VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
Lờ Th Thu Hng
THể CHế QUảN Lý VIÊN CHứC KHOA HọC, CÔNG NGHệ
ở NƯớC TA TRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY
Chuyờn ngnh : Lut Hin phỏp v lut hnh chớnh
Mó s : 62 38 01 02
LUN N TIN S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS Vế KHNH VINH
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng. Các kết luận khoa học của luận án chưa từng
được công bố trên bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Lê Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
Tran
g
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
8
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 21
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ VIÊN
149
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ
151
TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
(Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 01/11/2012) về phát triển khoa học và công nghệ
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã thể hiện quan điểm nhất quán
của Đảng Cộng sản Việt Nam, xác định khoa học và công nghệ thực sự là động lực
then chốt phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, tạo chuyển biến về chất trong đóng
góp của khoa học, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh
của nền kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng an ninh, góp phần đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là
nước công nghiệp hiện đại giữa thế kỷ XXI.
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012
cũng đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu
phát triển khoa học và công nghệ. Trong những giải pháp nhằm phát triển khoa
học, công nghệ, thì giải pháp xây dựng đồng bộ chính sách thu hút, trọng dụng,
đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong đó,
nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển đội ngũ viên chức làm công tác
khoa học, công nghệ chiếm vị trí trung tâm bởi vấn đề con người vẫn luôn luôn là
vấn đề then chốt, là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của việc đổi mới tổ
chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học, công nghệ như đường lối lãnh
đạo của Đảng đã đề ra.
kỳ xét thưởng và tôn vinh các nhà khoa học có kết quả nghiên cứu đặc biệt xuất sắc,
đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, nhìn chung chủ trương, chính sách và thể chế phát triển nguồn
nhân lực khoa học, công nghệ vẫn còn chưa tương xứng với chính sách phát triển
kinh tế - xã hội, chưa tạo môi trường và động lực thúc đẩy đội ngũ viên chức khoa
2
học, công nghệ đem hết tài năng cống hiến cho đất nước, đồng thời buộc họ phải
năng động, sáng tạo hơn. Việc hoàn thiện thể chế quản lý viên chức khoa học, công
nghệ trong giai đoạn hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách vì:
Thứ nhất, hệ thống thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ hiện nay
có nhiều nội dung quy định chưa phù hợp với đặc điểm, tính chất lao động đặc thù
của đội ngũ viên chức khoa học, công nghệ. Một số các quy định về thi tuyển, thi
nâng ngạch viên chức khoa học, công nghệ hiện nay về cơ bản không khác với đội
ngũ công chức hành chính nhà nước, không phù hợp với hoạt động khoa học, công
nghệ và vẫn còn mang tính chất hình thức, không căn cứ vào kết quả lao động,
cống hiến khoa học của người viên chức khoa học, công nghệ. Hệ thống tiêu chuẩn
chức danh viên chức khoa học, công nghệ chưa đáp ứng kịp với yêu cầu đổi mới
dẫn đến còn nhiều hạn chế trong xây dựng và quản lý đội ngũ viên chức khoa học,
công nghệ. Chế độ đãi ngộ thông qua tiền lương chưa đủ tái sản xuất sức lao động
và còn nhiều bất hợp lý, chưa thực sự dựa trên kết quả công việc.
Thứ hai, một số quy định về trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các
đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ công lập thiếu đồng bộ, còn nhiều hạn chế,
bất cập, do đó, các tổ chức, đơn vị khoa học, công nghệ chưa thực sự được quyền
chủ động trong tuyển dụng và quản lý nhân lực; quy định mức biên chế và kinh phí
hoạt động cho các cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ theo số biên chế như
hiện nay còn thiếu căn cứ khoa học, làm hạn chế quy mô phát triển của các tổ chức
khoa học, công nghệ cần thiết cho sự phát triển đất nước.
Thứ ba, các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của người trực tiếp làm
công tác nghiên cứu khoa học cũng như cá nhân người lãnh đạo tổ chức khoa học,
công nghệ còn thiếu cụ thể, rõ ràng và có những ràng buộc bất hợp lý, chưa gắn với
cứu ở một mức độ nhất định.
Phạm vi và địa bàn nghiên cứu: luận án nghiên cứu thể chế quản lý viên
chức khoa học, công nghệ ở Việt Nam, có sự so sánh với thể chế quản lý viên chức
khoa học, công nghệ ở một số nước như Singapore, Trung Quốc, Mỹ, Pháp ;
Thời gian nghiên cứu: “giai đoạn hiện nay” trong luận án được xác định từ
năm 2000 đến nay. Luận án chọn giai đoạn từ năm 2000 đến nay để nghiên cứu vì
4
đây là thập niên đầu của thiên niên kỷ XXI, với những biến đổi rất sâu sắc của đời
sống khoa học, công nghệ và những thay đổi quan trọng trong thể chế quản lý viên
chức khoa học, công nghệ ở Việt Nam. Mặc dù vấn đề nghiên cứu có quá trình lịch
sử, nhưng việc tập trung phân tích thể chế quản lý với những văn bản pháp lý và
những ảnh hưởng của nó trong hơn 1 thập niên gần đây sẽ cho phép nhận diện rõ và
đầy đủ nhất những tác động và ảnh hưởng của nó đến đối tượng viên chức khoa
học, công nghệ.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử. Trên cơ sở các phương pháp luận khoa học đó, luận án
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt các Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng
sản Việt Nam về đổi mới công tác cán bộ và kinh nghiệm lịch sử đã đúc kết thành
lý luận trong xây dựng thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ.
Để triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể, luận án đã sử dụng các phương
pháp phổ biến của khoa học pháp lý và khoa học quản lý như : phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp luật học so sách,
phương pháp hệ thống, phương pháp nghiên cứu văn bản gắn với thực tiễn và dự
báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng thể
chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ ở trong và ngoài nước…
Trong quá trình thực hiện luận án, việc sử dụng phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi đối với những đối tượng là viên chức khoa học, công nghệ và cán bộ quản
lý viên chức khoa học, công nghệ được đặc biệt chú trọng. Phương pháp này được
áp dụng chủ yếu trong chương 3 của luận án.
- Đưa ra các yêu cầu, quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng thể chế
quản lý viên chức khoa học, công nghệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Ý nghĩa của luận án
- Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung những vấn đề lý luận
về thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ; cung cấp các luận cứ khoa học
cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý viên chức
khoa học, công nghệ nói riêng và viên chức nói chung.
6
- Các kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các tổ
chức và cá nhân.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung luận
án gồm 4 chương, 14 tiết.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý nguồn nhân lực là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu, nhiều nhà quản lý. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý viên chức nói chung và
viên chức khoa học, công nghệ nói riêng lại chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề
cập tới. Liên quan đến đề tài luận án, có thể kể tới những công trình nghiên cứu đã
được công bố sau:
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập tới vấn đề quản lý
nguồn nhân lực. Dưới góc độ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, Christian Batal
trong cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” (Nxb chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2 tập, năm 2002) đã trình bày cơ sở lý thuyết và đưa ra các
phương pháp tổ chức điều hành hiện đại để điều hành nguồn nhân lực trong khu vực
nhà nước có hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy cải cách, đổi mới nền hành chính của
lập luận rằng các loại kỹ năng và kiến thức nuôi dưỡng bởi cấu trúc của một nền
kinh tế sẽ định hướng thay đổi và dần dần làm thay đổi khuôn khổ thể chế. Sau
cùng, tác giả giải thích làm thế nào thay đổi thể chế có thể tạo ra các cơ chế khuyến
khích để tổ chức phát triển. Trong phần cuối cùng của cuốn sách, ông giải thích ý
nghĩa của phân tích này cho lý thuyết kinh tế và lịch sử kinh tế.
Trong cuốn sách Managing Human Resources, Cornell University, 2007,
“Quản lý nguồn nhân lực” của 2 tác giả George Bohlander, Giáo sư danh dự Quản
lý tại Đại học bang Arizona và Scott Snell, Giáo sư, đồng thời là Giám đốc điều
hành Giáo dục của Đại học Cornell, cuốn sách gồm 832 trang, được chia thành 6
chủ đề, mỗi chủ đề nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của quản trị nguồn nhân
lực, như quản trị tài năng con người hay vốn nhân lực, đáp ứng nhu cầu thị trường
về nhân lực; những trách nhiệm, năng lực của nhà quản trị nhân lực; kết nối nhu cầu
cá nhân và nhu cầu của nhà tổ chức; xác định các cơ hội sự nghiệp và những yêu
9
cầu cho sự nghiệp; phát triển năng lực và kỹ năng làm việc cá nhân; đánh giá và cải
thiện kết quả thực hiện công việc, trong đó đề cập rất cụ thể các phương pháp đánh
giá như phương pháp tiếp cận từ đặc tính cá nhân, phương pháp đánh giá dựa trên
hành vi, phương pháp hướng vào kết quả cuối cùng, đồng thời các tác giả cũng đưa
ra cách thức lựa chọn phương pháp đánh giá kết quả thực hiện công việc của mỗi cá
nhân. Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng được các tác giả nghiên
cứu và phân tích cụ thể, như nội dung của các chương trình đào tạo, đánh giá và
theo dõi phát triển sự nghiệp, quản lý cá nhân và đời sống gia đình. Những vấn đề
nhiều nhà tổ chức, nhà quản lý quan tâm cũng được tìm thấy trong cuốn sách bổ ích
này, đó là thù lao đối với nhân viên và thù lao cho nhà quản lý… Đặc biệt, cuốn
sách còn đề cập đến chủ đề rộng hơn đó là quản trị nhân lực quốc tế, như vấn đề
ảnh hưởng môi trường toàn cầu đến việc quản lý, tuyển mộ nhân viên quốc tế và
tuyển chọn nhà quản lý toàn cầu.
“The use of labor and employment in the public sector expansion -
Province of British Columbia” “Người sử dụng lao động và việc làm trong khu vực
công mở rộng - Tỉnh bang British Columbia” của học giả Anne Richmond, một
nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và đạt được nhiều
thành quả đáng quý. Về mặt pháp lý, việc nghiên cứu thực tiễn vấn đề quản lý
khoa học và công nghệ luôn gắn liền với quá trình hình thành, hoàn thiện các chính
sách pháp luật.
Ở đây luận án xin điểm các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề
quản lý nhân lực, quản lý và phát triển đội ngũ trí thức khoa học, công nghệ phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời đại hiện nay; đồng
thời khái quát quá trình cải cách, dần hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định về
vấn đề này:
1.2.1. Về khái niệm nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, khái niệm viên
chức: một số công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích sâu các khái niệm con
người, nguồn lực con người, phát triển con người, phát triển nhân lực con người
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng ta
11
(Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, TS. Nguyễn
Thanh, 2005). Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành nguồn nhân lực xã hội với
những nội dung cơ bản của dân số, các chỉ tiêu dân số, xu hướng phát triển dân số
trên thế giới và ở Việt Nam, các chính sách dân số, quản lý nhà nước về dân số. Từ
đó tác giả đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, vai trò nguồn nhân lực trong phát triển
kinh tế - xã hội, những đặc điểm chủ yếu của nhân lực Việt Nam; khái niệm phát
triển nguồn nhân lực, các hình thức phát triển nhân lực, chính sách và quản lý sự
phát triển nguồn nhân lực.
Phân biệt khái niệm viên chức và công chức, một số công trình nghiên cứu
đã nêu lên khái niệm “viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn
vị sự nghiệp của nhà nước” (Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công
nghệ trong cơ quan nghiên cứu và triển khai theo hướng chuyển chế độ công chức
sang chế độ viên chức đối với nhân lực nghiên cứu khoa học (nghiên cứu trường
hợp trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Trần Văn Hồng, 2003).
Trong bài viết “Một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của viên chức,
khoa học, công nghệ phải gắn với những đổi mới quản lý kinh tế xã hội, gắn với
chức năng hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ, phải phù hợp với đặc điểm
khoa học và công nghệ ngày nay (công nghệ luôn tồn tại với đầy đủ tính đa dạng về
loại hình với trình độ, tình trạng phổ biến là công nghệ cổ truyền đan xen công nghệ
hiện đại và cả những công nghệ cổ truyền được hiện đại hóa. Vì vậy nhân lực khoa
học, công nghệ cần được đào tạo trên diện rộng, luôn có sự đổi mới và đào tạo lại
khi công nghệ ngày ngày có sự đổi mới) (Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa
học và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu và triển khai theo hướng chuyển chế độ
công chức sang chế độ viên chức đối với nhân lực nghiên cứu khoa học (nghiên cứu
trường hợp trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Trần Văn Hồng,
2003; Hiện trạng chính sách phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ ở Việt
Nam, Đinh Văn Thái, 2003, Thúc đẩy quản lý nguồn nhân lực Khoa học và Công
nghệ trên địa bàn Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Huỳnh Văn Hiệp, 2006)….
13
Do vậy, Đảng và Nhà nước cần thiết phải xây dựng chiến lược cụ thể cho sự
phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ thì việc không thể không gấp rút
thực hiện đó là phải nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ khoa
học, công nghệ.
1.2.2. Thực trạng nguồn nhân lực khoa học công nghệ
Đánh giá về thực trạng của nguồn nhân lực hiện nay, nhiều công trình nghiên
cứu đã phân tích và nêu lên bức tranh thực trạng của nguồn nhân lực khoa học công
nghệ ở Việt Nam trong phát triển. Khẳng định phát triển nguồn nhân lực về cả số
lượng, chất lượng là yêu cầu cấp thiết của phát triển đất nước trong khi đó, thực
trạng nguồn nhân lực nước ta vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ cấu,
trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi cơ cấu
lại mất cân đối, không hợp lý giữa các ngành, các lĩnh vực. Về vấn đề Phát triển
nguồn nhân lực có chất lượng cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở lấy phát
triển giáo dục và đào tạo làm “Quốc sách hàng đầu”, tác giả chỉ ra rằng giáo dục - đào
tạo có vai trò quyết định trong việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao và đưa
hành chính, còn đào tạo viên chức chủ yếu là kiến thức chuyên ngành nghiên cứu.
Thứ tư, cơ chế đánh giá công chức mạng nặng tính hành chính không phù hợp với
nhân lực nghiên cứu khoa học vì không phản ánh đúng trình độ tư duy và năng lực
sáng tạo cũng như hiệu quả lao động của nhân lực khoa học, công nghệ. Thứ năm,
việc áp dụng chung một bảng lương là không phù hợp vì lực lượng lao động khoa
học, công nghệ làm việc theo sản phẩm. Từ đó, tác giả chỉ ra những mặt được và
chưa được khi áp dụng chế độ viên chức đối với nhân lực nghiên cứu khoa học,
công nghệ. Cụ thể những ưu điểm sẽ là: giải quyết những vướng mắc khi áp dụng
chế độ công chức đối với nhân lực khoa học, công nghệ; tạo cơ chế quản lý nhân
lực khoa học, công nghệ phù hợp, phát huy được tính linh hoạt, sáng tạo và hiệu
quả trong hoạt động khoa học, công nghệ. Những khó khăn sẽ là: thay đổi nhận
thức cũng như tâm lý của người làm nghiên cứu khoa học, công nghệ cũng như toàn
xã hội; không đảm bảo được sự ổn định công việc cũng như thu nhập của lực lượng
15
nghiên cứu khoa học; khó khăn trong công tác tổ chức và quản lý; khó khăn trong
đánh giá năng lực, chất lượng và hiệu quả lao động; khó khăn trong xây dựng bảng
lương và chính sách thu nhập với lao động khoa học, công nghệ.
Ở một góc nhìn khác, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Các giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của Phạm Văn Quý, Viện Kinh tế Việt Nam thuộc Viện Khoa học xã hội
Việt Nam, 2005, đã trình bày và phân tích rất cụ thể thực trạng và các giải pháp phát
triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đồng thời đưa ra các giải pháp đổi mới cơ
chế và tổ chức quản lý nguồn lực con người trong hoạt động khoa học, công nghệ
nhưng lại không đề cập đến những bất cập trong quản lý nhân lực khoa học, công nghệ
và việc cần phải phân loại nhân lực khoa học, công nghệ theo chế độ viên chức để quản
lý và phát huy hơn nữa nhân lực khoa học, công nghệ đáp ứng sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với xu thế chung của xã hội.
Luận án Tiến sĩ kinh tế Giải pháp phát triển nhân lực Khoa học và Công
nghệ ở Hải Phòng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Phạm Văn Mợi, năm
2010, đã hệ thống kiến thức về nhân lực, nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng
lý lại có cách nhìn nhận khác nhau, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, đã đề
cập đến một loạt các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ viên chức ở Việt Nam
hiện nay. Về mặt lý luận đó là các vấn đề: tổng quan các quy định của pháp luật về
viên chức qua từng thời kỳ; khái niệm viên chức trong các văn bản pháp luật Việt
Nam phản ánh sự thay đổi về cách nhìn, cách đánh giá; quan điểm chỉ đạo của Đảng
và những yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng, quản lý đội ngũ viên chức ở nước ta
hiện nay. Về thực tiễn, các nghiên cứu xoay quanh một số vấn đề liên quan đến
quyền, nghĩa vụ của viên chức, những việc viên chức không được làm; việc tuyển
dụng, bổ nhiệm, sử dụng viên chức. Vấn đề sử dụng và quản lý viên chức ở các lĩnh
vực y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ cũng được các tác giả phân tích kĩ và đưa
ra giải pháp cụ thể.
Tác giả Trần Anh Tuấn đã giới thiệu phạm vi điều chỉnh và các nội dung cơ
bản của dự thảo Luật viên chức, tác giả Đặng Đình Luyến đưa ra bình luận, góp ý
17
về dự thảo Luật viên chức, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và cộng
đồng, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất,
trình độ, năng lực, khắc phục những tồn tại và hạn chế của thể chế quản lý viên chức.
Đây là những nghiên cứu quan trọng cho sự ra đời của Luật viên chức hiện nay.
Đối với vấn đề quản lý viên chức khoa học, công nghệ hiện nay, nghiên cứu
Việc sử dụng và quản lý viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ khoa học
và Công nghệ của PGS.TS. Đoàn Năng, đã tổng quan thực trạng đội ngũ viên chức
thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ nước ta, trách nhiệm quản lý đội ngũ viên chức
khoa học, công nghệ trên cả nước nói chung và ở Bộ Khoa học và Công nghệ nói
riêng. Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị về các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và
sử dụng đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ở Bộ Khoa học và Công
nghệ. Thực tế quản lý và sử dụng đội ngũ viên chức khoa học, công nghệ nước ta
trong những năm gần đây đã có nhiều đổi mới, đi vào nề nếp hơn, tuy nhiên vẫn còn
tồn tại một số những bất cập: trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học của viên
chức chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và hội
nhập quốc tế; cơ cấu đội ngũ viên chức còn có điểm chưa cân đối; công tác bồi
chức, giữa viên chức với người lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập chưa
rõ ràng; còn nhiều vấn đề mà pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh, chẳng hạn việc
quy định thế nào là đơn vị sự nghiệp công lập và thống nhất việc phân loại đơn vị
sự nghiệp công lập; việc thi tuyển viên chức tính khách quan và minh bạch chưa
cao, chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng đầu vào cũng như chưa tuyển dụng được
người tài cho đơn vị sự nghiệp công lập. Tác giả cũng cho rằng chế độ thử việc đối
với viên chức hiện nay chưa hợp lý; còn vướng mắc trong việc chuyển đổi từ viên
chức sang công chức; việc nâng ngạch cho viên chức hiện nay cũng còn nhiều điểm
bất cập, nặng về giải quyết chế độ, chính sách hơn là gắn với cơ cấu ngạch và nhu
cầu của đơn vị; chế độ lương và đãi ngộ đối với viên chức hiện nay chưa phù hợp,
chưa bảo đảm cuộc sống của viên chức trong bối cảnh kinh tế thị trường… Từ
những đánh giá đó, tác giả đã có những kiến nghị bước đầu về công tác tuyển dụng,
bổ nhiệm và sử dụng viên chức. Vấn đề quan trọng nhất mà tác giả đề xuất đó là
cần thay đổi cơ chế quản lý viên chức gắn với đề cao chuyên môn, nghiệp vụ; đổi
mới đánh giá viên chức theo hướng hoàn thành công tác chuyên môn với các tiêu
chí đặc thù của ngành, lĩnh vực; đổi mới chế độ tiền lương và đãi ngộ đối với viên
chức cân bằng với thị trường lao động.
Có thể thấy rằng, hội thảo khoa học “Pháp luật về viên chức” là một bước
nhấn trong việc nghiên cứu về chế độ viên chức, là cơ sở lý luận và thực tiễn quan
trọng cho sự hình thành các văn bản pháp luật, các chính sách. Đối với đề tài Hội
thảo là tư liệu tham khảo quan trọng khi tiếp cận nghiên cứu đối tượng viên chức
nói chung và viên chức khoa học, công nghệ nói riêng. Tuy nhiên, vấn đề quản lý
đội ngũ viên chức thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ mới chỉ được tác giả Đoàn
Năng đề cập một cách khái quát, đòi hỏi cần phải nghiên cứu sâu hơn nữa.
Một số công trình nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề đào tạo và quản lý nguồn
nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới.
Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy, mỗi quốc gia cần chọn cho
mình những mô hình phát triển nhân lực phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã
hội thực tế của mình, trong đó nhấn mạnh đến nguồn nhân lực doanh nghiệp. Cụ
thể, sách đã đưa ra một số luận giải lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực doanh
tác giữa phát triển nhân lực khoa học, công nghệ đối với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, mà chưa thấy được vấn đề cốt lõi là cần có cơ chế, chính
sách, thể chế quản lý tốt nguồn lực lao động này thì mới có thể phát triển được khoa
học, công nghệ đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội.
Về mặt thực tiễn, các tác giả đã đi sâu phân tích hiện trạng nhân lực khoa
học, công nghệ ở Việt Nam; những chính sách có liên quan đến phát triển nhân lực
khoa học, công nghệ của Đảng và Nhà nước ta; những tác động của hệ thống chính
sách và những bất cập (bất cập trong đào tạo, tuyển dụng và sử dụng). Từ đó đưa ra
các giải pháp là cần có các chính sách cụ thể quy định các vấn đề về đào tạo nguồn
nhân lực, sử dụng nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm phát triển nguồn
nhân lực khoa học, công nghệ. Muốn phát triển nguồn nhân lực khoa học, công
21
nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển, Đảng và Nhà nước ta cần nhanh chóng khắc phục
những bất cập trong hệ thống chính sách cũng như những cơ chế, biện pháp thực
hiện các chính sách phát triển nhân lực khoa học, công nghệ.
Một số công trình khoa học đã đi sâu phân tích thực trạng, khảo sát một cách
hệ thống các tư tưởng, học thuyết Đông, Tây về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; các
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng
sản Việt Nam cũng như các chính sách của Nhà nước ta về trí tuệ nói chung và
nguồn lực trí tuệ Việt Nam nói riêng; nghiên cứu về nhận thức và thực tiễn xây
dựng, phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam qua các thời kỳ; cập nhật số liệu về các
vấn đề cần giải quyết cũng như các xu hướng vận động cần thúc đẩy nhằm hình
thành và phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam; đề xuất các quan điểm và giải pháp
nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam và xác
định rõ: để có một nguồn lực khoa học, công nghệ tốt cần phải tập trung giải quyết
hai vấn đề: đầu tư thỏa đáng kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ khoa học,
kĩ thuật và đầu tư thỏa đáng cho nghiên cứu và ứng dụng. Các giải pháp được đưa
ra là: có chiến lực và chính sách đào tạo nhân tài và dành ngân sách thỏa đáng để
thực hiện hiệu quả; đầu tư trang thiết bị tối ưu cho đào tạo bồi dưỡng nhân lực một
cách tập trung, không dàn trải như hiện nay, cụ thể là chọn ở mỗi lĩnh vực một