Điều tra kinh tế xã hội của các hộ gia đình khai thác hải sản ở phường vĩnh nguyên, vĩnh trường, xương huân - Pdf 20


1
CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT

KINH TẾ XÃ HỘI

2
I.1. Một số vấn đề về giám sát kinh tế xã hội (GSKTXH):
I.1.1. Khái niệm:
GSKTXH đưa ra một bản hướng dẫn đơn giản, được tiêu chuẩn hóa về
việc làm thế nào để sắp đặt một chương trình giám sát kinh tế xã hội tại một khu
vực quản lý bờ biển ở Đông Nam Á. Bản hướng dẫn đưa ra một danh mục ưu tiên
những chỉ tiêu kinh tế xã hội hữu dụng nhất cho việc quản lý vùng bờ cũng như
những câu hỏi cần thiết cho việc thu thập dữ liệu được tiến hành để:
- GSKTXH thiết lập một phương pháp luận đơn giản, tiêu chuẩn cho việc
thu thập thường xuyên những dữ liệu kinh tế xã hội cơ bản hữu ích cho việc quản
lý vùng bờ ở mức độ khu vực.
- Cung cấp một cơ sở cho một hệ thống khu vực, qua đó những dữ liệu cấp
độ vùng có thể bổ sung vào cơ sở dữ liệu của quốc gia, vùng và quốc tế để so
sánh.
- GSKTXH cũng muốn cung cấp cho những nhà quản lý, mà đa phần
trong số họ đến từ các quá trình đào tạo các kiến thức sinh vật học, thấu hiểu
được “kinh tế xã hội” nghóa là gì, các thông tin kinh tế xã hội có thể hữu dụng

(chẳng hạn bố trí phỏng vấn như thế nào).
Giám sát kinh tế xã hội dựa trên GSKTXH sẽ không cung cấp đầy đủ các
câu trả lời khi nó là những hướng dẫn đơn giản và tiêu chuẩn hóa.
I.1.5. Vai trò của GSKTXH:
I.1.5.1. Nhận biết những nguy cơ, vấn đề, giải pháp và cơ hội.
Khi việc thu thập như là một phần của chương trình giám sát đang tiến
hành, thay vì đánh giá một lần, những thông tin kinh tế xã hội có thể được sử
dụng để nhận biết các xu hướng thay đổi trong nhân khẩu cộng đồng và hộ gia
đình, các hoạt động vùng bờ và sự nhận thức của con người về những vấn đề
vùng bờ và cộng đồng. Những thông tin này có thể được dùng để nhận biết các
nguy cơ, vấn đề, giải pháp và cơ hội cho việc quản lý nguồn lợi vùng bờ. Ví dụ,
một sự gia tăng trong số người nhập cư và khu vực có thể biểu thò nguy cơ tiềm tàng từ
việc đánh cá quá mức và sử dụng đất phát triển, chẳng hạn như chặt bỏ cây đước.

4
I.1.5.2. Nhận biết tầm quan trọng, giá trò, ý nghóa văn hóa của nguồn lợi và các
cách sử dụng chúng.
Các thông tin kinh tế xã hội có thể được sử dụng để biểu thò tầm quan
trọng và giá trò của nguồn lợi vùng bờ và dòch vụ - cả tự nhiên và nhân tạo -, như
là rạn san hô, rừng ngập mặn và truyền thống canh tác, cho toàn thể xã hội, các
nhóm người liên đới và người ra quyết đònh, những người mà có thể giúp đưa ra
những hỗ trợ lớn hơn cho chương trình quản lý vùng bờ. Ví dụ, việc hiểu biết giá
trò của các rạn san hô có thể được sử dụng để đònh giá lợi ích và giá của sự phát
triển thay thế, các chương quản lý và bảo tồn ( chẳng hạn quyết đònh cho phép
lặn trong khu vực có thể dựa trên những công việc được mong đợi và thu nhập
cho cộng đồng từ các hoạt động du lòch).
I.1.5.3. Đánh giá những tác động tiêu cực và tích cực của các phương pháp

và nhận thức thích hợp.
Thông tin kinh tế xã hội có thể được dùng để hướng dẫn sự chú ý, quan
tâm và tham gia của các quỹ tín dụng vào trong hoạt động quản lý. Nó cũng còn
được sử dụng để lập kế hoạch và điều khiển các chương trình nhận thức và đào
tạo cho việc quản lý tài nguyên vùng bờ. Ví dụ, nhận biết của cộng đồng và
những tổ chức liên đới trong khu vực có thể giúp đỡ các nhà quản lý vùng bờ
trong việc đảm bảo rằng các ý kiến đóng góp của các bên liên đới có cơ hội để
tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên bờ biển.
I.1.5.6. Thẩm đònh và lập chứng từ đánh giá thực trạng về hoàn cảnh kinh tế xã
hội trong khu vực, những biến động của cộng đồng và nhận thức của các bên
liên đới.
Việc thu thập và phân tích các dữ liệu kinh tế xã hội là rất quan trọng để
kiểm tra và đánh giá một cách khoa học các điều kiện của cộng đồng. Với bất kỳ
chương trình quản lý nguồn lợi tự nhiên nào cũng phải có những hiểu biết rộng
rãi về các điều kiện của đòa phương. Ví dụ, có sự thống nhất ý kiến về tình trạng
bò tàn phá của rừng ngập mặn. Nhà quản lý cần nghiên cứu dữ liệu để chứng
minh và đưa ra dẫn chứng cho tình trạng đó. Nếu không có bằng chứng khoa học,
đó chỉ là ý kiến lý thuyết. Việc đánh giá và văn bản hóa về tương lai của mọi
người cũng quan trọng như các điều kiện kinh tế xã hội, những việc rất dễ dàng
bò thành kiến do những lo lắng và giá trò của mọi người. Bằng sự thực hiện một
nghiên cứu khách quan, có hệ thống, nhà quản lý có thể xác đònh được thực trạng

6
kinh tế xã hội thực sự của đòa phương, bao gồm có việc sử dụng tài nguyên, sự
biến động của cộng đồng dân cư và nhận thức của các bên liên quan.
I.1.5.7. Lập nét tiểu sử cơ bản của hộ gia đình và cộng đồng.
Việc thu thập thông tin kinh tế xã hội nằm ở giai đoạn bắt đầu của chương
trình quản lý tài nguyên vùng bờ có thể giúp cho nhà quản lý hiểu được cộng
đồng và hộ gia đình và lập hồ sơ làm điều kiện cơ bản cho việc so sánh trong
tương lai. Những thông tin cơ bản này có hữu dụng đặc biệt trong việc vận dụng

Đây là một phương pháp lặp lại được lập đi lập lại trong suốt thời gian để
cập nhật và thêm các thông tin và dữ liệu mới. Nó cũng là phương pháp phải
được vận dụng mềm dẻo như những bước trong việc giám sát kinh tế xã hội
không phải lúc nào cũng phải luôn luôn theo một trình tự. Những thông tin mới có
thể tạo nên những nhu cầu mới, vì thế toàn đội phải xem xét lại quá trình tiến
hành và thay đổi kế hoạch để bổ sung cho tình hình mới.
I.2.3. Quá trình thu thập dữ liệu:
Có 4 phương pháp thu thập dữ liệu chính:
- Dữ liệu thứ cấp.
- Những cuộc phỏng vấn thu thập thông tin chính yếu.
- Phỏng vấn hộ gia đình.
- Quan sát.
Tổng quát là, dữ liệu thứ cấp phải được thu thập trước, theo những cuộc
phỏng vấn thu thập thông tin chính yếu. Phỏng vấn hộ gia đình được sắp xếp để
thu được những dữ liệu hơn về cá nhân hay hộ gia đình trong cộng đồng. Quan sát
tiến hành tiếp tục trong cộng đồng. Toàn đội phải tuân theo những qui tắc hướng
dẫn tuân theo trong suốt quá trình thu thập dữ liệu:
- Chú ý đến những người liên đới và cộng đồng, chẳng hạn như lòch làm
việc, phong tục đòa phương và tôn giáo.
- Ghi nhận những thông tin thành kiến.
- Tế nhò về những vấn đề giới tính.
- Hướng tới những khu vực thiếu khả năng kiểm tra.
- Khéo léo đối với sự khác biệt ngôn ngữ.
- Ghi chép tỉ mỉ .
I.2.3.1. Dữ liệu thứ cấp:
Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu đã được thu thập từ trước và được công bố
dưới dạng này hay dạng khác, bao gồm:

8
- Những tư liệu chính thức và không chính thức.


9
I.2.3.3. Phỏng vấn hộ gia đình:
Những cuộc phỏng vấn hộ gia đình phải nhờ đến các cuộc khảo sát với
những bản câu hỏi có cấu trúc chặt chẽ và những câu hỏi chuẩn xác. Những bản
câu hỏi bao gồm những câu hỏi đặc biệt với những cách trả lời hạn chế (chẳng
hạn có nhiều cách chọn để trả lời, câu hỏi dạng có/không ) để sau này qua số liệu
được lượng hóa có thể dùng một phương pháp thống kê để phân tích.
Những cuộc phỏng vấn hộ gia đình rất quan trọng để hiểu được trạng thái
của từng cá nhân. Chẳng hạn nếu đội muốn hiểu mọi người nghó gì về cách thức
quản lý vùng bờ họ cần phải hỏi một số người. Hầu hết những chỉ tiêu đó đều
nhắm tới nhận thức (chẳng hạn những giá trò phi thò trường hoặc phi sử dụng,
những vấn đề của cộng đồng được nhận thức, những cuộc phỏng vấn hộ gia đình
có lợi thế và nó không cần đến những người được đào tạo cao thực hiện, các bản
câu hỏi tương đối dễ dàng có thể nắm bắt được và đòi hỏi thời gian không nhiều
của người cung cấp thông tin như là các cuộc phỏng vấn. Tuy nhiên các cuộc
phỏng vấn hộ cũng có những nhược điểm, đó là mức độ tương đồng rất hạn chế
và thật khó xác đònh nếu như những người cung cấp thông tin thường cung cấp
những thông tin mà người phỏng vấn muốn nghe và thật khó hỏi được câu hỏi
liên quan đến những vấn đề nhạy cảm.
I.2.3.4. Quan sát:
Trong một số trường hợp dữ liệu có thể được thông qua quan sát. Những
quan sát thường là mô tả được những thuộc tính mà thành viên của đội nhìn thấy
và có được nhờ quan sát một cách kỹ lưỡng và theo dõi môi trường xung quanh.
Chẳng hạn thành viên của đội có thể thu thập được thông tin về các loại vật liệu
được dùng bằng việc quan sát các vật liệu được dùng để làm nhà, mái lợp, sàn,
cửa Quan sát là một phương pháp tốt vì cả đội sẽ học được về cách hoạt động
toàn diện.
I.2.4. Thời hạn giám sát:
Thời gian mất cho mỗi một đợt đánh giá kinh tế xã hội sẽ thay đổi phụ

sát cơ bản vì có một số các chỉ tiêu sẽ được thu thập thường xuyên hơn các chỉ
tiêu khác. Người quản lý vùng bờ cần phải xác đònh tần số thích hợp nhất dựa vào
trạng thái và nhu cầu dữ liệu cần thiết cho việc quản lý. Căn cứ vào những nhu
cầu quản lý vùng bờ các chỉ tiêu có thể cần phải thu thập thường xuyên hơn, ở
những vùng có mật độ dân số cao hơn và những thay đổi về mặt kinh tế thì các dữ
11
liệu có thể cần phải được thu thập thường xuyên hơn để đánh giá chiều hướng
trong khi ở những cộng đồng ổn đònh hơn các dữ liệu không cần phải được thu
thập thường xuyên như vậy.
I.2.7. Đòa điểm giám sát:
Việc thu thập dữ liệu nói chung có thể diễn ra ở 2 đòa điểm:
- Với dữ liệu thứ cấp: Chính quyền, trường đại học, viện nghiên cứu, các
tổ chức phi chính phủ và các cơ quan khác, thường là ở bên ngoài cộng đồng.
- Với những người phỏng vấn chủ yếu, phỏng vấn hộ gia đình và quan
sát, ở trong khu vực cộng đồng nghiên cứu hoặc cộng đồng được sắp đặt để phỏng
vấn hay quan sát.
I.2.8. Thảo luận về kết quả GSKTXH:
Trước khi nhận công việc giám sát kinh tế xã hội, điều quan trọng là phải
nhận biết ý kiến công luận cho việc chú ý hướng tới và phát triển dự án cho cộng
đồng và kết quả sau mỗi lần hoàn thành việc giám sát. Ý kiến thảo luận có thể
phụ thuộc vào việc những thông tin kinh tế được sử dụng như thế nào:
- Nhận biết mối đe dọa, vấn đề, giải pháp và cơ hội.
- Xác đònh tầm quan trọng, giá trò và ý nghóa nuôi trồng của nguồn lợi và
cách sử chúng.
Ÿ Đánh giá những ưu và nhược điểm hiện có của phương pháp quản lý
vùng bờ
Ÿ Đánh giá người quản lý làm việc như thế nào ( hiệu quả của công tác
quản lý)
Ÿ Thiết lập sự tham gia của những người liên quan và những chương trình
giáo dục và nhận thức thích hợp

thế nào đối với những mục đích và những mục tiêu của việc quản lý nguồn lợi
vùng bờ.
Xem xét các vấn đề một cách toàn diện sẽ cho phép chọn ra những mục
tiêu ưu tiên hoặc chính yếu và cách thảo luận. Sự ưu tiên này là rất rộng dựa vào
mức độ những nhu cầu được nhận thức để đạt tới những cuộc thảo luận như vậy
và quản bá và ghi nhận những hành động mà các cuộc thảo luận như vậy có thể
thực hiện. Từ đó, những phương tiện chung hoặc khác biệt (ví dụ phương pháp
nhận thông tin được ưa chuộng nhất, những hành động có thể được họ thực hiện)
13
có thể được chọn lựa trong các cuộc thảo luận về mục đích và những phương tiện
đó có thể ghép thành từng nhóm với nhau hoặc chia ra tùy theo. Khi đưa ra một
kết luận ngắn gọn của mỗi lần hội thảo có mục đích hoặc một nhóm hội thảo và
những đặc trưng của chúng có thể dễ dàng tạo ra những cách phân tích liên tục.
I.2.9. Vấn đề cần lưu ý:
Bất kỳ một dự án phát triển hay nghiên cứu nào mà đã được tiến hành hiện
nay đều bao gồm một phương pháp phân tích kinh tế xã hội. Kết quả của những
phương pháp phân tích này có thể được dùng trong phạm vi các phương pháp
phân tích hiện tại, để tránh sự trùng lặp, và dữ liệu để so sánh nếu có bất kỳ hoạt động
nào đang diễn ra trong khu vực theo sự hướng dẫn của một phương pháp nghiên cứu.
I.3. Những số liệu cần thu thập:
Để lập ra nội dung cho việc thu thập số liệu đầu tiên đội cần phải phát
triển nhận thức về vùng nghiên cứu, những người tham gia và những hành động.
Những chỉ tiêu đó có thể được đánh giá đầy đủ trong các cuộc phỏng vấn; tuy
nhiên để xác đònh được nên nghiên cứu ở đâu và phải phỏng vấn bao nhiêu người
ít nhất 3 chỉ tiêu đó phải được đánh giá trước.
I.3.1 Các chỉ tiêu cần thu thập:
Các chỉ tiêu kinh tế xã hội sẽ được biểu hiện nhờ các phương pháp thu
thập số liệu: các nguồn thứ cấp, những thông tin chủ yếu hoặc các cuộc phỏng
vấn hộ gia đình. Nó được chia ra bằng cách tương quan với 2 loại hướng dẫn
phỏng vấn: một cách cho nguồn dữ liệu thứ cấp và những thông tin chủ yếu còn

thập. Chỉ tiêu quan trọng nhất được lựa chọn dựa trên:
- Khả năng hữu dụng cho việc quản lý.
- Dữ liệu dễ thu thập.
- Đúng sự thật và cung cấp các thông tin mới.
Bởi vì phỏng vấn hộ gia đình tốn thời gian hơn người cung cấp thông tin
chính và nguồn dữ liệu thứ cấp rất nhiều, nên chỉ có các chỉ tiêu phỏng vấn người
cung cấp thông tin chính/nguồn thứ cấp được xem xét cho việc thu thập dữ liệu sơ cấp.
I.3.2.3.Những điều kiện vò riêng
Có lẽ quan trọng nhất là, đội cần phải lựa chọn các chỉ tiêu dựa trên tầm
quan trọng được đặt trong khu vực nghiên cứu. Ví dụ, nếu như việc lãng phí là
việc quan trọng được đưa ra, thì đội có thể quan tâm đến cơ sở hạ tầng của cộng
đồng và thêm vào những câu hỏi riêng nhằm để tháo gỡ những sự lãng phí.
15
Đội cũng phải xem xét đến sự mong đợi thay đổi trong tương lai trong việc
quản lý và trong cộng đồng. Ví dụ, nếu du lòch đang phát triển thì đội có thể đặt
thêm những câu hỏi liên quan đến công nghiệp du lòch và những tác động của nó.
I.4. Phương pháp xử lý những dữ liệu thu thập được:
I.4.1. Phân tích
Phân tích cuối cùng là hoạt động đặc thù của đội. Phân tích số liệu cuối
cùng để có nhiều thông tin hơn trong các bài học thu thập được và các quy tắc cơ
bản cho việc phân tích. Việc phân tích dữ liệu có một vài bước bao gồm:
- Soạn tất cả các dữ liệu thu thập (chẳng hạn tập hợp tất cả các dữ liệu
thứ cấp, phỏng vấn những người cung cấp thông tin chính và phỏng vấn hộ gia
đình). Toàn đội phải tập trung tại cuộc họp để xem xét lại, phân tích và báo cáo
những tài liệu tìm được của mình.
- Chuẩn bò dữ liệu về số lượng và chất lượng bằng cách hoàn thành các
bảng phân tích bao gồm chuyển những liệu thứ cấp, phỏng vấn những người cung
cấp thông tin chủ yếu, phỏng vấn hộ gia đình sang các bảng phân tích.
- Trình giải các dữ liệu. Đội phải xem xét kết quả từ các bảng phân tích
để nhận biết và hệ thống những thông tin có liên quan đến việc nhận đònh những

và tầm quan trọng của rạn san hô thì những kết quả liên quan đến nhận thức của
mọi người với những giá trò phi thò trường và phi sử dụng có thể dùng để hiểu giá
trò và tầm quan trọng. Nếu như các kết quả chỉ ra rằng nhận thức về giá trò của
việc bảo vệ rạn san hô tốt và có chiều hướng tăng lên thì điều đó chứng tỏ cho
công chúng và các nhà hoạch đònh chính sách tầm quan trọng của việc đặt nguồn
lợi trong sự bảo vệ các rạn san hô.
Theo các nguyên tắc thế thì các kết quả của việc giám sát kinh tế xã hội
rất cần được báo cáo trở lại cộng đồng thậm chí ngay cả khi họ không phải là
những người thảo luận có mục đích. Việc đó được thực hiện như một sự ưu ái với
những thành viên của cộng đồng, những người đã tốn thời gian cho các cuộc
phỏng vấn. Điều đó cũng sẽ giúp để bảo đảm cho những mối quan hệ thân thiện
sau này để làm việc với các cộng đồng. Sự vất vả của người đi phỏng vấn có
quan hệ mật thiết trong nỗ lực giám sát kinh tế xã hội và sẽ lôi kéo được nhiều
người tham gia vào quá trình và có được cách tiếp cận tới những kết quả mọi
người mong muốn tham gia vào các hoạt động giám sát thường xuyên.
17
Có rất nhiều cách truyền bá kết quả với những cuộc thảo luận. Những kết
quả của giám sát kinh tế xã hội có thể được truyền bá tới các cuộc thảo luận khác
nhau qua việc sử dụng những cơ chế thông tin một đường và hai đường. Những cơ
chế truyền thông một đường gồm:
- Các tư liệu bằng văn bản (báo cáo, các bài báo)
- Các tư liệu nhìn (áp phích, tranh ảnh)
- Trình bày miệng
- Báo chí (báo, tập san, radio, tivi)
- Internet
Cơ chế truyền thông tin 2 đường gồm:
- Thảo luận nhóm
- Thảo luận tay đôi
- Các bản in
- Truyền tin có điều kiện (điện thoại, Video phone, ghi hình trang web)


19 CHÖÔNG II:
THỰC TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI
CUÛA CÁC HỘ GIA ĐÌNH KHAI
THÁC HẢI SẢN Ở PHƯỜNG
VĨNH NGUYÊN, VĨNH TRƯỜNG,

nắng ấm, thường chỉ có hai mùa rõ rệt. Lượng mưa cũng tương đối ít, trung bình
năm từ 1200 đến 1800 mm.
Với các điều kiện thiên nhiên ưu đãi nói trên, Khánh Hoà là vùng đất có
nhiều thuận lợi để phát triển nền kinh tế hàng hoá, dịch vụ du lịch, cũng như xây
dựng và củng cố an ninh quốc phòng.
Theo các nguồn tài liệu trong các bộ sử của nước ta, vào mùa xuân năm Quý
Tỵ 1653, trong tiến trình mở rộng cương giới tổ quốc Đại Việt (nay là Việt Nam),
theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Tần, cai cơ Hùng Lộc Hầu (chưa rõ họ tên) đã lấy
vùng đất từ bờ sông Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận ngày nay) đặt dinh Thái Khang.
21
Về mặt hành chính, dinh Thái Khang được chia thành hai phủ là phủ Thái Khang và
phủ Diên Ninh. Phủ Thái Khang trông coi, quản lý hai huyện là Quảng Phước và
Tân Định (tức là toàn bộ phần đất hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hoà ngày nay),phủ
Duyên Ninh trông coi, quản lý ba huyện Vĩnh Xương, Phước Điền, Hoa Châu (tức
là toàn bộ phần đất của thành phố Nha Trang,huyện Diên Khánh, Khánh Vĩnh,
Khánh Sơn, thị xã Cam Ranh tỉnh Khánh Hoà và một phần đất từ sông Phan Rang
ra đếm địa phận Khánh Hoà-Ninh Thuận của tỉnh Ninh Thuận ngày nay). Dinh
đóng ở huyện Tân Định phủ Thái Khang (huyện Ninh Hoà ngày nay).
Như vậy, với việc đặt dinh Thái Khang và chia dinh thành hai phủ Thái
Khang, Diên Ninh trông coi 5 huyện như trên, chúa Nguyễn đã đưa vùng đất Khánh
Hoà ngày nay hội nhập vào lãnh thổ Đại Việt (nước Việt Nam ngày nay). Sự kiện
lịch sử này được coi là mốc thời gian mở đầu cho sự hình thành địa phận hành
chính tỉnh Khánh Hoà ngày nay.
Sau giải phóng 2/4/1975, Khánh Hoà đứng trước nhiều vấn đề phức tạp do
hậu quả của chiến tranh để lại. Đó là một nền kinh tế phụ thuộc và phục vụ cho
chiến tranh. Sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nhưng manh mún và lạc hậu. Hàng
vạn người không có việc làm, đồng bào dân tộc miền núi bị đói kém, bệnh tật. Bọn
phản động do Mỹ cài lại lén lút phá hoại…Mặc dù vậy, Đảng bộ và nhân dân
Khánh Hoà đã nhanh chóng tiếp quản, làm chủ tình hình từ thành thị đến nông thôn,
từ đất liền đến hải đảo, từ các cơ sở quân sự đến các cơ sở kinh tế, hành chính của

hướng, chủ động xây dựng cơ chế, huy động được nhiều nguồn vốn để tập trung
xây dựng thành cơng và thực hiện thành cơng một số chương trình kinh tế xã hội
trọng điểm nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực sản xuất, tạo tiền đề
quan trọng cho bước phát triển trong những năm tiếp theo.
II.2. Tình hình kinh tế xã hội của các hộ gia đình khai thác hải sản ở phường
Vónh Nguyên:
Phường Vónh Nguyên trước đây có tên là vònh Vónh Xương, sau giải phóng
(1975) thì đổi tên thành phường Vónh Nguyên. Phường Vónh Nguyên là phường
biển nằm về phía Đông Nam của thành phố Nha Trang, diện tích 40,2 Km
2
với
4300 hộ gia đình, khoảng 23.000 dân, cấu thành nên 22 tổ dân phố, có 6 cụm dân
cư ở đất liền và 6 cụm dân cư ở các đảo (Trí Nguyên, Bích Đầm,Đầm Bấy, Hòn
Nọc,Vũng Ngán, Vũng Bè, Bãi Trủ – Vũng Me). Đòa bàn phường là 1 trong
những đòa điểm phát triển du lòch của thành phố Nha Trang, bình quân 1 ngày có
gần 1000 khách du lòch trong và ngoài nước đi tham quan ở các đảo, có ngày cao
điểm lên tới 5000 khách. Đại đa số người dân làm bằng nghề biển chiếm khoảng
60% dân số; 10-15% là cán bộ công nhân viên chức; 10% làm dòch vụ du lòch;
còn lại làm các nghề buôn bán nhỏ và chăn nuôi khác. Năm 2004 phường có 495
chủ phương tiện với công suất gần 8050 mã lực ( CV).
23
Với quỹ thời gian có hạn và trong khả năng của mình, trong đợt thực tập
này em tìm hiểu về tình hình kinh tế xã hội của các hộ ngư dân ở phường những
vấn đề sau :
1. Số thành viên trong hộ gia đình
2. Trình độ văn hoá của các thành viên
3. Thời gian tham gia khai thác của các thành viên
4. Tình hình tài chính của các hộ gia đình
5. Công suất máy của tàu các nghề
6. Tình hình đánh bắt của các hộ gia đình

0Hình 1: Biểu đồ số thành viên trong hộ gia đình

Bảng 2: Tổng hợp số thành viên trong hộ gia đình

Số thành viên trong hộ gia
đình (người)
Số hộ gia đình Tỷ trọng (%)
Dưới 5 thành viên 10 17.9
Từ 5 đến 9 thành viên 44 78.6
Từ 10 thành viên trở lên 2 3.6
Tổng cộng 56 100
25
So thanh vien
So thanh vien
Tu 10 thanh vien troTu 5 den 9 thanh vieDuoi 5 thanh vien
Percent
100
80
60
40
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status