II
Đề tài
Thị trường chứng khoán Việt
Nam và giải pháp thúc đẩy sự
phát triển của thị trường chứng
khoán
ề
t
à
i
6
Phần 1: Lý thuyết chung về chứng khoán và thị trường chứng
khoán
6
I. Chứng khoán
6
1.
Khái niệm
6
2.
Một số loại chứng khoán cơ bản
6
2.1 Cổ phiếu 6
2.2 Trái phiếu 7
2.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán 8
II.
Th
ị
tr
ư
3.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán 13
4. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng
khoán
15
4.1 Nguyên tắc công khai 15
4.2 Nguyên tắc đấu giá 15
4.3 Nguyên tắc trung gian 16
5. Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
16
5.1 Căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn 16
5.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường 17
5.3 Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường 18
Ph
ầ
n 2: Th
ị
tr
ư
ờ
ng ch
ứ
ng kho
á
n Vi
ệ
t Nam
18
I. Khái quát chung về thị trường chứng khoán Việt Nam
18
Cổ phần hoá doanh nghiệp 26
1.1 Giải pháp cho các DN còn gặp khó khăn về tài chính và quản
lý
26
1.2 Giải pháp cho vấn đề lao động dôi dư trong DN sau khi tiến
hành CPH
29
1.3 Giải pháp cho những tồn tại trong vốn để xác định giá trị
doanh nghiệp
30
2.
Đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu 32
2.1 Cải cách quy trình đấu thầu trái phiếu 32
2.2 Xây dựng một thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) chuyên
biệt
33
3.
Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý chứng khoán 34
4.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật 34
5.
Các tổ chức trung gian 35
Kết luận
36
B
ả
còn quá yếu kém. Cuôc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á 1997 đã chỉ
ra điều đó rất rõ. Trong khi các nước trong khu vực bị ảnh hưởng rất nặng nề từ
cuộc khủng hoảng đó thì dường như chúng ta vẫn không có một chút ảnh
hưởng gi đáng kể, tỗc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm vẫn đạt được ở một mức
khá cao. Điều đó phải chăng là do chúng ta đã quản lý tốt, nền kinh tế chúng ta
đã đủ mạnh nên không bị ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng. Nhưng sự thật
không phải như vậy mà do một nguyên nhân rất đơn giản đó là do nền kinh tế
của chúng ta còn quá ít có quan hệ với các nền kinh tế khác nên dù trong khu
vực bị khủng hoảng thì chúng ta cũng không bị ảnh hưởng quá lớn.
Trong một thế giới mà xu hướng toàn cầu hoá như hiện nay đang diễn ra
rất nhanh thì thử hỏi một nền kinh tế có thể thật sự phát triển nếu không có
quan hệ kinh tế với các nền kinh tế khác? Dường như nhận ra điều đó kể từ sau
cuộc khủng hoảng 1997 và sang đầu năm 2000 đảng và nhà nước ta đã thực
hiện nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước
ngoài, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước và khu vực trên thế giới để phục
vụ mục tiêu phát triển kinh doanh.
Để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh doanh thì nhà nước đã thực hiện
nhiều biện pháp để phát triển các thị trường. Trong đó thị trường vốn là một
trong những thị trường hết sức quan trọng để huy động vốn cho các mục tiêu
phát trỉên kinh tế xã hội. Một trong những kênh huy động vốn mà nhà nước đã
tổ chức là thị trường chứng khoán với việc mở trung tâm giao dịch chứng
khoán tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2000. Từ đó đến nay thì thị
trường chứng khoán đã có một số đóng góp vào sự phát triển kinh tế nói chung.
Tuy nhiên sự phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn gặp nhiều khó
khăn, nếu không có biện pháp khắc phục thì thậm chí nó còn là vật cản cho sự
phát triển kinh tế. 5
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Phần 1: Lý thuyết chung về chứng khoán và thị trường chứng
khoán
I. Chứng khoán
1 Khái niệm
Chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ các chứng chỉ đầu tư hoặc cho vay
vốn nhằm thu được trong tường lai một khoản lợi tức.
Chứng khoán bao gồm 3 loại chính sau
Chứng khoán vốn: cổ phiếu
Chứng khoán nợ: trái phiếu
Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán: chứng quyền, chứng chỉ thụ
hưởng
2 Một số loại chứng khoán cơ bản
2.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng chỉ cổ phần xác nhận sự góp vốn của người nắm giữ
cổ phiêu vào công ty cổ phần và xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
nắm giữ cổ phiếu với tài sản và thu nhập của công ty
Cổ phiếu được chia làm hai loại chủ yếu sau
Cổ phiếu ưu đãi có đặc điểm là thường có mức cổ tức cố định. Người
chủ của cố phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường.
Nếu số lãi chỉ đủ trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ
không nhận được cổ tức kì đó. Một vấn đề rất quan trọng trong việc phát hành
cổ phiếu ưu đãi là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu
vốn cho công ty. Tuy nhiên không phải công ty nào cũng được
quyền phát hành trái phiếu mà chỉ có những công ty lớn có uy tín
trên thị trường
Trái phiếu chính phủ: do chính phủ phát hành nhằm mục đích
huy động vốn phục vụ cho các mục xây dựng các công trình hay
tài trợ cho các dự án của chính phủ
7
Trái phiếu chính quyền địa phương do chính quyền địa phương
phát hành nhằm mục đích tài trợ cho dự án của chính quyền địa
phương
Căn cứ tính chất chuyển đổi của trái phiêu
Trái có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
Căn cứ cách thức trả lãi
Trái phiếu có lãi suất cố định: lãi suất được ghi ngay trên mặt trái
phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn cuả nó. Việc thanh
toán lãi trái phiếu cũng thường được qui định rõ ràng
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu
được thay đổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị
chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn như giá bán lẻ.
Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được
bán theo nguyên tắc chiết khấu. Tiền thưởng cho việc sở hữu trái
phiếu nằm dưới dạng lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu
nhập (nó là phần chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa- mệnh giá
trái phiếu và giá mua).
2.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán
Gồm các loại chứng khoán sau
kinh doanh tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định
đời sống dân cư và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Thông qua thị trường
CK,chính phủ và chính quyền địa phương cũng huy động các nguồn vốn cho
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.Thị trường chứng khoán đóng vai trò tự động
điều hoà vốn giữa nơi thừa sang nơi thiếu vốn. Vì vậy, nó góp phần giao lưu và
phát triển kinh tế. Mức độ điều hoà này phụ thuộc vào quy mô hoạt động của
từng thị trường chứng khoán. Chẳng hạn, những TTCK lớn như Luân Đôn, Niu
óc , Paris, Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài khuôn khổ
quốc gia vì đây là những TTCK từ lâu được xếp vào loại hoạt động có tầm cơ
quốc tế. Cho nên biến động của thị trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế
của bản thân nước sở tại, mà còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nước
khác.
2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
9
Bên cạnh các thị trường mà từ trước đén giờ người dân hay đầu tư như
thị trường bất động sản hay hình thức đầu tư qua gửi tiền vào ngân hàng thì từ
khi có thị trường chứng khoán nó trở thành một trong những môI trường đầu tư
mới cho người dân, giúp họ có nhiều cơ hội lựa chọn hình thức đầu tư hơn. Hơn
thế nữa thị trường chứng khoán với các hàng hoá là chứng khoán hết sức đa
dạng cũng làm tăng lựa chọn đầu tư cho công chúng
2.3 Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi
chứng khoán thành tiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh
khoản bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và năng động.
Không chỉ vậy mà nhờ có thị trường chứng khoán cung cấp tính thanh khoản
mà các chứng khoán do công ty phát hành dễ dàng được chấp nhận trên thị
trường do nó có thể đựoc mua đI bán lại dễ dàng
trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ
3.2 Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia làm 2 loại là nhà đầu tư cá
nhân và các nhà đầu tư là tổ chức
Nhà đầu tư là các cá nhân là người đầu tư riêng lẻ trên thị trường chứng
khoán nhằm mục đích sinh lời từ khoản đầu tư
Nhà đầu tư là các tổ chức thường xuyên nghiên cứu thị trường và các loại
chứng khoán để đưa ra các quyết định đầu tư với số lượng lớn. Ưu điểm của
hình thức đầu tư này là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư
được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm. Một bộ phận quan trọng của
các tổ chức đầu tư là các công ty tàI chính. Ngoài ra còn có các công ty chứng
khoán, ngân hàng thương mại
3.3 Các công tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
3.3.1 Công ty chứng khoán
Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, tự
doanh, môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán.
3.3.2 Quỹ đầu tư chứng khoán
Các quỹ này hoạt động trên cơ sở tập trung một số vốn lớn thông qua các
11
chủ sở hữu quỹ hay huy động trên thị trường thông qua phát hành chứng chỉ
quỹ đầu tư. Trên cơ sở số vốn đó và với phân tích của các chuyên gia chứng
khoán quỹ đầu tư chứng khoán với lô lớn
3.3.3 Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính khác cũng có thể trở thành các tổ chức kinh
doanh chứng khoán khi nó mua chứng khoán nhằm mục đích đầu tư sinh lời.
Chẳng hạn như các ngân hàng mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, hơn
quản lý cũng giống như hình thức công ty cổ phần nhưng trong thành phần hội
đồng quản trị có một số thành viên do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào,
giám đốc điều hành SGDCK do ủy ban chứng khoán bổ nhiệm.
Thành viên của SGDCK có thể là cá nhân hoặc các công ty chứng khoán
(còn gọi là công ty môi giới chứng khoán). Để trở thành thành viên của một
SGDCK, công ty phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép
hoạt động, phải có số vốn tối thiểu theo quy định và có những chuyên gia kinh
tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán, ngoài ra
công ty còn phải thoả mãn yêu cầu của từng sở giao dịch riêng biệt. Một công
ty chứng khoán có thể là thành viên của hai hay nhiều SGDCK, nhưng khi đã là
thành viên của SGDCK (thị trường chứng khoán tập trung) thì không được là
thành viên của thị trường phi tập trung (thị trường OTC) và ngược lại.
3.4.3 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo
vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán
nói chung. Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:
- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định
pháp luật về chứng khoán.
- Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên.
- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán.
3.4.4 Các tổ chức ký gửi và lưu kí chứng khoán
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ
các chứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ.
3.4.5 Các công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Các công ty này cung cấp mạng máy tính và điều hành, sửa chữa mạng
máy tính cho các sở giao dịch, các công ty chứng khoán….
3.4.6 Các tổ chức tài trợ chứng khoán
3.4.7 Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Các tổ chức này là các công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình
chứng khoán trong qua trình phát hành
5.1.2 Thị trường cấp 2: là thị trường mua bán các chứng khoán đã phát
hành. Khi một cá nhân mua chứng khoán ở thị trường cấp 2 thì cá nhân, người
vừa bán nó nhận được tiền bán chứng khoán nhưng công ty phát hành chứng
14
khoán lần đầu tiên không thu được tiền nữa. Một công ty mua được vốn chỉ khi
chứng khoán đó được bán lần đầu trên thị trường cấp 1. Việc mua bán ở thị
trường cấp 2 thường được thực hiện thông qua các công ty môi giới
Thị trường cấp 2 thực hiện 2 chức năng sau
Thứ nhất nó tạo điều kiện để bán chứng khoán nhằm thu tiền mặt tức là
nó đảm bảo cho những chứng khoán này có tính lỏng thêm. Tính lỏng thêm của
những chứng khoán làm chúng được ưa chuộng hơn và như thế là dễ dàng hơn
cho công ty phát hành bán chúng ở thị trường cấp 1
Thứ hai thị trường cấp 2 xác định giá của chứng khoán mà công ty phát
hành bán ở thị trường cấp 1. Những hãng mua các chứng khoán ở thị trường
cấp một sẽ chỉ thanh toán cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị
trường cấp 2 sẽ chấp nhận nó
5.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường cũng được chia làm 2 loại, đây cũng có thể coi là cách phân loại của
thị trường cấp 2
5.2.1 Thị trường tập trung ( sở giao dịch chứng khoán )
Là nơi mà người mua và bán (hoặc các đại lý môI giới của họ) gặp nhau
tại một vị trí trung tâm để tiến hành mua bán. Ví dụ như thị trường giao dịch
chứng khoán Mỹ và NewYork là nơI giành cho cổ phiếu và phòng thương mại
Chicago giành cho hàng hoá là ví dụ về giao dịch có tổ chức. Như trên trình
bày thì sở giao dịch chứng khoán hiện nay có 3 hình thức tổ chức
5.2.2 Thị trường phi tập trung ( thị trường OTC - over the counter
1 Sự cần thiết phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Do chúng ta xuất phát điểm từ 1 nước nghèo nhưng kể từ sau đổi mới
1986 nền kinh tế đã có nhưng bước chuyển biến rất nhanh do đó nhu cầu vốn
đầu tư tẳng cao. Trong khi đó, quá trình CNH, HĐH lại đòi hỏi ngay một khối
lượng khổng lồ vốn dài hạn: trong năm năm 1991-1995, để có tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân 2,8% năm cần 18,6 tỉ USD; thời kì 1996-2000, để đạt
được tốc độ tăng trưởng 9 - 9,5% năm thì dự tính vốn đầu tư đã tăng hơn 2,2
lần, khoảng 40 - 45 tỉ USD; với quy mô như vậy ước tính đến năm 2020 vốn
đầu tư là 500 - 600 tỉ USD. Do đó việc phát triển thị trường chứng khoán là 1
trong những giải pháp huy động vốn cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hôi
đồng thời giúp nhân dân có thể mở rộng danh mục đầu tư.
Ngoài ra sự hình thành thị trường chứng khoán còn có các lý do sau
Sự hình thành của thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn
cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh
doanh trong đIều kiện nên kinh tế Việt Nam đang ngày cang phát triển và mở
rộng hội nhập như hiện nay
Dưới góc độ vĩ mô thì sự hình thành thị trường chứng khoán tạo ra một
thị trường tài chính hoàn thiện hơn với chúng ta đồng thời nâng cao hiệu quả
hoạt động cuả thị trường tàI chính
Một thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả là cơ sở giúp hoạch
định các chính sách kinh doanh trong tường lai, đưa ra các dự báo chính xác
đồng thời giúp nhà nước quản lý vĩ mô với đầu tư thông qua các chính sách với
thị trường chứng khoán. Bởi trong một nền kinh tế thị trường chứng khoán là
thị trường phát triển bậc cao nhất
2 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn khá nhỏ khi so sánh với vá tiêu
chuẩn của Đông Nam á
24000
250
30
5.9
Khối lượng mua bán 3641
19028
35798
28024
72894
82300
Nguồn: UBCKNN. Đơn vị tiền tệ tính bằng nghìn tỷ
Với 2 trung tâm giao dịch chính thức ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh hoạt động như các đơn vị kinh doanh trực thuộc uỷ ban chứng khoán nhà
nước (UBCKNN). Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
bắt đầu hoạt động tháng 7 năm 2000 với chỉ 2 công ty yết danh. Đến giữa năm
2005 công ty này chỉ có 30 công ty và 249 trái phiếu phát hành cùng với 1 quĩ
đóng được yêt danh trên thị trường vào cuối năm 2005. Tổng lượng vốn trên thị
trường 5900 tỷ với chứng khoán yết danh và 33700 tỷ tráI phiếu phát hành và
300 tỷ với quỹ đầu tư. Trung tâm giao dịch ở Hà Nội được thành lập thang 3
năm 2005. các công ty có thể được yết danh trên thị trường giao dịch chứng
khoán Hà Nội nếu có ít nhất 5 tỷ đồng vốn pháp định và 50 cổ đông và làm ăn
có lãi trong năm trước.
Hoạt động của thị trường thứ cấp đối với các trái phiếu yết danh vẫn
Hiện tại chính phủ đang nỗ lực thúc đẩy hoạt động của thị trường chứng
khoán chính thức. Tháng 8/2005 chính phủ đã chỉ thị các doanh nghiệp nhà
nứơc được cổ phần hoá nhanh chóng yết danh tại 2 trung tâm giao dịch chứng
khoán. Ngoài ra thị chính phủ cũng đã cam kết hỗ trợ thành lập và phát triển
các quỹ đầu tư trong nước và nước ngoài. Tháng 9/2005 nhóm các tổ chức và
cá nhân nước ngoàI có thể giữ tới 49% tổng số cổ phần của một công ty so với
30% như trước đây.Mặc dù đây là những bước tiến đáng khích lệ trong thời
gian gần đây nhưng để hiểu tại sao thị trường OTC lại phát đạt trong khi thị
trường chính thức lại suy yếu hơn cần xem xét trên 3 khía cạnh chủ yếu sau:
Phạm vi và tính chất của các công ty có chứng khoán được giao dịch, mức độ
công khai thông tin về tình hình hoạt động của các công ty này, các nguyên tắc
chỉ đạo với trung gian thị trường.
19
(Theo báo cáo phát triển Việt Nam 2006)
II. Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam
1 Thuận lợi
Có thể nói thuận lợi đầu tiên và cũng là một ưu điểm ở Việt Nam đó là có
một nền chính trị ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty phát triển ổn
định. Hơn nữa nền kinh tế nước ta đang trong thời gian cất cánh, tức là một nền
kinh tế đang trên đà phát triển với tốc độ tăng trưởng thực tế trong những năm
gần đây bình quân là hơn 8% tạo những đIều kiện vĩ mô cho thị trường chứng
khoán phát triển và việc phát triển thị trường chứng khoán cũng là một yêu cầu
cần thiết với sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
Thuận lợi thứ hai với chúng ta đó là chính sách cổ phần hoá các doanh
nghiệp của nhà nước. Sau một thời gian dàI nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt
động không thật sư hiệu quả và để đáp ứng yêu cầu nền kinh tế thị trường thì
khoán
Khó khăn thứ hai đối với thị trường chứng khoán đó là không có một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh. Một số văn bản pháp quy, các luật có liên quan, chi
phối hoạt động hoặc có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán đã ban hành
nhưng trong phần nội dung còn nhiều bất cập, mâu thuẫn với hệ thống pháp lý
về thị trường chứng khoán. Luật về thị trường chứng khoán vẫn còn trong dự
thảo
Khó khăn thứ ba cho sự phát triển của thị trường chứng khoán là mới
thành lập được khoảng 7 năm, đây là một quãng thời gian tương đối dài nhưng
những nhà đầu tư tham gia trên thị trường chứng khoán còn nhiều người chưa
có đầy đủ kiến thức về chứng khoán, do đó mà dẫn đến một quá trình đầu tư
theo phong trào. Điều đó dẫn đến việc thị trường không thật sự phản ánh đúng
chất lượng của mỗi loại cổ phiếu và trái phiếu
Có thể nói thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều nhiều khó khăn
bên cạnh những thuận lợi khách quan. Do đó chúng ta cần chuẩn bị và tạo ra
mọi đIều kiện để thị trường chứng khoán cỏ thể phát triển lành mạnh đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước
21
III. Một số nhận định của các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán
Việt Nam
Hầu hết các nhà đầu tư nhận định rằng thị trường chứng khoán Việt Nam
hiện nay qua ít hàng hoá và bị khống chế bởi sự quản lý hành chính của nhà
nước, nên chăng giảm nhẹ những chỉ tiêu và điều kiện để được niêm yết trên thị
trường chứng khoán, có như vậy thị mới tạo ra được nhiều hàng hoá cho thị
trường, từ đó tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư lựa chọn hàng hoá tốt nhất
cho mình và phân tán rủi ro
Nhận định thứ hai khá phổ biến đó là tiến trình xây dựng các sở giao dịch
thị trường chứng khoán sụp đổ.
Một nhân định khác về phía các nhà đầu tư là họ đầu tư nhiều lúc là theo
phong trào, không có sự phân tích về chứng khoán do đó cũng dẫn đến tình
trạng giá của một loại chứng khoán nào đó lên cao mà không phản ánh đúng
tình trạng kinh doanh của công ty phát hành
Hay tình trạng các quan chức tài chính còn can thiệp qua sâu và thị
trường. Lấy một trường hợp ví dụ như sau khi ông phó chủ tịch ủy ban chứng
khoán nhà nước tuyên bố kể từ nay thị họ sẽ không can thiệp biện pháp hành
chính vào thị trường chứng khoán nữa nhưng ngay sau đó chính phủ phát hành
công trái giáo dục kèm theo văn bản quyết định :” cấm mọi tổ chức, cá nhân
mua lại công trái giáo dục này dưới 90% mệnh giá sau 1 năm, 100% sau 2 năm
do ông bộ trưởng tài chính ký”. Giá cả trên thị trường chứng khoán là “thuận
mua vừa bán” chứ đâu phải “cấm” hay “không cấm”
Có thể thấy theo nhận định của các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán
thì thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều khuyết tật cần khắc phục bên
cạnh những thành công đã đạt được. Do đó cần có những biện pháp cần thiết từ
phía chính phủ và các bên tham gia thị trường chứng khoán cho sự phát triển
của thị trường để thật sự đây là một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh
nghiệp nói chung và nền kinh tế nói riêng.
IV. Một số giải pháp và ý kiến cá nhân để thúc đẩy sự phát triển
của thị trường chứng khoán Việt Nam
1 Cổ phần hoá doanh nghiệp
23
Cổ phần hoá doanh nghiệp là một biện pháp quan trọng để tăng tính tự
chủ của doanh nghiệp đồng thời đây là đIều kiện để phát triển thị trường chứng
khoán. Thị trường chứng khoán cuả Việt Nam đang trong thời gian phát triển,
hàng hoá trên thị trường không nhiều, chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư của nhà đầu
dụng các biện pháp sáp nhập với các đơn vị khác rồi CPH, đấu thầu cho thuê,
bán cho cán bộ công nhân viên chức trong và ngoaì DN, thực hiện biện pháp
khoán hoặc cho phá sản.
Những biện pháp nói trên có áp dụng cho nhóm 4 theo tôi là hợp lý. Tuy
nhiên, nhiều biện pháp trong số đó như khoán kinh doanh, cho thuê vẫn còn
nhiều mới mẻ. Do đó cơ sở pháp lý cho chúng vẫn chưa hoàn thiện. Song nếu
các biện pháp khoán kinh doanh cho thuê mà thành công thì đây sẽ được coi là
những giải pháp quá độ có nhiều tác dụng thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả
SXKD của các DNNN để tiến tới CPH.
Còn đối với các DNNN gặp khó khăn về tài chính thì việc thành lập quỹ
hỗ trợ CPH sẽ là một giải pháp quan trọng. Nhiệm vụ và vai trò của quỹ CPH
không chỉ giới hạn ở việc hỗ trợ cho các DN gặp khó khăn về tài chính. Tuy
nhiên hỗ trợ tài chính cho các DN vẫn là một trong những chức năng chính của
quỹ này.
Nguồn vốn của quỹ có thể hình thành từ 3 nguồn chính.
- Tiền thu từ việc bán cổ phiếu thuộc vốn nhà nước tại DN.
- Vốn trợ cấp từ NSNN.
- Vốn tài trợ lần đầu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (chủ
yếu là vốn vay ưu đãi).
Ngoài ra còn có thể là những khoản thu từ việc thanh lí tài sản trong
DNNN khi tiến hành CPH.
Hoạt động hỗ trợ của quỹ có thể được thực hiện dưới một số hình thức sau:
- Kế thừa hoặc mua lại nợ của DN.
- Cho DN vay với cơ chế và lãi suất ưu đãi. Như vậy, quỹ CPH cũng góp
phần giải quyết vấn đề nợ đọng trong nhiều DNNN hiện nay.
Sự hỗ trợ của quỹ CPH sẽ có tác dụng giải quyết nhiều khó khăn cho DN,
từ đó giúp DN nâng cao hiệu quả SXKD, tiến tới làm ăn có lãi. Có thể nói “làm
ăn có lãi” là điều kiện rất quan trọng, nhiều khi là nhân tố có tính quyết định
cho sự thành công của việc CPH nhiều DN.