Khảo sát tình hình nhiễm giun đũa lợn (Ascaris suum) tại huyện M’Đrăk và biện pháp phòng trị - Pdf 20

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước trong thời kì hội nhập đòi hỏi các chủ thể kinh tế, các ngành, các thành
phần kinh tế không ngừng phát triển để tạo chỗ đứng của mình trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế. Trong xu thế chung đó đòi hỏi ngành chăn nuôi không
ngừng học hỏi, trao dồi kinh nghiệm để tạo sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho
người dùng trong nước và quốc tế. Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cho
nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Chăn nuôi Việt Nam nói riêng những mặt
thuận lợi đồng thời cũng gặp không ít khó khăn.
Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng với đặc thù là một nước đi lên từ sản xuất
nông nghiệp, với hơn 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với
nhiều ngành nghề khác nhau.Trong đó đã và đang nâng dần tỉ trọng của mình trong nông
nghiệp. Ngành chăn nuôi đã cung cấp những sản phẩm cho người tiêu dùng như: thịt,
trứng, sữa …Ngoài ra, nó còn là nguồn nguyên liệu để sản xuất phân bón, thức ăn gia
súc và các sản phẩm khác.
Lợn là loài được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng. Nó
được nuôi với nhiều hình thức khác nhau ( nuôi gia đình, nuôi tập trung ), tuy nhiên trên
thực tế nuôi Lợn còn gặp nhiều khó khăn, làm thế nào để đàn Lợn khỏi bị bệnh, đặc biệt
là bệnh Ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa Lợn nói riêng ?
Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng củng cố nhưng công tác khuyến nông tẩy
giun sán cho Lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu tập trung đã
gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ sở, chính vì vậy mà tỉ lệ giun đũa lợn khá
cao.
Tại Đắk Lắk nói chung và huyện M’đrăk nói riêng có điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển chăn nuôi lợn, nhưng người chăn nuôi chưa quan tâm đến công tác phòng trị
bệnh do giun sán gây ra, vì vậy đã gây thiệt hại quá lớn về kinh tế, dẫn đến người chăn
nuôi không yên tâm phát triển rộng chăn nuôi.
1
Từ nhận thức trên, để hiểu rõ hơn và giải quyết vấn đề mà thực tế đề ra, đồng thời
bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng của một số loại thuốc trị ký sinh trùng hiện nay.
Được sự đồng ý của bộ môn Thú y – khoa Chăn Nuôi - Thú y Trường Đại học Tây

Nhận xét:
Đất là tư liệu sản xuất quan trọng để phát triển kinh tế, thế nhưng phần lớn đất
của huyện là đất bạc màu, độ pH thấp, tầng đất canh tác mỏng, thoát nước kém, có nhiều
đá lộ đầu, đã và đang bị xói mòn mạnh do thảm thực vật che phủ mỏng. Diện tích đất đỏ
bazan được xếp vào loại đất tốt để trồng cây công nghiệp cho giá trị kinh tế cao như cà
phê, cao su, tiêu…thì rất ít do đó phần lớn đất ở đây không được sử dụng nhiều để sản
xuất nông nghiệp.
Huyện có đồng cỏ tự nhiên lớn rất thuận lợi cho chăn thả đại gia súc.
2.1.3. Khí hậu
3
Do ảnh hưởng của cao nguyên và vùng biển nên M’đrăk có khí hậu rất khắc
nghiệt, một năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ có khi lên cao đến 38
o
C, nhiệt độ trung bình năm là 24
o
C, biên độ
ngày đêm là 12,4
o
C.
Khí hậu M’đrăk có đặc điểm khá nổi bật và đặc trưng so với các vùng khác trong
tỉnh. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lấn sâu vào phía Nam, áp thấp nhiệt đới và
gió mùa đổ bộ vào ven biển miền Trung từ Đà Nẵng thổi vào gây mưa vừa đến mưa to
trên diện tích rộng, mưa trong nhiều ngày làm hư hại các công trình xây dựng, giao
thông, thuỷ lợi và hoa màu.
Độ ẩm trung bình hàng năm là 84%. Tháng có độ ẩm cao từ 84-89% (từ tháng 9
đến tháng 2 năm sau), các tháng còn lại có độ ẩm trung bình là 79-80%.
Nhận xét:

Giá trị thu nhập bình quân từ chăn nuôi hàng năm là 46,5 tỷ đồng/năm. Thu nhập bình
quân đầu người là 8,7 triệu đồng/người/năm, ngành trồng trọt có giá trị sản xuất: 236,7
tỷ đồng/năm.
2.2.5. Về Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng của huyện đạt 21.496 ha, trong đó diện tích lúa nước 2
mùa ổn định là 2.600 ha, năng suất bình quân đạt 5,5 tạ/ha. Ngoài ra huyện đã mở rộng
diện tích trồng mía và các loại cây hoa màu cho sản lượng cao góp phần phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống cho nhân dân.
2.2.6. Về Chăn nuôi
5
Trước đây người dân ở địa phương chủ yếu chăn nuôi theo phương thức tận dụng
và dựa vào điều kiện tự nhiên nên năng suất chưa cao. Hiện nay nhờ cải tiến của khoa
học kỹ thuật, nhà nước đã đưa các giống bò, giống lợn có năng suất chất lượng cao và
chuyển giao kỹ thuật cho bà con áp dụng sản xuất nên hiệu quả chăn nuôi đã được nâng
cao.
Bảng 1: Tổng đàn gia súc của huyện qua các năm.
Năm Tổng đàn trâu bò Tổng đàn lợn
2007 32.600 37.450
2008 28.800 39.200
2009 25.400 40.050
Trích nguồn từ trạm thú y huyện
2.2.6. Công tác Thú Y của huyện
2.2.6.1. Công tác tổ chức
Trạm có 5 cán bộ thuộc biên chế nhà nước, 2 nhân viên hợp đồng và 16 thú y cơ sở.
Bảng 2: Mạng lưới thú y của huyện M’đrăk
STT Địa điểm
Trình độ
Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp Tổng
1 Trạm Thú y 3 0 2 0 5
2 Thị trấn 0 0 1 0 1

2.2.6.2. Công tác phòng chống dịch
a.Công tác tiêm phòng:
- Tiêm phòng cho đàn trâu bò: Tiêm vaccin LMLM hàng năm là 27000 liều, đạt
tỷ lệ 68,2%/vụ/năm so với tổng đàn.
- Tiêm phòng cho đàn lợn: chủ trương tiêm phòng vaccin đơn, tuyp, ô cho lợn nái
và đực giống với số liều là 3000 liều.
- Công tác kiểm dịch động vật và kiểm soát giết mổ.
b.Công tác kiểm dịch động vật:
Hàng năm thực hiện kiểm tra làm thủ tục kiểm dịch động vật xuất ra ngoài tỉnh từ
12000-14000 con gia súc để tiêu thụ. Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm dịch động vật
dần dần từng bước đi vào quản lý có hiệu quả, kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh gia súc,
đặc biệt là dịch LMLM đã được khống chế và ngăn chặn có hiệu quả. Trong 3 năm gần
đây dịch LMLM gia súc trên địa bàn huyện không xảy ra.
c.Công tác KSGM:
Trạm thú y huyện quản lý 1 lò mổ gia súc tập trung tại khu trung tâm huyện gồm
4 xã thị trấn (thị trấn, CưMta, Krôngzin, CưKroá). Bình quân mỗi ngày mổ 45-50 con
7
lợn, 1-2 con bò. Một năm kiểm soát được 46000 con gia súc giết mổ tập trung tại lò,
kiểm soát được 11 điểm giết mổ tư nhân ở các xã lân cận trên địa bàn huyện.
2.3 Cơ sở lý luận của đề tài
2.3.1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn
Giun đũa lợn ký sinh ở ruột non lợn, màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn.
Đầu giun có ba môi bao bọc quanh miệng, một môi ở phía lưng và hai môi ở phía bụng.
Trên rìa môi có một hàng răng cưa, cấu tạo hai môi này khác nhau giữa hai loài giun
đũa, hàng răng cưa ở môi giun đũa người không rõ ràng bằng răng cưa của giun đũa lợn.
Hình 1: giun đực
Giun đực dài 12- 25 cm, đường kính 3 mm. Giun cái dài 30- 35 cm, đường kính 5-
6 mm. Phân biệt giun đực và giun cái: giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun
cái thì thẳng. Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau, khoảng 1,2- 2 mm, không có
túi giao hợp.

10
Hình 5:các vị trí giun đũa
Kí sinh
Giun đũa sống nhờ vào chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa
phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột, lấy tổ chức đó nuôi sống bản thân. Tuổi thọ của giun
đũa không quá 7- 10 tháng, hết tuổi thọ giun đũa theo phân ra ngoài. Nhưng gặp điều
kiện không thuận lợi (con vật bị bệnh truyền nhiễm, sốt cao…) thì tuổi thọ của giun đũa
ngắn lại. Số lượng giun có thể vài con tới trên một nghìn con trên cơ thể một con lợn.
2.3.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa lợn
Giun đũa phân bố rộng khắp thế giới, nguyên nhân chính là vòng đời của giun
đũa lợn rất đơn giản, truyền trực tiếp và sức đề kháng của trứng rất cao.
Đặc điểm của trứng giun đũa lợn có 4 lớp vỏ: lớp trong cùng bảo vệ phôi thai, giữ
cho các chất hữu cơ không ảnh hưởng tới trứng, hai lớp giữa giữ cho chất lỏng của trứng
không bị bốc hơi, lớp ngoài cùng là lớp protit có màu vàng cánh dán giữ cho tia tử ngoại
không xâm nhập được vào bên trong. Trứng sống rất lâu 6- 12 tháng trong đống phân,
trong điều kiện tự nhiên sống 1- 2 năm. Nhiệt độ thích hợp cho trứng phát triển khoảng
25
o
C. Khi nhiệt độ xuống thấp (12
o
C) trứng phát triển chậm.
Trứng ở sâu 3 cm, nhiệt độ 26- 33
o
C, hàm lượng nước 9,5-19% thì 89% trứng
phát triển. Trứng ngừng phát triển khi nhiệt độ ở rất thấp: - 4,8
o
C đến – 13,4
o
C, hàm
lượng nước 6,3-17%. Trứng có thể bị chết khi gặp một trong ba trường hợp sau:

o
C, thì nở ra ấu trùng và có thể chui qua da người mà vào cơ thể.
+ Mối liên quan giữa giun đũa người và giun đũa lợn: về mặt sinh học, nhất là
gây nhiễm chéo, trong nhiều năm gần đây đã tranh luận là hai loại đó khác hay là cùng
một loài.
Nói chung gây nhiễm nhân tạo thấy giun đũa người có thể xâm nhiễm vào lợn và
giun đũa lợn có thể xâm nhiễm vào người. Hiraishi (1928), Boer (1935), đã gây nhiễm
giun đũa người cho lợn khi lợn ăn thức ăn thiếu vitamin A. Soulsby (1961) cũng gây
nhiễm được cho lợn mới đẻ không được bú sữa đầu đối với giun đũa người.
Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn, có 7 người bị
nhiễm. Theo Mozgovoi (1953) nghiên cứu thấy ký chủ nhiễm giun đũa người thì ngoài
người ra còn có tới 10 loại động vật khác như lợn, chó…cũng bị nhiễm. Vì vậy tác giả
thừa nhận giun đũa lợn và giun đũa người không cùng một loài. Xét về mặt dịch tễ, ở
12
một khu vực lợn nhiễm giun đũa lợn với tỉ lệ rất cao nhưng người không nhiễm cao,
hoặc người nhiễm với tỉ lệ rất cao nhưng lợn không nhiễm cao chứng tỏ chúng khác loài
và không có liên quan trực tiếp.
2.4.4. Tỉ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn
Ở miền Bắc tỉ lệ nhiễm dao động 13-14% (Phạm Văn Khuê, Trịnh Văn Thịnh,
1982). Năm 1978, Phạm Văn Khuê, Phan Văn Lục điều tra 1055 lợn nuôi tại 6 tỉnh Nam
Bộ cho biết tỉ lệ nhiễm giun đũa là 31,04%, trong đó heo ba tỉnh miền Đông nhiễm 40%
cao hơn ở ba tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là 23%. Năm 1995, Lương Văn Huấn mổ
khám 891 lợn thuộc 4 lứa tuổi và khảo sát 5044 lợn lớn thuộc 12 tỉnh thành ở phía Nam
cho thấy tỉ lệ nhiễm giun đũa là 53%. Bình Trị Thiên là 34%, Quảng Nam-Đà Nẵng là
61%, Bình Định 45%, Phú Yên, Khánh Hòa 75%, Đồng Nai 64%, Sông Bé 51%, Tây
Ninh 45%, Thành phố Hồ Chí Minh 41%, Tiền Giang 73%, Kiên Giang 70%. Phạm Văn
Chức, Châu Bá Lộc và cộng sự (1986) cho biết heo Hậu Giang nhiễm 28-50%. Bùi Lập,
Nguyễn Đăng Khải, Vũ Sỹ Nhàn (1979) cho biết heo miền Trung nhiễm 36-58%.
Trịnh Văn Thịnh, Phạm Văn Khuê, 1982 cho biết:
Lợn dưới 3 tháng tuổi nhiễm 39,2%

gây
những điểm hoại tử xuất huyết ở gan kích thước khoảng 1 cm và có nhiều sợi Fibrin. Ấu
trùng cũng gây tổn thương và làm rách các mao mạch, phế nang làm cho bệnh suyễn
nặng hơn. Đồng thời ấu trùng còn mang vi khuẩn E.coli vào trong máu.
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột làm viêm cơ ruột, gây loét ruột. Lấy các chất
dinh dưỡng của quá trình trao đổi chất gây còi cọc, chậm lớn, gây tắc ruột, thủng ruột.
Giun sử dụng nhiều Ca
2+
làm cho lợn co giật, mềm xương, còi xương. Khi di hành qua
ống mật gây vỡ ống mật.
2.3.7 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh giun đũa lợn
2.3.7.1 Triệu chứng
Triệu chứng ở lợn lớn không rõ, phần nhiều là mang giun đũa, trở thành nguồn
gieo rắc mầm bệnh. Bệnh nặng ở lợn con từ 3 đến 6 tháng, lợn chậm lớn, gầy còm, ấu
trùng ở phổi gây viêm phổi, thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm sút, hô hấp nhanh, thường
14
xuyên có các triệu chứng viêm phổi, khi giun trưởng thành thì triệu chứng không rõ:
chậm lớn, gầy, sút cân, rối loạn tiêu hóa; khi có nhiều giun làm tắc ruột, thủng ruột, đau
bụng, viêm xoang bụng, một số con bị quá mẫn thì có triệu chứng thần kinh, nổi mẫn,
ho…
2.3.7.2 Bệnh tích
Lúc đầu phổi bị viêm, trên mặt phổi có đám huyết màu hồng thẫm. Khi mổ
phổi thấy nhiều ấu trùng. Khi nhiều giun trưởng thành ở ruột non làm ruột non viêm
cata. Khi ruột bị vỡ thì gây viêm phúc mạc và xuất huyết.
Hình 6: Gan bị những nốt hoại tử trắng do ấu trùng của giun đũa.
Hình 7: Giun đũa trong ruột
2.3.8. Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn
+ Lợn dưới hai tháng tuổi: Lợn con theo mẹ nếu có giun, thì giun chưa đẻ trứng
(54-62 ngày mới đẻ trứng). Bởi vậy nếu muốn chẩn đoán bệnh, có thể mổ khám rồi tìm
ấu trùng ở phổi và gan.

+ Phòng bằng vaccine: Thu thập trứng có chứa ấu trùng gây nhiễm, chiếu phóng
xạ 700 R. Số lượng trứng là 500-2000/ liều vaccine cho ăn. Những lợn cho ăn vaccine tỉ
lệ nhiễm giun đũa giảm 4,7 lần so với heo đối chứng. Thời gian miễn dịch khoảng 4
tháng.
+ Dùng Hygromycine 1,5 kg/ 1 tấn thức ăn phòng cho lợn.
2.3.9.2 Trị bệnh
Khi lợn bị nhiễm giun đũa ta sử dụng một trong các loại thuốc sau để điều trị:
- Tetramisole (Nilverm hoặc Ascaridin): liều dùng 20g thuốc tinh chất/ kg trọng
lượng (P), trộn vào thức ăn hoặc cho uống một lần.
16
- Levamisole (Vinacor, Decaris): ở dạng dung dịch 7,5% dạng chai 100 ml hoặc
240 ml hoặc 500 ml. Khi dùng sử dụng 6-8 mg/ kg P, chích bắp cho lợn nhỏ hơn 30 kg.
Lợn lớn hơn chích liều 5-6 mg/ kg P.
- Levomisole: nồng độ 6,5% dạng chai 100 ml. Lợn nhỏ hơn 30 kg chích bắp liều
1 ml/ 6 kg P. Lợn lớn chích liều 1 ml/ 9 kg P.
- Tetravermex: dạng bột 10%, liều dùng 20 mg/ kg P cho ăn hoặc uống.
- Themisole: dạng 15% đóng chai 200 ml. Chích bắp liều 1 ml/ 20 kg P, không
quá 5 ml/ con.
- Nilverm: Do Australia sản xuất nồng độ 7,5% đóng chai 500 ml. Chích liều 1
ml/ 7-8 kg P.
- Nichlozamide-Tetramisole B: dạng viên 5 g, dùng 1 viên/ 75 kg P.
- Piperazine: đối với lợn chỉ dùng dạng Hexahydrate piperazine và các dạng muối
Adipinat, Phosphate, Sunfate cho ăn hoặc cho uống. Lợn nhỏ hơn 50 kg dùng liều 0,3 g/
kg P. Lợn lớn hơn 50 kg dùng liều 15 g/ con, dùng 2 lần/ ngày.
- Mebendazole (Mebenvet): dùng liều 20 mg/ kg P cho ăn hoặc uống. Sau khi
dùng lợn có thể bị tiêu chảy nhẹ.
- Dichlovos (DDVP): 0,2 g/ kg P cho ăn hoặc uống.
- Benacine: liều 150 mg/ kg P cho ăn hoặc uống.
- Phenothiazine: 0,5 g/ kg P cho ăn hoặc uống.
- Ivermectin: 0,1-0,3 mg/ kg P chích bắp hoặc chính dưới da.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status