Bệnh do nhiễm khuẩn Listeria monocytogenes được gọi chung là bênh
Listeriosis là tình trạng nhiễm khuẩn do tiếp xúc hoặc ăn phải các loại thực phẩm
bị nhiễm Listeria monocytogenes. Loại vi khuẩn Listeria monocytogenes được Tổ
chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân sinh học có nguy cơ cao trong lĩnh vực
an toàn vệ sinh thực phẩm [19].
Bệnh Listeriosis là căn bệnh đơn phát của con người và động vật, đặc biệt là
những người suy giảm miễn dịch hoặc đang mang thai bị gây ra bởi loại vi khuẩn
Listeria monocytogenes. Sự nhiễm khuẩn này trên cừu và một số động vật khác
thường xuyên có liên quan đến hệ thần kinh, các biểu hiện chính là nhiễm trùng
huyết và gan bị hoại tử. Các bệnh như viêm màng não, viêm phổi, sảy thai, viêm
25

Trích đoạn Quy Trình Thực hiệ n TÌNH HÌNH NHIỄM Listeria monocytogenes TRÊN RAU XÀ LÁCH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status